Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 BIỆN PHÁP THI CÔNG MỘT SỐ HẠNG MỤC CHỦ YẾU

2 BIỆN PHÁP THI CÔNG MỘT SỐ HẠNG MỤC CHỦ YẾU

Tải bản đầy đủ - 0trang

ĐATN: TK CẦU DẦM SUPER–T

NGUYỄN BÁ HOÀNG



GVHD: PGS_TS



- Bước 3 :

Hạ khung cốt thép cọc vào trong lòng lỗ khoan: Các

lồng cốt thép được hạ lần lượt theo từng lồng và liên

kết giữa các lồng được thực hiện bằng liên kết hàn

hoặc buộc theo nguyên tắc liên kết phải đảm bảo chòu

được trọng lượng bản thân của các khung cốt thép thả

xuống trước đó và ngoài ra còn phải đảm bảo điều

kiện thẳng đứng của lồng cốt thép trên suốt chiều

dài cọc. Chú ý mối hàn cấu tạo giữa cốt thép đai, cốt

đònh vò và cốt thép chủ cần đảm bảo để không gây

cháy

cốt thép.

Lồng cốt thép cọc phải luôn đảm bảo khe hở với

thành bên lỗ khoan theo thiết kế, do đó cần đặt các

khung cốt thép và các con kê đònh vò. Cự ly giữa các

mặt cắt đặt khung đònh vò khoảng từ 2 – 4m và bố trí

trên suốt chiều dài cọc. Số lượng con kê trên 1 mặt

cắt đònh vò của lồng cốt thép là từ 4 – 6 cái và kết

hợp với 1 khung cốt thép. Sau khi lắp dựng khung cốt

thép xong nhất thiết phải kiểm tra cao độ đầu của cốt

thép chủ.

- Bước 4 :

Kiểm tra lại cao độ đáy lỗ khoan, mức độ sạch bùn,

tạp chất ở đáy lỗ khoan 15 phút trước khi đổ bê tông.

- Bước 5 :

Đổ bê tông lấp lòng lỗ khoan theo phương pháp

vữa dâng rút ống thẳng đứng: Bê tông dùng loại

thương phẩm chở bằng xe chuyên dụng từ trạm trộn tới

hiện trường.

Một số yêu cầu kỹ thuật với công tác bê tông:



Để đạt bê tông M350 theo thiết kế, cấp phối

bê tông cần được thiết kế để cường độ chòu nén mẫu

15x15x15cm là 28 ngày đạt tối thiểu 385 KG/cm 2, nghóa là

tăng thêm 10% cường độ.



Thường dùng loại bê tông trộn dẻo có độ sụt

khoảng 18cm ± 2cm. Nhất thiết phải đổ hết bê tông

trong thời gian 1 giờ sau khi trộn xong nhằm tránh hiện

tượng tắc ống do tính lưu động của bê tông giảm.



Tốc độ đổ bê tông thích hợp vào khoảng

3

0.6m /phút. Trong 1 giờ tối thiểu phải đổ xong 5m dài

cọc. Trong qúa trình đổ bê tông đáy ống đổ cần cắm

sâu dưới bề mặt bê tông >2m để đề phòng bê tông

chảy từ ống đổ ra không bò trộn lẫn đất bùn trên bề

mặt bê tông. Tuy nhiên tránh cắm quá sâu làm bê

tông khó thoát ra gây tắc ống đổ.

SVTH: HOÀNG PHÚ TUỆ

TRANG: 124



MSSV: CD03151



ĐATN: TK CẦU DẦM SUPER–T

NGUYỄN BÁ HOÀNG



GVHD: PGS_TS





Trong quá trình đổ bê tông cần thường xuyên

thực hiện các công việc kiểm tra sau: Luôn kiểm tra độ

sụt của bê tông của từng cối trộn; Đo cao độ dâng

lên của mặt bê tông trong lỗ sau mỗi lần đổ và đối

chiếu với khối lượng bê tông thực tế đổ. Từ đó xem

xét để quyết đònh mức độ nhấc ống đổ lên; Kiểm tra

dây đo mặt dâng lên của bê tông tránh trường hợp

dây bò dãn dài ra trong qúa trình đo; Lưu ý phòng ngừa

tốc độ đổ bê tông trong ống đổ bò giảm khi đổ bê

tông phần trên của cọc.



