Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.5 Mương oxy hóa.

Hình 1.5 Mương oxy hóa.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đồ án tốt nghiệp

Tính tốn thiết kế hệ thống xử lý nước thải của trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Tiền Giang,

công suất 20m3/ngày.đêm



Hiệu quả xử lý BOD trong nƣớc thải của bãi lọc ngập nƣớc có thể tới 90%, hiệu

quả xử lý theo Nitơ có thể tới 60%. Với thời gian lƣu thủy lực lớn (từ 7 ngày đến hàng

tháng).

+ Sử dụng hệ thống thiết bị hợp khối đúc sẵn

Do đặc điểm lƣu lƣợng dòng thải khơng q lớn nên một số cơ sở y tế sử dụng

các hệ thống hợp khối chế tạo sẵn để dễ dàng thao tác, lắp đặt và vận hành hệ thống

xử lý nƣớc thải. Tuy nhiên, tùy vào từng đơn vị sản xuất mà thiết bị hợp khối thƣờng

chứa từ 1-3 công đoạn xử lý. Hệ thống hợp khối sẽ đƣợc giới thiệu cụ thể ở các

chƣơng tiếp theo để dễ dàng thao tác lắp đặt và vận hành hệ thống xử lý nƣớc thải

bệnh viện.

 Sau xử lý

Sau xử lý là bƣớc cuối cùng trong quá trình xử lý nƣớc thải trƣớc khi nƣớc thải

đƣợc thải ra môi trƣờng tiếp nhận. Trong cơng đoạn sau xử lý có thể phải sử dụng đến

nhiều biện pháp kết hợp. Trƣớc khi khử trùng nƣớc thải, cần thiết phải loại bỏ triệt để

các chất hữu cơ lơ lửng còn tồn tại. Khử trùng nƣớc thải từ cơ sở y tế phải đƣợc thực

hiện, đặc biệt là khi nƣớc thải xả vào nguồn nƣớc sơng, hồ.

Ngồi ra trong quá trình xử lý nƣớc thải bằng phƣơng pháp sinh học thƣờng phát

sinh một lƣợng bùn sinh khối, lƣợng bùn này nhiều hay ít phụ thuộc vào thành phần

đầu vào và lƣu lƣợng nƣớc thải, bùn sinh khối phát sinh cũng cần có biện pháp xử lý.

Lƣợng bùn thải chứa các tác nhân ô nhiễm cũng cần đƣợc xác định và có biện pháp

quản lý thích hợp.

+ Các kỹ thuật khử trùng nƣớc thải y tế

Nƣớc thải từ bệnh viện hoặc từ các cơ sở hoạt động y tế sau khi đã xử lý các chất

ô nhiễm hữu cơ thƣờng đƣợc khử trùng trƣớc khi xả vào nguồn nƣớc. Ngoài ra nếu xử

lý cấp 2 bằng bãi lọc hay hồ sinh học ổn định với thời gian dài (khoảng 1 tháng) thì có

thể khơng cần phải khử trùng. Để khử trùng có thể dùng các phƣơng pháp sau:

 Khử trùng bằng tia cực tím (Ultraviolet radiation – UV)

Khử trùng bằng tia cực tím chỉ áp dụng đối với nƣớc thải sau khi làm sạch sinh

học hoàn toàn và hiệu quả hấp thụ tia cực tím của nƣớc thải đạt tối thiểu là 70%. Công

suất của thiết bị đƣợc lựa chọn dựa trên lƣu lƣợng tính tốn giờ phát sinh nƣớc thải lớn

nhất và với lƣu lƣợng tính tốn giờ phát sinh nƣớc thải lớn nhất tại thời điểm có mƣa

trong trƣờng hợp hệ thống sử dụng thốt nƣớc chung. Lƣợng bức xạ đƣợc tính tốn

SVTH: Trịnh Thu Yến

GVHD: Th.S Lê Thị Ngọc Diễm



16



Đồ án tốt nghiệp

Tính tốn thiết kế hệ thống xử lý nước thải của trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Tiền Giang,

cơng suất 20m3/ngày.đêm



nhằm đảm bảo nồng độ coliforms trong nƣớc sau khử trùng phải thấp hơn 3000

MPN/100 mL.

