Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đây là một trong những quy luật cơ bản và quan trọng trong hệ thống

quy luật kết cấu lâm phần. Qua nhiều nghiên cứu của các tác giả cho thấy, cùng

với sự tăng lên của tuổi cây rừng thì chiều cao của cây cũng không ngừng tăng.

Đây là kết quả tự nhiên của sinh trưởng cây rừng. Ở các cấp tuổi khác nhau cây

rừng thuộc cấp sinh trưởng khác nhau và có mỗi cỡ kính xác định.

Thực tiễn điều tra rừng cho thấy, có thể dựa vào quan hệ H/D để xác

định chiều cao tương ứng cho từng cỡ kính, mà khơng cần thiết đo độ cao tồn

bộ số cây. Có nhiều tác giả dùng các phương trình tốn học khác nhau để biểu

thị quan hệ như: Naslund, M (1929); Asnann, E (1936); Hohenadl, W (1936),

Michailov, F (1934,1952); Prodan, M (1944); Krenn, K (1946); Meyer. H.A

(1952)…đã đề nghị các dạng phương trình:

h = a+b1*a + b2*d2



(1.4)



h = a+b1*a + b2*d2 +b3*d3



(1.5)



h = a+b*logd



(1.6)



h = a+b1d + b2*logd



(1.7)



h = k1*db



(1.8)



h – 1,3 = a*e



b

d



(1.9)



Khi nghiên cứu sự biến đổi theo tuổi của quan hệ giữa chiều cao và

đường kính ngang ngực, Tiourin A.V (1972) (theo Phạm Ngọc Giao, 1995) [5],

đã rút ra kết luận: “Đường cong chiều cao thay đổi và ln di chuyển lên phía

trên khi tuổi tăng lên”. Critis, Ro (1967) đã mô phỏng quan hệ giữa chiều cao

và đường theo tuổi theo dạng phương trình:

1

d



Logh = d+b1* +b2*



1

1

+ b3 *

A

d*A



(1.10)



Một số tác giả khác như: Tovstolesse, D.I (1930) sử dụng cấp đất.

Titourin, A.V (1931) sử dụng cấp đất và tuổi làm cơ sở nghiên cứu tương quan

giữa chiều cao và đường kính.

Như vậy, có nhiều dạng phương trình biểu thị đường cong chiều cao

trong đó phương trình parabol và phương trìngh logarit được sử dụng nhiều

nhất.

4



1.1.2. Nghiên cứu về Keo lai

Lần đầu tiên giống Keo lai được Messrs và Shim phát hiện vào năm

1972 trong số những cây Keo tai tượng trồng ven đường ở Sook Telupid thuộc

bang Sabah của Malaysia. Sau này Tham (1976) cũng coi đó là giống lai. Đến

tháng 7 năm 1978, sau khi xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản thực

vật ở Queensland (Australia) được gửi đến từ tháng 1 năm 1977, Pedgley đã

xác nhận đó là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm. Từ đó Keo

lai đã được các nhà lâm nghiệp để ý và cũng được phát hiện ở nhiều vùng khác

nhau.

Keo lai tự nhiên cũng được phát hiện ở Balamuk và Old Touda của

Papua New Guinea (Turnbull, 1986), Rueteds, 1987), Ulukukut (Darus, 1989)

của Malaysia.

Keo lai cũng được phát hiện ở Thái Lan (Kikir 1992) ở đây Keo lai được

gây trồng thành đám khoảng 30 cây tại trụ sở trung tâm nghiên cứu giống cây

rừng Asean - Cananda, ở Muak - Lek, Saraburi.

Năm 1992, ở Indonesia đã bắt đầu có thí nghiệm trồng Keo lai từ nuôi

cấy mô phân sinh, cùng Keo lá tràm và Keo tai tượng (Umbohetal, 1993).

Keo lai tự nhiên còn được tìm thấy trong vườn ươm Keo tai tượng lấy

giống từ Malaysia ở trạm nghiên cứu Jopou của viện nghiên cứu lâm nghiệp

Đài Loan (Kiang Taoetall, 1988) và khu trồng Keo tai tượng tại Quảng Châu –

Trung Quốc.