Phần bê tông trên đỉnh cọc khoan nhồi sau khi

kết thúc công tác đổ bê tông thường có lẫn tạp chất

và bùn nên cọc thường được đổ vượt lên tối thiểu

khoảng 1.2m so với cao độ đáy bệ. Phần bê tông đổ

vượt này sẽ được đục bỏ hết đến cao độ thiết kế sau

đó dùng nước

rửa cho sạch mạt đá, cát bụi trên đầu cọc.

- Bước 6 :

Kiểm tra chất lượng cọc sau khi thi công và hoàn

thiện cọc.

Công tác đánh giá chất lượng cọc bao gồm các

công việc sau:



Toàn bộ các cọc được kiểm đònh bằng phương

pháp siêu âm. Ống dùng để phục vụ cho công tác

siêu âm bằng thép (hoặc bằng nhựa) đảm bảo không

bò phá hoại do áp lực vữa trong qúa trình đổ bê tông

cọc. Tùy thuộc đường kính cọc mà bố trí số ống cho

phù hợp. Tuy nhiên phải bố trí ít nhất 1 ống có đường

kính trong ≥ 114mm, các ống còn lại có đường kính trong

55mm. Các ống được đặt sát theo vách cốt thép dọc.

Chiều dài ống xuyên suốt từ đỉnh cọc đến cách mũi

cọc 20cm (đối với ống có Þ55mm) và 100cm ( đối với

ống có Þ≥ 114mm). Đáy ống cần được bòt kín để tránh

bùn, vữa bê tông hoặc tạp chất chui vào lòng ống.

Đầu trên cần nhô cao hơn điểm dừng đổ bê tông cọc

khoảng 50 - 80cm

và cũng được bòt kín.



Toàn bộ các cọc sẽ được kiểm tra mức độ

lắng đọng mùn dưới mũi cọc sau khi đổ bê tông. Để

kiểm tra sẽ khoan thủng qua phần bê tông dưới mũi

ống Þ≥ 114mm cho tới lớp đất nền nguyên dạng dưới

mũi cọc. Đo kiểm tra mức độ mùn bằng lấy mẫu. Nếu

độ mùn dưới mũi cọc vượt quá mức quy đònh trong quy

trình thì cần phải xử lý. Biện pháp xử lý sẽ được

SVTH: HOÀNG PHÚ TUỆ

TRANG: 125



MSSV: CD03151



ĐATN: TK CẦU DẦM SUPER–T

NGUYỄN BÁ HOÀNG



GVHD: PGS_TS



quyết đònh cho từng trường hợp cụ thể tùy theo mức độ

lắng đọng mùn, loại mùn...



Ngoài 2 công tác kiểm tra nêu trên còn dự

phòng khoảng 5% số cọc sẽ được kiểm tra bổ sung bằng

khoan lấy mẫu và nén mẫu trên suốt chiều dài cọc

hoặc gõ PIT nếu trong quá trình thi công cọc có hiện

tượng bất thường và kết qủa siêu âm cọc phát hiện

có những dấu hiệu nghi ngại.

Hoàn thiện đập sửa đầu cọc trước khi thi công bệ

móng.

4.2.2 Công tác thử cọc

Do mũi cọc tại các mố trụ đều nằm trong tầng đá

sét kết nên kiến nghò không phải thử tải cọc mà tăng

cường công tác kiểm tra cọc bằng phương pháp siêu

âm và khoan lấy lõi, cụ thể như sau :

Tất cả các cọc đều phải siêu âm kiểm tra

cọc trên tất cả các mặt cắt.

Dự kiến khoảng 5% số cọc sẽ được kiểm tra

bổ sung bằng khoan lấy mẫu và nén mẫu trên suốt

chiều dài cọc hoặc gõ PIT nếu trong quá trình thi công

cọc có hiện tượng bất thường và kết qủa siêu âm cọc

phát hiện có những dấu hiệu nghi ngại.