 Khử trùng bằng clo hoặc các hợp chất của clo

Clo và một số hợp chất clo là hóa chất khử trùng truyền thống đƣợc sử dụng

trong khử trùng nƣớc thải y tế. Hiệu quả của quá trình khử trùng bằng clo và các hợp

chất clo bị tác động nhiều bởi chất lƣợng nƣớc sau các quá trình xử lý. Sử dụng chất

khử trùng với liều lƣợng thấp, thời gian tiếp xúc ngắn trong khi hàm lƣợng chất hữu cơ

trong nƣớc thải còn cao sẽ dẫn đến hiệu quả khử trùng đạt thấp.

Khử trùng chỉ đạt hiệu quả cao khi nƣớc thải chứa <10 mg/l chất hữu cơ dạng lơ

lửng. Ở hàm lƣợng hữu cơ cao hơn có thể sẽ kết hợp với clo hình thành các chất có

tính độc hại hơn đối với mơi trƣờng.

Thơng thƣờng, nƣớc thải sau xử lý sinh học đƣợc khử trùng bằng clo lỏng, nƣớc

javel (NaOCl), hay Canxi hypoclorit (Ca(OCl)2). Clo lỏng đƣợc cung cấp từ các nhà

máy hóa chất, vận chuyển tới khu xử lý nƣớc thải bằng bình thép chịu áp suất cao.

Nƣớc javel có thể đƣợc sản xuất tại chỗ bằng các thiết bị điện phân muối ăn. Liều

lƣợng clo hoạt tính quy định nhƣ sau:

-



Nƣớc thải sau xử lý cơ học là 10g/m3.



-



Nƣớc thải sau khi đã xử lý sinh học hoàn toàn là 3 g/m3.



-



Nƣớc thải sau khi đã xử lý sinh học khơng hồn tồn là 5g/m3.



Việc hòa trộn clo với nƣớc thải đƣợc tính tốn trên cơ sở lƣu lƣợng nƣớc thải lớn

nhất trong ngày. Thời gian tiếp xúc tối thiểu của clo với nƣớc thải trong bể tiếp xúc là

30 phút. Việc hòa trộn clo với nƣớc thải đƣợc tiến hành bằng các thiết bị hòa trộn,

máng trộn và bể tiếp xúc. Vị trí châm clo đƣợc bố trí tại gần cửa vào bể tiếp xúc. Bể

tiếp xúc đƣợc thiết kế để Clo và nƣớc thải đƣợc xáo trộn hồn tồn và khơng lắng cặn.

Bồn lƣu trữ clo đƣợc chế tạo bởi các vật liệu khơng bị ăn mòn bởi clo nhƣ nhựa

PE, composit,… Bồn lƣu trữ clo đƣợc trang bị các thiết bị: cửa thăm, van khóa cấp

nƣớc kỹ thuật, cấp hóa chất, xả tràn, xả cặn, xả khí, báo mức nƣớc, khuấy trộn cơ học

bằng các vật liệu chống ăn mòn bởi clo. Bồn lƣu trữ clo đặt tại các nơi không có ánh

sáng mặt trời, thống khí và cố định trên bệ. Một trạm tối thiểu có 2 bồn lƣu trữ clo.

Phòng hóa chất có kết cấu chống động đất, chống cháy. Khu vực bồn chứa hóa

chất đƣợc xây bờ ngăn nƣớc nhằm hạn chế khu vực bị ảnh hƣởng bởi hóa chất trong



SVTH: Trịnh Thu Yến

GVHD: Th.S Lê Thị Ngọc Diễm



17



Đồ án tốt nghiệp

Tính tốn thiết kế hệ thống xử lý nước thải của trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Tiền Giang,

công suất 20m3/ngày.đêm



trƣờng hợp sự cố vỡ bồn. Các phòng kho và phòng kỹ thuật đƣợc bố trí hệ thống thơng

gió và thay đổi khơng khí trong phòng.

