Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NỘI DUNG ĐỀ TÀI:Thuyết Âm dương

NỘI DUNG ĐỀ TÀI:Thuyết Âm dương

Tải bản đầy đủ - 0trang

Vận động của hai mặt âm dương có tính chất giai đoạn, tới mức độ nào đó

sẽ chuyển hố sang nhau gọi là "dương cực sinh âm, âm cực sinh dương, hàn

cực sinh nhiệt, nhiệt cực sinh hàn" như trong quá trình phát triển của bệnh tật,

bệnh thuộc phần dương (như sốt cao) có khi ảnh hưởng đến phần âm (như mất

nước) hoặc bệnh ở phần âm (mất nước, mất điện giải), tới mức độ nào đó sẽ ảnh

hưởng đến phần dương (như choáng, trụy mạch gọi là thoát dương).

 Âm dương bình hành

Hai mặt âm dương tuy đối lập, vận động không ngừng, nhưng luôn luôn lập

lại được thế cân bằng, thế quân bình giữa hai mặt.

Sự mất thăng bằng giữa hai mặt âm dương biểu hiện cho sự phát sinh ra bệnh tật

trong cơ thể.

Tóm lại, 4 qui luật cơ bản của âm dương nói lên sự mâu thuẫn thống nhất,

vận động và nương tựa lẫn nhau của vật chất.

4.3. Trừu tượng hóa âm dương



Từ việc khái niệm âm dương được dùng để chỉ những cặp đối lập cụ thể ở

trên, người xưa tiến thêm một bước là dùng nó để chỉ những cặp đối lập trừu

tượng hơn ví dụ như "lạnh-nóng", rồi cặp "lạnh-nóng" lại là cơ sở để suy tiếp

như về phương hướng: "phương bắc" lạnh nên thuộc âm, "phương nam" nóng

nên thuộc dương; về thời tiết: "mùa đơng" lạnh nên thuộc âm, "mùa hè" nóng

nên thuộc dương; về thời gian: "ban đêm" lạnh nên thuộc âm, "ban ngày" nóng

nên thuộc dương. Nếu tiếp tục suy diễn nữa thì: đêm thì tối nên "tối" thuộc âm,

ngày thì sáng nên "sáng" thuộc dương; tối có màu đen nên "màu đen" thuộc âm,

ngày sáng thì nắng "đỏ" nên "màu đỏ" thuộc dương.

Từ cặp "mẹ-cha" (nữ-nam, cái-đực) có thể suy ra rằng:Giống cái có khả

năng mang thai (tuy một mà hai), nên về loại số, thì số "chẵn" thuộc âm; giống

đực khơng có khả năng ấy, một là một, nên số "lẻ" thuộc dương. Điều này giải

thích tại sao quẻ dương là một vạch dài (|), còn quẻ âm là hai vạch ngắn (:).

Về hình khối thì khối vng ổn định, tĩnh, tỷ lệ giữa cạnh và chu vi là 1:4,

số 4 là số chẵn, chính vì thế mà khối vng thuộc âm; hình cầu khơng ổn định,

12



động, tỷ lệ giữa đường kính và chu vi là 1:3, số 3 là số lẻ, chính vì vậy mà khối

cầu thuộc dương.



Hình 3: Thờ sinh thực khí nam và nữ của đồng bào dân tộc Chăm. Cột hình tròn (dương) biểu hiện cho nam,



hình bệ vng (âm) biểu hiện cho nữ



Tuy vậy, các cặp đối lập chưa phải là nội dung chính của triết lý âm dương.

Triết lý âm dương khơng phải là triết lý về các cặp đối lập. Tất cả các dân tộc

trên thế giới đều có các phạm trù đối lập nhau, ngôn ngữ của tất cả các dân tộc

đều có từ trái nghĩa. Điều quan trọng của triết lý âm dương chính ở bản chất và

quan hệ của hai khái niệm âm dương. Đó chính là điều khác biệt triết lý âm

dương với các triết lý khác.

4.4. So sánh với các quy luật của logic học



Trong lơ-gíc học cũng có hai quy luật tương đương với hai quy luật ở trên.

Đó là quy luật về bản chất của thành tố - luật đồng nhất, và quy luật về quan hệ

giữa các thành tố - luật lý do đầy đủ mà hệ quả của nó là luật nhân quả.

Luật đồng nhất (bản chất A = A) chỉ đúng khi sự vật và hiện tượng đứng

yên, mà điều này thì khơng biện chứng vì sự vật và hiện tượng ln vận động

(đổi mới), mà nếu vận động thì nó khơng thể đồng nhất với chính nó được nữa.