4.2.3 Công nghệ chế tạo dầm Super - T



Bê tông và cốt liệu:

Để đạt được chất lượng cao cho bê tông dầm Super-T

cần phải có thành phần thiết kế thật tốt:

- Cát vàng có độ sạch và cỡ hạt theo thiết kế,

đảm bảo theo TCVN, có cường độ cao và không có lẫn

mica như cát thạch anh,... Cát phải có tỷ trọng 2.8T/m3

(TCVN 339-86), có lượng bùn đất < 0.6% (TCVN 343-86), có

hàm lượng tạp hữu cơ đạt TCVN 345-86, có hàm lượng hạt

lớn hơn 5mm là 6%.

- Đá dăm có kích thước 0.5cm x 1.5cm, có hàm

lượng đất 0.4%, có hàm lượng hạt dẹt 7.5%, và

có cường độ tối thiểu 1200kG/cm 2.

- Xi măng dùng loại PC40.

Tất cả các cốt liệu phải có chứng chỉ thí nghiệm

cho phép.

Cường độ 28 ngày của bê tông là 40MPa trở

lên.

SVTH: HOÀNG PHÚ TUỆ

TRANG: 126



MSSV: CD03151



ĐATN: TK CẦU DẦM SUPER–T

NGUYỄN BÁ HOÀNG



GVHD: PGS_TS



Cường độ nén nhỏ nhất của bê tông lúc tạo

dự ứng lực là 90% RTk.

Mặt bên của dầm tại vò trí đổ dầm ngang

phải được tạo nhám.

Mặt trên của cánh dầm phải được tạo nhám

sâu 3mm để dính bám với bê tông bản mặt cầu.

Đặc biệt đối với dầm Super-T các thành dầm rất

mỏng, đòi hỏi bê tông phải có độ linh động cao và

cường độ lớn. Do vậy các dầm Super-T đều được sử

dụng phụ gia. Để đạt được hiệu quả cao nhất cho bê

tông dầm, nên dùng phụ gia Visconcrete HE-10 của hãng

SIKA. Theo như thí nghiệm của SIKA, bê tông dầm Super-T

có thể đạt cường độ 550-600 kG/cm2 nếu như được thiết

kế như sau:

Đường kính hạt cốt liệu lớn nhất 15mm.

Độ sụt bê tông 18 ± 2cm.

Phụ gia sử dụng Visconcrete HE-10 với liều lượng

0.6L/100kg xi măng.

Tỉ lệ N/XM tính cả phụ gia hoá lỏng là 0.32.

Tỉ lệ cát/cát + đá là 40%.

Độ cuốn khí 1.5%.

Thành phần cấp phối cho 1 m3 bê tông:

+ Xi măng PCB40 480kg.

+ Cát vàng 712kg.

+ Đá 1113kg.

+ Nước 151L.

+ Phụ gia 2,880 lít.



Cốt thép thường:

Cốt thép thường có cấp tương đương A3, chỉ hàn khi

được cho phép. Các thanh cốt thép có đường kính chủ

yếu 16mm được bố trí theo các lưới 10 - 20cm tùy từng vò

trí. Các cốt thép chòu lực cục bộ nên bố trí đường kính

32mm. Cốt thép chờ của bản mặt cầu có đường kính

16mm được kéo thẳng lên từ các thanh cốt thép đứng

của dầm.



Cáp dự ứng lực:

Các cáp dự ứng lực dùng loại tao 15.2mm 7 sợi

có độ chùng thấp theo tiêu chuẩn ASTM - A416. Cường

độ kéo đứt của cáp fpa=1860MPa. Lực căng các tao

cáp là khoảng 200KN với tao 15.2mm.

Theo thiết kế, mỗi phiến dầm gồm 40 tao cáp

dự ứng lực, phía trên có 2 tao dính bám, phía dưới có 38

tao được bố trí thành 4 hàng và 13 cột.



Bệ căng cáp:

SVTH: HOÀNG PHÚ TUỆ

TRANG: 127



MSSV: CD03151



ĐATN: TK CẦU DẦM SUPER–T

NGUYỄN BÁ HOÀNG



GVHD: PGS_TS



- Dầm Super-T là dầm dự ứng lực căng trước nên

phải có bệ căng cáp để chòu lực căng của các cáp

dự ứng lực. Đồng thời bệ đóng vai trò là hệ đà giáo

ván khuôn đổ bê tông dầm nên bệ phải bằng bê

tông để chòu lực nén tốt.