Clo và hợp chất clo là chất khử trùng có thể ảnh hƣởng đến sức khỏe và có nguy

cơ rủi ro gây mất an toàn trong sử dụng nên khi sử dụng cần cân nhắc về ƣu điểm và

nhƣợc điểm của sản phẩm này.

 Ƣu điểm

- Khử trùng bằng clo là kỹ thuật dễ thực hiện trong hệ thống xử lý.

- Hiện nay, khử trùng bằng clo có mức chi phí thấp hơn so với sử dụng tia cực

tím và ozone.

- Dƣ lƣợng clo còn lại trong nƣớc thải có thể duy trì hiệu lực khử trùng.

- Sử dụng clo khử trùng là đáng tin cậy và hiệu quả đối với phổ rộng của các

sinh vật gây bệnh khác nhau.

- Clo có hiệu quả trong việc oxy hóa một số hợp chất hữu cơ và vô cơ trong

nƣớc thải.

- Khử trùng bằng clo dễ kiểm soát liều lƣợng và thay đổi một cách linh hoạt.

Clo có thể loại bỏ hoặc làm giảm bớt mùi trong quá trình khử trùng.

 Nhƣợc điểm

- Clo dƣ thậm chí ở nồng độ thấp là độc hại với đời sống thủy sinh.

- Các loại hình clo dùng khử trùng đều có tính ăn mòn cao và độc hại. Việc lƣu

trữ, vận chuyển, xử lý thƣờng có nguy cơ gây ra rủi ro cao.

- Clo oxy hóa một số loại chất hữu cơ trong nƣớc thải, tạo ra các hợp chất độc

hại hơn (ví dụ nhƣ: trihalomethanes [THMs]).

- Clo làm cho giá trị tổng chất rắn hòa tan tăng lên trong nƣớc thải sau xử lý.

- Hàm lƣợng clorua (Cl - )tăng cao trong nƣớc thải sau xử lý.

- Một số loài ký sinh đã cho thấy sức đề kháng với liều thấp clo, trong đó có

kén hợp tử của Cryptosporidium parvum và trứng của giun ký sinh.

- Tác động dài hạn của các hợp chất cơ clo vào mơi trƣờng xuất phát từ q

trình khử trùng nƣớc thải cũng chƣa đƣợc làm rõ.

 Khử trùng bằng ôzôn

SVTH: Trịnh Thu Yến

GVHD: Th.S Lê Thị Ngọc Diễm



18



Đồ án tốt nghiệp

Tính tốn thiết kế hệ thống xử lý nước thải của trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Tiền Giang,

cơng suất 20m3/ngày.đêm



Ơzơn là chất khử trùng có tính oxy hóa mạnh hơn clo. Tuy nhiên, ơzơn là chất

có mùi khó chịu và độc hại với cơ thể ngƣời ở nồng độ cao. Ơzơn có tính khử trùng

tốt và ổn định hơn clo. Ngồi ra nó còn có khả năng phá hủy các chất kháng sinh còn

dƣ trong nƣớc thải sau xử lý.

Hệ thống khử trùng bằng Ơzơn bao gồm thiết bị điều chế ơzơn và thiết bị phản

ứng (hòa trộn và tiếp xúc ô zôn với nƣớc thải). Hệ thống điều chế ơzơn bao gồm: thiết

bị cấp khí, máy cấp điện, thiết bị điều chế ôzôn và các thiết bị làm nguội. Hệ thống

phản ứng bao gồm: thiết bị phân phối và tiếp xúc, thiết bị xử lý ôzôn dƣ trong khí thải.

Nguồn khí cấp để điều chế ơzơn có thể là khơng khí hoặc ơxy sạch.