13



Trong khi đó, quy luật về bản chất của triết lý âm dương là trong âm có dương,

trong dương có âm, tức là trong A đã có B rồi.

Luật lý do đầy đủ xác lập nên luật nhân quả cũng chỉ xem xét sự vật và

hiện tượng trong sự cô lập, không liên hệ với môi trường xung quanh, trong khi

trên thực tế, sự vật và hiện tượng tồn tại trong không gian và quan hệ với các sự

vật và hiện tượng khác. Cái này là nhân của cái kia, nhưng nó lại là quả của cái

khác. Khơng có nhân tuyệt đối và quả tuyệt đối rất phù hợp với luật chuyển hóa

âm dương bất tận, vơ thủy (khơng có bắt đầu) và vơ chung (khơng có kết thúc).

Hai quy luật của lơgíc học là sản phẩm của lối tư duy phân tích, chú trọng

đến các yếu tố biệt lập của văn hóa du mục; trong khi quy luật của triết lý âm

dương là điển hình của tư duy tổng hợp, chú trọng đến các quan hệ của văn hóa

nơng nghiệp phổ biến.



5. Ý NGHĨA ĐỀ TÀI: “Thuyết âm dương ngũ hành và ứng dụng trong quản



lý nhân sự”.

5.1. Thuyết Âm Dương Ngũ Hành trong lựa chọn nhân sự.



Theo quan niệm phương Đông, mỗi con người là một tiểu vũ trụ, nên chịu

chi phối bởi các quy luật vũ trụ, trong đó hiển nhiên là bị chi phối bởi quy luật

sinh khắc của Âm Dương Ngũ hành.

Việc xét sinh khắc có thể chia nhỏ thành 2 quy tắc như sau:

 Quy tắc 1: Trong quan hệ tương sinh, hành được sinh (sinh nhập) hưởng lợi,

hành bị sinh (sinh xuất) sẽ bị hao. Trong quan hệ tương khắc, thì hành khắc

(khắc xuất) sẽ vất vả, còn hành bị khắc (khắc xuất) sẽ lao đao.

 Quy tắc 2: Quan hệ ngơi thứ bên ngồi phải phản ánh đúng quan hệ sinh

khắc. Đây cũng chính là nguyên lý "chính danh" mà ta thấy từ Nho giáo.

Theo quy tắc này, thì việc lựa chọn đối tác, vợ chồng, cấp trên, cấp dưới phải

đúng ngôi thứ.

Kết hợp 2 nguyên tắc trên trong vấn đề về quản trị nhân sự, có thể rút ra được

một số điểm cơ bản sau:

14



+ Chọn bản mệnh chủ đạo của công ty theo bản mệnh người có quyền hành

cao nhất như chủ tịch hội đồng quản trị hay tổng giám đốc.

+ Khi chọn các nhân viên cấp dưới mà có thể nắm giữ những vị trí quan

trọng trong cơng ty hay trong tổ chức không được xung khắc với bản

mệnh của người đứng đầu. Trong trường hợp có thể tương sinh với bản

mệnh của người đứng đầu là tốt nhất, nhưng cần phải theo chiều vượng

cho người đứng đầu.

+ Với những nhân viên có vị trí thấp, khơng q ảnh hưởng trong tổ chức có

thể giảm nhẹ yếu tố xung khắc với người đứng đầu.

+ Các nhân viên dưới quyền của các cấp quản lý cũng cần phải xem xét và

so sánh với bản mệnh của người quản lý trực tiếp.

+ Khi phân chia nhóm để làm việc cũng cần xem xét bản mệnh của các

thành viên trong nhóm để việc hợp tác được diễn ra suôn sẻ, đặc biệt với

những tác vụ cần sự phối hợp các thành viên trong một thời gian dài và

kết quả của tác vụ có ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của công ty

hay tổ chức đó.



5.2. Thuyết Âm Dương Ngũ Hành trong quản trị nhân sự



Trong ngũ hành có Kim – Mộc- Thủy- Hỏa- Thổ, và 5 yếu tố này nó có sự

tương sinh và tương khắc với nhau. Trong đó:

°

°

°

°

°



Kim: Chính là Cơng cụ quản lý, mơ hình quản lý áp dụng.

Thủy: Cách thức, phương pháp chúng ta sẽ quản lý.

Mộc: Con người (người lao động).

Hỏa: Cá tính hay tính cách của mỗi cá nhân trong tổ chức.

Thổ: Tổ chức, môi trường làm việc.



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NỘI DUNG ĐỀ TÀI:Thuyết Âm dương

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×