- Trong quá trình thi công, bệ căng có trọng lượng

bản thân lớn, kết hợp với trọng lượng dầm Super-T và

máy móc thiết bò nên đáy bệ phải có kích thước lớn

để đảm bảo không bò lún gây

nứt bệ và dầm khi mới đổ.

- Về kích thước bệ, theo thiết kế ban đầu của

Australia, bệ đúc có kích thước tương đối lớn. Chiều

rộng toàn bộ bệ đúc là 4.0m. Phần chân bệ bằng bê

tông dày 25cm trên lớp đá dăm dày 20cm. Chiều cao

bệ là 1.85m và bề rộng mặt bệ là 0.7m. Cốt thép

trong bệ chủ yếu là cốt gai với đường kính 14 -16mm bố

trí dày đặc. Bệ đúc kiểu này đã áp dụng cho các cầu

như Mỹ Thuận, Tân Đệ, cầu Chợ Dinh...với chi phí cho

xây dựng một bệ lên tới hơn 500 triệu đồng, đồng thời

gây khó khăn cho công tác phá dỡ bệ sau này.

- Bệ căng bằng bê tông cốt thép đổ tại chỗ, cấp

bê tông 20Mpa. Cốt thép thường tròn trơn có cường độ

fy tối thiểu 210Mpa, cốt gai tối thiểu 295Mpa. Chiều dài

bệ đúc 39.5m. Đầu bệ căng được đặt các dầm kích tổ

hợp từ các thép hình và thép bản có các lỗ luồn cáp

đường kính 18mm.

- Vì dầm có hệ cáp căng trước phía dưới nên dùng

dạng bệ nổi là hợp lý nhất để đảm bảo không

bò đọng nước, sạch sẽ ván khuôn đáy khi chưa đúc

dầm đồng thời dễ dàng thao tác luồn cáp.

- Kinh nghiệm cho thấy, để đúc được bệ bê tông

cho phẳng, thẳng, chính xác là rất khó mà giá thành

lại cao.

- Nếu nền đất yếu thì trước khi làm bệ phải thay

đất bằng lớp cát, sau là đá đệm. Đặc biệt hai đầu bệ

phải gia cố nhiều hơn như cọc tre để khi cắt cáp dầm

rồi chỉ kê ở hai đầu.

- Dầm căng kích chòu lực rất lớn, ở vò trí nhỏ hẹp

và có nhiều lỗ nên sử dụng dầm bằng thép tổ hợp

từ 5 thép bản dày 25mm. Các chi tiết chôn sẵn trong

bệ căng để liên kết bệ căng với dầm kích. Ván khuôn

trong cần phải được đặt sau khi đổ bê tông bệ và phải

được đo đạc kiểm tra chính xác.

- Bố trí thiết kế hai bệ đúc đồng thời. Để có thể

dùng xe chuyên dụng chở bê tông xả trực tiếp khi đúc

SVTH: HOÀNG PHÚ TUỆ

TRANG: 128



MSSV: CD03151



ĐATN: TK CẦU DẦM SUPER–T

NGUYỄN BÁ HOÀNG



GVHD: PGS_TS



dầm, cần phải làm đường công vụ giữa 2 bệ đúc là

hợp lý. Bề rộng đường công vụ B=2.79m. Cao độ mặt

đường thấp hơn đỉnh thành bên của bệ căng khoảng

30cm. Đất nền đường công vụ được dầm chặt K = 95%

và rải 1 lớp đá cấp phối dày15cm.



Ván khuôn:

- Yêu cầu đối với ván khuôn dầm là phải chắc

chắn do thành dầm Super-T rất mỏng, đồng thời phải

đủ chòu lực và phải thật thẳng, phẳng để tạo bề mặt

cho dầm Super-T.

- Để liên kết ván khuôn vào bệ đúc, khi đúc bệ

cứ 3m theo chiều dài bệ lại tiến hành cắm

các thanh thép chờ D22mm với 4 thanh theo chiều

cao bệ và 3 thanh ở đáy bệ để sau này

hàn các thanh tròn D16mm làm cữ đỡ cho ván

khuôn thành và ván khuôn đáy dầm.