Theo quan sát ở giai đoạn vườn ươm hình thái cây con Keo lai đã được

tác giả Rufelds Edoran nghiên cứu năm 1988, thấy rằng Keo lai xuất hiện lá giả

sớm hơn Keo tai tượng, muộn hơn Keo lá tràm. Kết quả nghiên cứu của Bowen

(1981) cho biết cây lai cũng thể hiện tính trung gian giữa hai lồi bố mẹ về hoa

và hạt.



5



Khi đánh giá chất lượng của cây Keo lai Pinso&Nasi (1990), thấy rằng

cây lai có độ tròn thân, mức độ tỉa cành tốt hơn Acacia mangium, độ thẳng thân

tốt hơn Acacia auriculifomis (Ruferds, 1987). Cây Keo lai còn có ưu điểm là

đỉnh ngọn sinh trưởng mạnh, thân cây đơn trục và tỉa cành tự nhiên tốt

(Pinyopusarek, 1990). Keo lai cũng nhân giống được bằng giâm hom và nuôi

cấy mô. Qua đây cho thấy Keo lai rất phù hợp cho trồng rừng kinh doanh.

1.2. Ở Việt Nam

1.2.1. Nghiên cứu về cấu trúc và sinh trưởng

Việc phát hiện ra những quy luật cấu trúc là cơ sở cho kinh doanh rừng.

Hiện nay các kết quả nghiên cứu đã và đang được ứng dụng rộng rãi mang lại

hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh rừng ở nước ta.

Tác giả Đồng Sĩ Hiền (1974) [13] đã chọn hàm Peason với 7 họ

đường cong khác nhau để biểu diễn phân bố số cây theo cỡ kính rừng tự nhiên,

Nguyễn Hải Tuất (1991) chọn hàm khoảng cách, Nguyễn Văn Trương (1983)

[20] sử dụng phân bố Poison nghiên cứu mơ phỏng cấu trúc đường kính cây

rừng hỗn giao khác tuổi.

Phạm Ngọc Giao (1995) [5] khi nghiên cứu quy luật N/D cho Thông

đuôi ngựa vùng Đông Bắc đã chứng minh tính thích ứng của hàm Weibull và

xây dựng mơ hình cấu trúc đường kính cho lâm phần Thông đuôi ngựa.

Các tác giả Vũ Nhâm (1988) [19], Vũ Tiến Hinh (1990) [14] đều sử

dụng phân bố Weibull với 2 tham số để biểu thị phân bố N/D cho những lâm

phần thuần lồi, đều tuổi như: Thơng đi ngựa (Pinus masoniana),Thông

nhựa (Pinus merkusi), Mỡ (Manglietia glauca).

Phạm Ngọc Giao (1995) [5] đã khẳng định tương quan H/D của các lâm

phần Thơng đi ngựa tồn tại chặt dưới dạng phương trình logarit một chiều :

H = a+b*log d



6



(1.11)



Bảo Huy (1993) [16] đã thử nghiệm 4 phương trình tương quan H/D cho

từng loài ưu thế: Bằng Lăng, Cẩm Xe, Kháo, Chiêu Liêu ở rừng rụng lá và

rừng nửa rụng lá. Đó là các phương trình :

H = a+b*d1.3



(1.12)



H = a+b*logd1.3



(1.13)



Logh = a+b*d1.13



(1.14)



Logh = a+b*logd1.13



(1.15)



Từ đó, tác giả đã chọn được phương trình thích hợp nhất là:

Logh = a+b*logd1.3

Vũ Đình Phương (1987) (theo Hồ Minh Ngọc, 2007) [21] đã khẳng định

mối liên hệ mật thiết giữa đường kính tán và đường kính ngang ngực theo dạng

phương trình :

Dt = a + b*D1.3



(1.16)



Nhìn chung, việc nghiên cứu về cấu trúc rừng tập trung chủ yếu vào

nghiên cứu tương quan giữa chiều cao và đường kính thân cây, quy luật phân

bố N/D, tương quan N/DT. Kết quả của nghiên cứu này đã và đang được ứng

dụng trong sản xuất kinh doanh, một phần đáp ứng được yêu cầu điều tra, điều

chế và nuôi dưỡng rừng.