Thiết bị điều chế ơzơn thƣờng đƣợc lựa chọn sao cho lƣợng ôzôn cần thiết để

khử trùng nƣớc thải bằng 60 - 70% công suất cực đại của thiết bị. Thiết bị tiếp xúc

thƣờng đƣợc thiết kế theo dạng bể xây bằng bê tông cốt thép hoặc bằng thép có cấu

trúc kín đảm bảo khí thải có chứa ơzơn khơng rò rỉ ra bên ngồi, có chiều sâu mực

nƣớc 4 - 6m, thời gian tiếp xúc giữa nƣớc và ô zôn là 10 - 20 phút. Dung tích bể tiếp

xúc đƣợc tính tốn dựa trên thời gian tiếp xúc và lƣu lƣợng nƣớc thải vào giờ thải

nƣớc lớn nhất hoặc lƣu lƣợng giờ lớn nhất vào thời điểm có mƣa đối với trƣờng hợp

hệ thống thốt nƣớc chung.





Kỹ thuật xử lý bùn cặn



Hiện nay, bùn cặn từ các hệ thống xử lý nƣớc thải bệnh viện chủ yếu đƣợc ổn

định, thông hút và đƣa ra xử lý bên ngoài bệnh viện. Xử lý bùn cặn có thể dùng

phƣơng pháp làm khơ bằng thủ cơng hoặc sử dụng thiết bị chuyên dụng.

+ Các phƣơng pháp làm khơ bùn cặn

Làm khơ là q trình làm tăng nồng độ cặn bằng cách loại bỏ một phần nƣớc ra

khỏi hỗn hợp, làm giảm khối lƣợng bùn cặn phải vận chuyển và giảm thể tích các

cơng trình xử lý tiếp theo. Nồng độ bùn cặn đã nén có thể đạt 2-5% tuỳ theo dạng

cơng trình nén và tính chất của loại bùn. Q trình này làm khơ cặn từ q trình cơ

đặc và ổn định cặn đến độ ẩm 50-85% với mục đích:

- Giảm khối lƣợng bùn cặn đƣa đến nơi tiếp nhận.

- Thích hợp để chơn lấp hoặc cho mục đích cải tạo đất.

- Làm giảm lƣợng nƣớc có thể ngấm vào trong môi trƣờng xung quanh bãi thải.

- Giảm khả năng phát tán mùi và độc tính.



SVTH: Trịnh Thu Yến

GVHD: Th.S Lê Thị Ngọc Diễm



19



Đồ án tốt nghiệp

Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải của trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Tiền Giang,

cơng suất 20m3/ngày.đêm



• Sân phơi bùn

Sân phơi bùn là một khu đất xốp có mặt bằng hình chữ nhật dễ thấm nƣớc, xung

quanh xây bờ chắn. Cặn từ bể lắng đợt 1, bùn hoạt tính dƣ từ bể lắng đợt 2 hay cặn đã

lên men từ bể lắng 2 vỏ, bể tự hoại,... đƣa tới sân phơi từng đợt rải thành lớp không

dày lắm.

Bằng cách phơi tự nhiên cặn khơ có thể đạt độ ẩm 75-80%. Tuy nhiên sân phơi

bùn chiếm diện tích lớn, khó kiểm sốt đƣợc mùi. Các vi sinh vật gây bệnh trong bùn

cặn có thể khuếch tán ra mơi trƣờng xung quanh. Nếu sân khơng có mái che thì hiệu

quả hoạt động thấp về mùa mƣa.

Khi nƣớc ngầm sâu hơn 1,5m và đất có khả năng thấm tốt thì có thể xây trên nền

đất tự nhiên, nếu khơng phải làm nền nhân tạo và có hệ thống thu nƣớc.





Làm khô bùn bằng bãi lọc trồng cây



Bãi lọc trồng cây có thể đƣợc áp dụng để làm khơ bùn thải. Bãi lọc trồng lau sậy

có khả năng hấp thu nƣớc qua dễ cây và thoát hơi nƣớc qua lá. Đây là một phƣơng

pháp làm khô đơn giản, hiệu quả, thời gian loại bỏ bùn khống có thể lên đến 10 năm.