- Ván khuôn ngoài với tổng chiều dài lớn hơn

chiều dài dầm 0.5m được cấu tạo từ thép bản 6mm, có

các sườn tăng cường dọc bằng thép hình U100. Ván

khuôn ngoài được chia thành các mảng, mỗi mảng dài

khoảng 5.90m. Sau khi lắp đặt vào bệ đúc, các mảng

sẽ được hàn nối thành một khối liền.

- Theo chiều dài dầm, ván khuôn thành cứ 3m lại

để hở 20cm đúng vò trí để hàn với các thanh thép chờ

D22 từ bệ đúc với các sườn 100 đảm bảo chỉnh ván

khuôn đúng kích thước theo thiết kế.

- Sau khi đo đạc ván khuôn chính xác dùng miếng

thép dày 6mm rộng 20cm hàn đậy khe hở lại rồi mài

nhẵn.

- Sau khi nghiệm thu ván khuôn đáy và thành xong,

tiến hành bơm vữa xi măng mác 10-20MPa lấp đầy khe

hở giữa ván khuôn và bệ đúc (có thêm phụ gia hoá

dẻo và đầm chặt cho lấp đầy các khe hở).

- Ván khuôn trong gồm 3 khúc, khúc giữa dài 12m,

hai khúc biên dài 11m mỗi khúc. Các khúc

được cấu tạo từ thép bản dày 6mm, bên trong gia

cường bằng các khung thép hình và sườn tăng cường

L75x50x5, L50x50x5. Phía trong của ván khuôn được lắp

đặt các đầm rung để đầm bê tông dầm trong quá trình

đổ.

- Phần ván khuôn của đáy cánh dầm Super-T được

làm từ thép tấm dày 6mm tăng cường bằng các thép

hình C100 và đặt trên các dầm đỡ là thép hình I120.

Các thép hình này được hàn vào các bản thép chờ

chôn sẵn trên đỉnh bệ bê tông.

SVTH: HOÀNG PHÚ TUỆ

TRANG: 129



MSSV: CD03151



ĐATN: TK CẦU DẦM SUPER–T

NGUYỄN BÁ HOÀNG



GVHD: PGS_TS





Liên kết ván khuôn ngoài với bệ căng:

Các tấm ván khuôn ngoài được liên kết từng tấm

vào bệ căng. Trình tự như sau:

Các tấm ván khuôn ngoài sau khi chế tạo đạt

yêu cầu kỹ thuật được đặt từng tấm vào bệ căng.

Liên kết các tấm lại bằng đường hàn đối đầu hoặc

hàn qua một bản thép dày 6mm nối khe hở giữa chúng

sau đó mài nhẵn. Dùng các tăng đơ ép chặt các tấm

vào bệ căng. Kiểm tra kích thước tổng thể của phần

ván khuôn ngoài đã được đặt.

Dùng vữa xi măng mác 10 - 20MPa bơm vữa

vào khe hở giữa ván khuôn ngoài và bệ căng. Bơm sau

khi liên kết tất cả các tấm.

Đặt và liên kết các cấu kiện đỡ cánh dầm

với nhau và với bệ căng. Liên kết các chi tiết ván

khuôn góc.

Đặt và liên kết dầm kích với bệ căng.

Kiểm tra kích thước tổng thể toàn bộ hệ

thống.



Chế tạo lồng cốt thép:

- Lồng cốt thép được gia công tại hiện trường trên

hệ giá đỡ. Mối nối các thanh cốt thép được đặt so le

sao cho trên một mặt cắt lượng mối nối nhỏ hơn 50%.

Các sợi cáp 15.2mm được cắt đủ chiều dài 43.5m (với

dầm Super-T 40m), luồn đủ các ống nhựa chống dính

bám (D18/22) và cuốn băng dính kín đầu các ống nhựa.

Các tao cáp được treo lỏng trong lồng thép cho đến khi

lồng cốt thép được đặt vào ván khuôn. Để đảm bảo

chiều dài đoạn không dính bám của các tao cáp, các

ống nhựa được kéo dài và tì vào ván khuôn đầu dầm

để không bò dòch chuyển trong khi căng kéo.

- Bố trí các ống thoát nước bằng các ống nhựa

PVC đường kính trong 50mm.