Nguyễn Trọng Bình (1996) [3], trên cơ sở lý thuyết của hàm ngẫu nhiên

đã nghiên cứu mối quan hệ kì vọng tốn và phương sai của biến ngẫu nhiên ba

lồi Thơng đuôi ngựa, Thông nhựa, Mỡ cho từng đại lượng sinh trưởng (D 1.3,

Hvn) ở các thời điểm khác nhau là cơ sở quan trọng để xem xét các vấn đề

phân cấp năng suất các lâm phần thuần loài. Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu

sinh trưởng mơ phỏng tốn học đã được ứng dụng trong nghiên cứu sinh

trưởng cũng như mối liên hệ giữa sinh trưởng với hoàn cảnh.

1.2.2. Nghiên cứu về Keo lai

Ở nước ta Keo lai được trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (Viện khoa

học lâm nghiệp Việt Nam) phát hiện tại Ba Vì ( Hà Tây), Đơng Nam Bộ và Tân

tạo (Tp.Hồ Chí Minh) và đã có những nghiên cứu đầu tiên của các tác giả

7



(GS.TS Lê Đình Khả, Nguyễn Đình Hải, Trần Cự, 1993-1995) [7]. Keo lai còn

được phát hiện ở một số nơi khác như: Trảng Bom, Thanh - Nghệ Tĩnh, Hòa

Bình, Phú Thọ…

Năm 1992, các cây lai đã xuất hiện trong rừng trồng Keo tai tượng được

lấy cây giống từ các khu khảo nghiệm Keo tai tượng trồng cạnh Keo lá tràm tại

Đông Nam Bộ và Ba Vì. Vì vậy có thể biết chắc chắn được mẹ của chúng là

keo Tai Tượng, bố là Keo lá tràm.

Ở nước ta, Keo lai tại Ba Vì được lấy từ khu khảo nghiệm giống Keo

trồng năm 1982 tại Lâm trường Ba Vì, có mẹ là Keo tai tượng xuất xứ từ

Daintree thuộc bang Queensland(Australia), bố là Keo lá tràm xuất xứ từ

Darwin thuộc bang Nothern Territoria(Australia). Giống lai vùng Đông Nam

Bộ được lấy từ khu khảo nghiệm giống Keo trồng năm 1984. Cây mẹ là Keo

tai tượng xuất xứ MossMan (thuộc Queensland của Australia), cây bố là Keo lá

tràm được đưa vào gây trồng trước không rõ nguồn gốc xuất xứ hoặc xuất xứ

Oenpelli (thuộc bang Nothern Territoria của Autralia).

Giống lai ở nước ta dù phát hiện hay được lấy giống từ Ba Vì hoặc miền

Nam về cơ bản đầu có cây mẹ thuộc cùng vùng sinh thái giống nhau, do đó có

khả năng sinh trưởng tốt trên các vùng sinh thái chính của nước ta. Tuy nhiên,

do đặc điểm sinh trưởng và phát triển riêng biệt của chúng nên các giống này

có những ưu tế lai khác nhau rõ rệt.

1.2.2.1. Đặc điểm sinh trưởng của Keo lai

Keo lai là giống tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm, hai loài bố

(Acacia auriciliformis) và mẹ (Acacia mangium) thuộc chi Acacia-họ Trinh Nữ

(Mimosaceae), bộ Đậu (Fabales). Từ khi phát hiện Keo lai những nghiên cứu

cơ bản đã được các nhà khoa học tiến hành trong và ngồi nước. Đặc biệt là

những nghiên cứu có hệ thống của trung tâm nghiên cứu giống cây rừng thuộc

Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam.