Làm khơ bùn bằng các thiết bị cơ khí



Để giảm bớt diện tích đất xây dựng cũng nhƣ khắc phục hạn chế của sân phơi

bùn, có thể ứng dụng phƣơng pháp làm khô cơ học bằng quay li tâm hay ép lọc băng

tải. Nguyên lý hoạt động của thiết bị ly tâm là tách nƣớc bằng lực ly tâm. Thiết bị ly

tâm có vốn đầu tƣ­khơng cao, chi phí quản lý thấp. Hệ thống kín khơng có mùi, chiếm

ít diện tích xây dựng. Tuy nhiên nhƣợc điểm chính là chất lƣợng bùn khơ ảnh hƣởng

rất nhiều bởi đặc tính cặn ban đầu, biên độ dao động của độ ẩm cặn lớn (60-85%).

Trong giai đoạn này nƣớc đƣợc tách khỏi bùn nhờ trọng lực qua khe hở ở băng

tải xuống ngăn thu nƣớc ở dƣới. Tiếp đó bùn cặn chạy trên băng tải qua các trục ép với

lực ép tăng dần, ở giai đoạn này nƣớc đƣợc tách chủ yếu nhờ lực ép của các trục và

chảy xuống ngăn thu. Kết quả là bùn cặn ép ở cuối băng tải đã giảm độ ẩm xuống 6585%.

Tuy nhiên trong khuôn khổ nghiên cứu, các kỹ thuật làm khô bùn cặn trong xử lý

nƣớc thải y tế quy mô nhỏ cấp quận/ huyện, các thiết bị cơ khí ít đƣợc sử dụng.

1.1.3



Một số phương pháp xử lý nước thải y tế đang được áp dụng



a. Xử lý nước thải bệnh viện theo công nghệ lọc sinh học nhỏ giọt (Biophil)

Nguyên lý xử lý nƣớc thải của hệ thống.

SVTH: Trịnh Thu Yến

GVHD: Th.S Lê Thị Ngọc Diễm



20



Đồ án tốt nghiệp

Tính tốn thiết kế hệ thống xử lý nước thải của trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Tiền Giang,

công suất 20m3/ngày.đêm



Bể thu gom



Đầu ra



Bể điều hòa

và lắng 1



Song chắn rác



Bể khử trùng



Bể lắng 2



Bể sinh học

nhỏ giọt



Bể nén bùn



Hình 1.6 Sơ đồ xử lý nƣớc thải y tế theo công nghệ lọc sinh học nhỏ giọt.

Nƣớc thải y tế đƣợc thu gom từ hệ thống cống thốt, qua song chắn rác thơ

nhằm cản những vật lớn nhƣ: quần áo, bơm tiêm, chai lọ, gạc... có khả năng làm tắc

nghẽn đƣờng ống và hỏng bơm. Nƣớc từ ngăn thu đƣợc bơm tới bể điều hòa và xử lý

sơ bộ, nhằm điều hòa chất bẩn và lƣu lƣợng nƣớc thải đồng thời tại đây thực hiện xử

lý sơ bộ, các vi sinh vật có sẵn trong nƣớc thải ơxy hóa một phần hợp chất hữu cơ

thành chất ổn định bông cặn dễ lắng, đồng thời khử một phần COD, BOD.

Tiếp đó nƣớc thải đƣợc chảy tràn hoặc bơm tới bể lọc sinh học nhỏ giọt tùy

thuộc cách bố trí hệ thống ngầm hay nổi. Tại đây dựa vào khả năng của vi sinh vật sử

dụng những chất hữu cơ có trong nƣớc thải làm nguồn dinh dƣỡng để sống và biến đổi

chất, giải phóng các chất vơ cơ vô hại. Trong bể lọc sinh học nƣớc thải đƣợc tƣới đều

xuống lớp vật liệu lọc là các loại đá cục, cuội có kích thƣớc nhỏ hơn 30 mm, với chiều

cao vật liệu lọc từ 1,5 - 2m. Các hạt vật liệu lọc sẽ đƣợc bao bọc một lớp màng vi sinh

vật.