- Buộc các con kê bê tông cố đònh các lồng cốt

thép với 3-5 con kê trên 1m2.



Lắp đặt lồng cốt thép vào ván khuôn:

- Trước khi lắp đặt lồng cốt thép, bề mặt ván

khuôn ngoài được vệ sinh sạch sẽ, bôi phụ

chống dính Separol đảm bảo cho việc tách dầm ra

khỏi ván khuôn được dễ dàng.

- Dùng 1 dầm gánh đủ chiều dài và cần cẩu

(thường là xe nâng dầm) để nâng toàn bộ lồng cốt

thép từ giá gia công đến bệ căng và đặt vào ván

khuôn.

SVTH: HOÀNG PHÚ TUỆ

TRANG: 130



MSSV: CD03151



ĐATN: TK CẦU DẦM SUPER–T

NGUYỄN BÁ HOÀNG



GVHD: PGS_TS



- Kiểm tra vò trí lồng cốt thép khi đã đặt vào ván

khuôn, độ thẳng các sợ cáp và bề dày lớp bê tông

bảo vệ.

- Lắp đặt tấm ván khuôn chắn đầu dầm. Các tao

cáp được luồn qua các lỗ trên tấm chắn và qua các

rãnh của dầm kích đúng vò trí.



Căng kéo cáp dự ứng lực:

- Sử dụng đúng hệ thống kích, neo tương thích như

trong thiết kế hoặc tương đương. Kích căng là các kích

căng sợi đơn.

- Kích và neo trước khi căng phải được kiểm đònh

trước khi sử dụng.

- Các tao cáp được căng kéo đơn lẻ từng tao một

theo sơ đồ do Thiết kế chỉ đònh căng từ hai bên vào

giữa để các tao giữa mất mát ít nhất do dầm căng bò

võng.

Phương pháp căng kéo:

+ Luồn sợi cáp vào kích, đưa đầu kích tỳ sát vào

dầm kích.

+ So dây, kéo căng ban đầu các tao bằng 10% lực

căng thiết kế (20KN).

+ Khi căng, dùng thước đo chiều dài dãn của kích

tương ứng từng cấp áp lực.

+ Sau khi căng đạt lực căng thiết kế. Kiểm tra độ

dãn dài thực tế so với độ dãn dài cho phép theo thiết

kế.

+ Kéo thêm lực lên 110% lực thiết kế để 30 phút

rồi trả về 100% lực thiết kế rồi đóng neo.



Lắp đặt ván khuôn trong:

- Chỉ lắp đặt ván khuôn trong sau khi cáp dự ứng

lực đã căng kéo xong.

- Ván khuôn trong được lắp bằng các giá đỡ nằm

song song bên cạnh bệ căng. Trước khi lắp, cần kiểm tra

kích thước, bôi phụ gia chống dính Separol.

- Dùng dầm gánh và cẩu lắp các khúc ván

khuôn trong vào trong bệ đúc. Đo đạc kiểm tra đảm bảo

đúng vò trí và kích thước hình học theo thiết kế.



Đổ bê tông dầm:

- Bê tông dầm được thiết kế cấp 40MPa trở lên,

thời điểm truyền lực căng vào bê tông là 90%RTK. Độ

sụt bê tông thường là 18 ± 2cm.

- Theo thiết kế của Australia, bê tông cho dầm SuperT chủ yếu là mác 50MPa. Các mác bê tông này đã

áp dụng cho cầu Mỹ Thuận, Tân Đệ,… Hiện nay, với

việc sử dụng một số phụ gia hoá dẻo và đông cứng

SVTH: HOÀNG PHÚ TUỆ

TRANG: 131



MSSV: CD03151



ĐATN: TK CẦU DẦM SUPER–T

NGUYỄN BÁ HOÀNG



GVHD: PGS_TS



nhanh như phụ gia Visconcrete của SIKA, bê tông cho dầm

Super-T có thể đạt cường độ tới 60MPa. Mác bê tông

này đã áp dụng cho cầu Tư Hiền ( Tp Huế).

- Trước khi đổ bê tông, ván khuôn, cốt thép được

kiểm tra lần cuối. Tất cả các lỗ hổng hoặc khe hở

đều được bòt kín tránh hiện tượng mất vữa. Chú ý bố

trí đủ các con kê đảm bảo đúng khoảng cách giữa

lồng cốt thép và ván khuôn trong, ngoài.