8



Tại Song Mây, so sánh với Keo lá tràm cùng tuổi đã thấy rằng Keo lai

sinh trưởng nhanh hơn Keo lá tràm 1.5 lần về đường kính, 1.3 lần về chiều cao

(Lê Đình Khả cùng cộng sự, 1999) [8]. Ở đây một số biến động về đường kính

và chiều cao của Keo lai nhỏ hơn Keo tai tượng và Keo lá tràm. Nghĩa là nó

cũng ở vị trí trung gian giữa hai loại này. Nói cách khác, nó có ưu điểm là

đường kính và chiều cao đồng đều hơn Keo tai tượng (Lê Đình Khả, Phạm Văn

Tuấn, 1997) [7].

Nhìn chung, ở một số nơi Keo lai thường có ưu thế lai hết sức rõ rệt, cây

lai vượt lên trên tán rừng Keo tai tượng, thân thẳng đẹp, tròn đều, tán lá phát

triển cân đối. Tuy nhiên, một số nơi khác ở nước ta Keo lai xum xuê hơn Keo

tai tượng song nhiều thân hoặc cành nhánh lớn, khơng ít trường hợp ngọn phát

triển kém, khơng thấy được ưu thế so với Keo tai tượng về sinh trưởng và hình

dạng thân cây như ở vùng Hòa Bình, một số tỉnh miền Trung nhiều cây Keo lai

đã không tỏ ra ưu việt hơn Keo tai tượng.

Do vậy, khi trồng rừng Keo lai cần xác định nguồn gốc Keo lai để lựa

chọn những dòng sinh trưởng tốt. Một số dòng sinh trưởng nhanh, vừa có chỉ

tiêu chất lượng tốt có thể nhân nhanh hàng loạt để phát triển vào sản xuất, đó là

các dòng: BV5, BV10, BV16, BV29, BV 32, BV71, BV73 và BV75.

1.2.2.2 Giá trị sử dụng của Keo lai

Keo lai cũng giống như các loài Keo bố mẹ đều là cây xanh quanh năm,

sinh trưởng nhanh, tán lá khá dày, rễ có nhiều nốt sần có khả năng cố định đạm,

cây có thể sống trên các vùng đất nghèo kiệt và khô hạn với biên độ sinh thái

rộng, có thể trồng trên đất chua và đất kiềm. Do vậy, có thể coi Keo lai là lồi

cây trồng để cải tạo đất, phủ xanh đất trống đồi núi trọc và chống xói mòn.

Keo lai có tiềm năng bột giấy cao hơn các loài keo bố mẹ. Trung tâm

nghiên cứu giống cây rừng đã phối hợp với Viện công nghiệp giấy và xenlulo

đánh giá bột giấy của Keo lai vào năm 1993 (cho giống hỗn hợp) và năm 1999



9



(cho các dòng Keo lai được lựa chọn). Kết quả đánh giá cả 2 lần đều cho thấy

cùng một tuổi và cùng một điều kiện lập đại Keo lai có hiệu suất bột giấy lớn

hơn các loài Keo bố mẹ từ 0.4-3.5%.

Nghiên cứu về tiềm năng bột giấy cây Keo lai của Lê Đình Khả, Lê

Quang Phúc (1995 - 1999) [9] cho thấy Keo lai có tỉ lệ gỗ trung gian giữa Keo

tai tượng và Keo lá tràm, có khối lượng gỗ gấp 3 - 4 lần 2 loài keo bố mẹ. Vì

vậy, Keo lai có khối lượng bột giấy cao, hàm lượng xenlulose cao hiệu suất bột

giấy lớn, chất lượng bột giấy tốt, độ nhớt của bột giấy cao hơn rõ rệt so với

Bạch đàn trắng Camal. Giấy được sản xuất từ các dòng Keo lai được chọn có

độ dài và độ chịu cao hơn rõ rệt so với 2 loài bố mẹ và Bạch đàn. Chứng tỏ đây

là giống cây trồng rất có triển vọng cho sản xuất bột giấy.