Nƣớc ra khỏi bể lọc sinh học đƣợc bơm lên bể lắng thứ cấp, phần bùn lắng

xuống đáy đƣợc đƣa đến bể nén bùn, phần nƣớc trong dẫn đến bể khử trùng để tiêu

diệt vi sinh vật gây bệnh. Nƣớc sau khi xử lý thải ra hệ thống cống thành phố hoặc ao

hồ.

b. Xử lý nước thải y tế bằng bùn hoạt tính trong bể hiếu khí ( Aerotank)

Nguyên lý xử lý nƣớc thải của hệ thống

SVTH: Trịnh Thu Yến

GVHD: Th.S Lê Thị Ngọc Diễm



21



Đồ án tốt nghiệp

Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải của trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Tiền Giang,

cơng suất 20m3/ngày.đêm



Thu gom

nƣớc thải



Song chắn

rác



Nguồn tiếp

nhận



Bể khử

trùng



Bể điều

hòa



Bể lắng 2



Bể lắng 1



Bể hiếu

khí



Bể nén bùn



Hình 1.7 Sơ đồ cơng nghệ xử lý nƣớc thải y tế bằng bùn hoạt tính trong bể hiếu

khí (Aerotank).

Nƣớc thải từ các bể phốt, khu vệ sinh ở các khoa, phòng, buồng bệnh đƣợc thu

gom qua hệ thống cống thu đến bể điều hồ có lắp thiết bị song chắn rác nhằm loại bỏ

các vật có kích thƣớc lớn nhƣ bơm tiêm, mảnh thuỷ tinh vỡ, bông gạc, đồ vải,... để

đảm bảo cho máy móc, thiết bị và các cơng trình phía sau hoạt động có hiệu quả.

Bể điều hoà làm nhiệm vụ điều hoà lƣu lƣợng và nồng độ chất bẩn trong nƣớc

thải. Tại đây, nƣớc thải đƣợc khuấy trộn và làm thoáng sơ bộ nhờ hệ thống sục khí,

sau đó đƣợc bơm lên bể lắng đợt 1 (bể lắng sơ cấp). Các bông cặn bẩn, chất rắn có khả

năng lắng sẽ lắng xuống đáy và đƣợc đƣa đến bể thu bùn.

Nƣớc phần trên đi đến bể hiếu khí, tại bể này hàm lƣợng bùn hoạt tính đƣợc duy

trì lơ lửng để oxy hố các chất bẩn, hợp chất hữu cơ thành những chất ổn định tạo

bơng cặn dễ lắng. Mơi trƣờng hiếu khí trong bể đạt đƣợc nhờ sử dụng hệ thống sục khí

nhằm duy trì hỗn hợp lỏng trong thiết bị ln ở chế độ khuấy trộn hồn tồn với khơng

khí. Sau một thời gian lƣu nhất định, hỗn hợp sinh khối đƣợc đƣa sang bể lắng đợt 2

(lắng thứ cấp).

Tại bể lắng đợt 2, bùn đƣợc lắng xuống tách ra khỏi nƣớc đã xử lý và một phần

bùn lắng tuần hoàn trở lại bể hiếu khí để duy trì nồng độ bùn hoạt tính trong bể. Phần

nƣớc sạch sau khi đƣợc lắng tại bể lắng đợt 2 qua bể khử trùng với dung dịch Clo

đƣợc định lƣợng bơm vào, hoặc qua bể sục ôzôn. Nƣớc thải sau khi xử lý đƣợc xả ra

môi trƣờng.



SVTH: Trịnh Thu Yến

GVHD: Th.S Lê Thị Ngọc Diễm



22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.5 Mương oxy hóa.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×