- Bê tông được cấp tại trạm trộn công trường, vận

chuyển bằng xe chở chuyên dụng chạy trên đường công

vụ giữa 2 bệ đúc. Kiểm tra độ sụt của bê tông trước

khi đổ.

- Đổ bê tông thành từng lớp với chiều dày không

lớn hơn 60cm và đảm bảo liên kết tốt giữa các lớp

bê tông. Có thể chia thành 3 lớp theo chiều cao dầm

như sau:

+ Lớp 1 dày 60cm,

+ Lớp 2 dày 60cm,

+ lớp 3 dày 55cm.

- Bê tông được đầm bằng đầm rung gắn vào ván

khuôn trong. Đổ bê tông đến đâu rung đến đó. Các

đầm rung dừng lại khi vữa xi măng nổi lên bề mặt bê

tông. Phần đặc ở 2 đầu dầm và bản cánh được đầm

thêm bằng đầm dùi.

- Mỗi dầm đúc 6 mẫu để thử cường độ. Hai mẫu

đầu thí nghiệm sau 48h. Hai mẫu tiếp sau 60h. Hai mẫu

cuối ép sau 28 ngày.



Công tác cắt cáp và đo đạc độ vồng của

dầm:

- Chỉ cắt cáp và truyền lực căng vào bê tông khi

bê tông đạt cường độ 90%RTK. Căn cứ vào kết quả thí

nghiệm ép mẫu bê tông, ở đây cần có quan điểm lựa

chọn chu kỳ hợp lý, quan điểm dùng phụ gia,… để có

thể tối ưu hoá cho một chu kỳ sản xuất dầm. Trước khi

cắt cáp đánh dấu sơn trên tất cả các tao cáp ở 2

đầu dầm, cách mặt ngoài của ván khuôn bòt đầu

khoảng 15cm để đo độ thụt vào của tao cáp. Các khúc

ván khuôn trong và ván khuôn đầu dầm được di

chuyển.

- Cắt cáp theo đúng trình tự căng cáp. Cắt riêng

rẽ từng tao bằng máy cắt Oxyetylen tại vò trí cách mặt

trong dầm kích khoảng 30cm. Máy cắt được đưa đi đưa lại

nung nóng đỏ 1 đoạn cáp dài khoảng 20cm cho tới khi tao

cáp bò đứt.

SVTH: HOÀNG PHÚ TUỆ

TRANG: 132



MSSV: CD03151



ĐATN: TK CẦU DẦM SUPER–T

NGUYỄN BÁ HOÀNG



GVHD: PGS_TS



- Trước, trong và sau quá trình cắt cáp, đo độ vồng

của dầm tại các vạch sơn đánh dấu tại 6 vò trí giữa

dầm và tim gối.



Cẩu dầm ra khỏi bệ căng:

- Thông thường, các phiến dầm sẽ được cẩu lắp ra

khỏi bệ đúc bằng 2 giá Portic. Các giá portic

được móc vào các bu lông chờ tại 2 đầu mỗi

phiến dầm. Các dầm được cẩu nhâng lần lượt từng

đầu.



Bảo dưỡng bê tông dầm:

Sau khi được nhấc ra khỏi bệ căng, các phiến dầm

được bảo dưỡng trong 7 ngày bằng các bao tải giữ ẩm.

Việc bảo dưỡng dầm tốt sẽ đảm bảo chất lượng bê

tông dầm và giảm được những tác động co ngót, từ

biến của bê tông.



Xếp dầm trong bãi:

Các phiến dầm được xếp trong bãi dầm đảm bảo

thuận tiện cho việc vận chuyển và không gây ra nội

lực bất lợi trong dầm.



Chu kỳ đúc một dầm:

Với việc tuân thủ các bước công nghệ bằng

những cải tiến và hoàn thiện như trên, có thể thấy

nhà thầu có khả năng rút ngắn chu kỳ đúc một

phiến dầm Super-T. Việc xác đònh một chu kỳ đúc dầm

có ý nghóa rất quan trọng trong đẩy nhanh tiến độ thi

công dự án, tăng năng suất sử dụng bệ đúc, tính toán

sử dụng phụ gia cho bê tông dầm và giảm chi phí sản

xuất. Trong thực tế tại một số công trình mà Công ty

Cầu 1 Thăng Long đã thi công, chu kỳ đúc một phiến

dầm Super-T có thể hoàn chỉnh trong 5 ngày.