Keo lai còn có giá trị gia cơng đồ mộc và dùng trong xây dựng. Nghiên

cứu tính chất vật lý và cơ học của mẫu Keo lai 5 tuổi được lây mẫu tại Ba Vì,

cho thấy hầu hết các tính chất này của Keo lai như: mức độ co rút, độ hút ẩm,

sức chống uốn tĩnh, chống uốn và va đập, chống trượt và chống tách của Keo

lai đều thể hiện tính trung gian giữa 2 lồi bố mẹ (Lê Đình Khả, Nguyễn Đình

Hưng, 1995) (theo Phùng Nhuệ Giang, 2003) [1]. Ở các lồi bố mẹ có ưu

nhược điểm thể hiện ở từng mặt nhưng Keo lai lại khắc phục được khơng ít

nhược điểm của bố mẹ.

Nguyễn Văn Thiết (2002) [11], nghiên cứu cho thấy Keo lai ở tuổi 8, 9

có thân thẳng, tròn, độ cong nhỏ, số lượng mắt ít phụ thuộc vào mắt chết, gỗ

giác và gỗ lõi phân biệt rõ rệt, vỏ cây mỏng và dễ bóc. Tác giả đánh giá đây là

loại gỗ dễ gia công chế biến. Từ đó, tác giả kết luận gỗ Keo lai có khả năng đáp

ứng tốt chỉ tiêu về nguyên liệu cũng như chất lượng sản phẩm trong sản xuất

ván ghép thanh.

Cũng như lồi cây bố mẹ, Keo lai có khả năng cố định đạm trong khơng

khí để tự dưỡng và cải tạo nâng cao độ phì của đất. Nghiên cứu nốt sần, khả

năng cải tạo đất của Keo lai và 2 lồi bố mẹ của Lê Đình Khả, Ngơ Đình Quế,

10



Nguyễn Đình Hải (1999) [12] cho thấy Keo lá tràm và Keo tai tượng là những

lồi có chứa vi khuẩn cố định tự do rất đa dạng và có tính chun hóa. Sau khi

được nhiễm khuẩn một năm ở vườn ươm những cơng thức nhiễm khuẩn ở Keo

lai có tăng trưởng mang tính trung gian giữa hai lồi bố mẹ. Số lượng và khối

lượng nốt sần ở rễ của Keo lai nhiều gấp 2 - 3 lần hai loài bố mẹ ở giai đoạn

vườn ươm. Đặc biệt, dưới tán rừng số lượng vi khuẩn cố định đạm ở Keo lai có

thể gấp 5 - 17 lần dưới tán rừng Keo tai tượng và Keo lá tràm. Vì vậy, đất dưới

tán rừng Keo lai được cải thiện về lý tính, hóa tính lẫn số lượng vi sinh vật đất

tốt hơn dưới tán rừng hai lồi keo bố mẹ.

Các dòng Keo lai được lựa chọn thể hiện tính chịu hạn cao hơn 2 loài bố

mẹ. Nghiên cứu khả năng chịu hạn của một số dòng Keo lai được lựa chọn tại

Ba Vì của Lê Đình Khả, Đồn Thị Mai, Nguyễn Thiên Hương (1999) (theo

Phùng Nhuệ Giang) (2003) [1]. Các dòng Keo lai được lựa chọn có sự khác

nhau cường độ thốt hơi nước, độ ẩm cây héo và thể hiện tính chịu hạn cao hơn

bố mẹ.

Nghiên cứu về triển vọng trồng rừng thâm canh Keo lai tại một số vùng

sản xuất lâm nghiệp tập trung, Đoàn Hoài Nam (2003) (theo Phùng Nhuệ

Giang, 2003) [1] đã đánh giá trồng rừng thâm canh theo kiểu mang lại hiệu quả

kinh tế cao trong sản xuất lâm nghiệp, có rủi ro thấp, khi tính tốn hiệu quả

kinh tế chung cho các vùng thì thấy lãi suất được 5.4 %/năm.