Kết luận và kiến nghò:

Dầm Super T là loại dầm có nhiều ưu điểm hơn

các loại dầm khác về kết cấu, kiểu dáng mỹ thuật

và chỉ tiêu giá thành cùng với công nghệ lao lắp

nhanh chóng nên ngày càng được ứng dụng nhiều ở

các công trình giao thông ở Việt Nam.

Vật liệu để thi công dầm Super T đòi hỏi chất

lượng và cường độ cao, cần được lựa chọn và kiểm tra

thât kỹ, đảm bảo chất lượng bê tông dầm.

Khâu thiết kế còn một số vấn đề chưa kiểm

soát hết được nên có một số sự cố như gãy, nứt khu

vực hai đầu dầm. Do đó cần được nghiên cứu tính toán

chi tiết hơn nữa, nhất là về mất mát dự ứng lực và sự

truyền lực căng từ lực dự ứng lực vào bê tông dầm.

SVTH: HOÀNG PHÚ TUỆ

TRANG: 133



MSSV: CD03151



ĐATN: TK CẦU DẦM SUPER–T

NGUYỄN BÁ HOÀNG



GVHD: PGS_TS



Cấu tạo dầm Super-T cần bổ sung một số chi

tiết nhằm hoàn thiện khả năng chòu lực và đảm bảo

chống lại các lực cục bộ như cốt thép xiên đầu dầm,

các thanh cốt thép thường đáy dầm có đường kính cao

hơn.

Công nghệ chế tạo dầm:

+

Bệ đúc dầm cần có sự thay đổi về cấu tạo

và kích thước nhằm giảm giá thành và có khả năng

phù hợp với điều kiện nền đất yếu như ở Việt Nam.

+

Công tác ván khuôn ngoài và trong đòi hỏi

phải được quan tâm và kiểm soát chặt chẽ để đảm

bảo chòu lực và tạo mỹ quan công trình .

+

Công tác cốt thép thường và thép cường độ

cao phải tuân thủ các qui đònh của qui trình và các qui

đònh riêng cho kết cấu bản mỏng.

+

Bê tông phải sử dụng phụ gia để tạo vữa bê

tông đạt tiêu chuẩn bê tông tự đầm, đá dăm phải là

loại 0,5x1cm.

+

Công tác đổ bê tông dầm cần phải tuân

thủ theo các chỉ dẫn kỹ thuật đảm bảo chất lượng tốt

đồng thời rút ngắn chu kỳ đúc dầm nhằm nâng cao

năng suất và tiến độ thi công.

+

Công đoạn truyền lực nén của cáp vào bê

tông phải đúng trình tự qui đònh của hồ sơ.

- Công nghệ lao lắp dầm Super T: Tùy từng điều

kiện cụ thể của công trình và đơn vò thi công mà lựa

chọn công nghệ lao lắp dầm phù hợp. Đối với những

công trình có số dầm Super-T ít thì ưu tiên sử dụng công

nghệ cẩu lắp hoặc dùng dầm dẫn. Với các công trình

có nhiều nhòp, nhiều dầm nên sử dụng các xe lao dầm.

Nếu là dầm đơn thì độ ổn đònh lớn hơn dầm dạng I

nhưng lao xong chưa có mặt cầu thì chưa chòu tải được xe

lao mà phải đổ xong bản mặt cầu mới cho chòu tải

trọng thi công được.

- Đổ bê tông bản mặt cầu thì dùng bê tông lưới

thép dày 4cm làm ván khuôn đậy như hiện nay là hợp

lý về kinh tế, kỹ thuật nhưng sau nếu chất dẻo phát

triển rẻ hơn thì có thể áp dụng nhằm giảm bớt tónh

tải cho dầm.



SVTH: HOÀNG PHÚ TUỆ

TRANG: 134



MSSV: CD03151



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 BIỆN PHÁP THI CÔNG MỘT SỐ HẠNG MỤC CHỦ YẾU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×