Tóm lại: Keo lai là giống rất thích hợp với trồng rừng kinh tế ở vùng

đồng bằng và đồi núi nước ta. Đây là lồi cây có tiềm năng bột giấy cao, có

khả năng cải tạo, bảo vệ đất tốt hơn các loài bố mẹ. Muốn trồng Keo lai đạt

hiệu quả phải chọn lập địa phù hợp, dùng phương pháp nhân giống sinh dưỡng,

giống gốc đã được chọn lọc và đánh giá qua khảo nghiệm đồng thời phải áp

dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp.



11



Chương 2

MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

Xác định một số đặc điểm cấu trúc và sinh trưởng của loài Keo lai trên

các dạng địa hình khác nhau làm cơ sở cho việc đề xuất biện pháp kinh doanh

hợp lý nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và phát triển rừng trồng Keo lai tại

khu vực nghiên cứu.

2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1. Đối tượng nghiên cứu

Rừng Keo trồng thuần loài đều tuổi ở Ba Vì – Hà Nội.

2.2.2. Phạm vi nghiên cứu

Do địa bàn trồng Keo lai tương đối rộng và rải rác nên đề tài được lựa

chọn thực hiện tại địa điểm trên địa tính đại diện cao đó là: Trạm thực nghiệm

giống cây trồng Ba Vì – Hà Nội.

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.3.1. Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc của lâm phần

- Quy luật phân bố số cây theo đường kính (N/D1.3)

- Quy luật phân bố số cây theo chiều cao vút ngọn (N/Hvn).

- Quan hệ tương quan giữa đường kính thân cây D 1.3 với chiều cao vút

ngọn Hvn.

2.3.2. Đánh giá tình hình sinh trưởng của Keo lai trên các dạng địa hình

khác nhau (chân, sườn, đỉnh)

-



Sinh trưởng D1.3



12



-



Sinh trưởng Hvn



-



Sinh trưởng trữ lượng



2.3.3.Đề xuất một số biện pháp phát triển rừng Keo lai tại địa phương

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp luận

Sinh trưởng là một biểu hiện quan trọng của động thái rừng. Nó ảnh

hưởng quyết định đến mục tiêu kinh doanh của ngành Lâm nghiệp.

Sinh trưởng cây rừng là sự tăng lên về kích thước của cây theo tuổi và

khơng có chiều ngược lại. Hay nói cách khác, đó là sự thay đổi về chất dẫn đến

sự thay đổi về lượng của các nhân tố điều tra (D1.3, Hvn, V). Do vậy khi đánh

giá về sinh trưởng của cây rừng, chúng ta phải tiến hành tổng hợp trên các bộ

phận như: Đường kính, chiều cao… theo thời gian sinh trưởng của cây rừng.

Sinh trưởng của cây cá thể là một bộ phận của lâm phần. Vì thế mà đánh giá

sinh trưởng của cây cá thể chính là đánh giá sinh trưởng của lâm phần. Vì thế

mà sinh trưởng chính là nguồn gốc của sự phát triển. Đối với cây rừng, trong

một giai đoạn nhất định cây rừng sinh trưởng liên tục.

Cấu trúc của lâm phần là một lĩnh vực tổng hợp bao gồm nhiều quy luật

tự nhiên mang tính khách quan, phản ánh trung thực diện mạo của rừng.

Nghiên cứu cấu trúc rừng không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý

nghĩa thực tế to lớn.

Quy luật cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp các thành phần cấu tạo

nên quần thể thực vật rừng theo không gian và thời gian. Cấu trúc lâm phần là

cơ sở khoa học cho các phương pháp thống kê, dự đoán trữ lượng và tính tốn

các chỉ tiêu kỹ thuật trong kinh doanh, điều chế rừng. Đồng thời là cơ sở để đề

xuất các biện pháp lâm sinh thích hợp đáp ứng mục đích kinh doanh lợi dụng

rừng lâu dài và liên tục.

13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×