Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CỦA NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CỦA NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

132



sự, 2015). Vì vậy, cần chuyển sang một dạng ý định mang tính chi tiết hơn, hành

động hơn thì mới có khả năng khởi nghiệp cao hơn. Ý định này theo Gollwitzer &

Keller (2012, 2016) gọi là ý định hành động. Hơn nữa, để mục tiêu thực hiện được

thì cần chuyển mục tiêu từ trừu tượng sang chi tiết hơn (Trope & Liberman, 2003,

2010). Ngoài ra, ý định trong các mơ hình trước đây dự đốn hành vi là một hành

động đơn lẻ ngắn hạn thì ý định hành động khởi nghiệp phải là mục tiêu dài hạn.

Yếu tố tư duy hành động và gắn kết với khởi nghiệp được đưa vào mơ hình

nhằm kiểm tra có hiệu quả đối với việc thúc đẩy hành vi khởi nghiệp. Nó nhấn

mạnh từ nhận thức đến tư duy, suy xét, so sánh giữa sự hấp dẫn của cơ hội, khả

năng khởi nghiệp. Từ đó, giúp nhà khởi nghiệp gắn kết với ý định hành động khởi

nghiệp của mình.

Để tăng số lượng các DN khởi nghiệp, điều quan trọng là phải hiểu được các

yếu tố tác động đến ý định hành động khởi nghiệp. Trong đó, đối tượng cần quan

tâm nhất là sinh viên các trường ĐH tại các tỉnh, thành phố gồm: TP.HCM, Bình

Dương, Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu. Vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu này là xây

dựng và kiểm định mối quan hệ giữa nhận thức khả năng khởi nghiệp, nhận thức

mong muốn khởi nghiệp, tư duy khởi nghiệp, gắn kết với khởi nghiệp và ý định

hành động khởi nghiệp của sinh viên.

Để giải quyết các mục tiêu này, các lý thuyết nền tảng được vận dụng bao

gồm: (1) Lý thuyết tư duy các giai đoạn hành động của Gollwitzer & Keller (2012,

2016); (2) Lý thuyết về sự kiện khởi nghiệp (EEM) của Krueger & cộng sự (2000);

(3) Lý thuyết gắn kết của Meyer & Allen (1991); (4) Mô hình tư duy khởi nghiệp

của Mathisen & Arnulf (2013); (5) Lý thuyết cấp độ cấu trúc nhận thức CLT của

Trope & Liberman (2003, 2010).

Trên cơ sở này, tác giả đưa ra các khái niệm nghiên cứu gồm: (1) Ý định

hành động khởi nghiệp; (2) Gắn kết với khởi nghiệp; (3) Tư duy khởi nghiệp; (4)

Nhận thức mong muốn khởi nghiệp; và (5) Nhận thức khả năng khởi nghiệp. Ngoài

ra, luận án cũng xem xét vai trò điều tiết của khoảng cách thời gian đối với mối

quan hệ giữa nhận thức khởi nghiệp và ý định hành động khởi nghiệp với 11 giả



133



thuyết được xây dựng. Mơ hình đề xuất nghiên cứu dựa trên quá trình hình thành ý

định là một quá trình phức tạp (các nghiên cứu trước đây chưa đưa tư duy khởi

nghiệp vào nhằm kiểm định mối quan hệ giữa nhận thức, đánh giá – tư duy khởi

nghiệp và ý định hành động).

Việc bổ sung khái niệm tư duy khởi nghiệp để giải thích rõ hơn mối quan hệ

giữa nhận thức khởi nghiệp và ý định hành động khởi nghiệp trong việc chuyển từ

trạng thái của hiểu biết nhận dạng sang hình thức tư duy và phân tích (so sánh và

đối chiếu giữa nhận thức cơ hội và khả năng thực hiện cơ hội đó) để có thể cải thiện

mơ hình tốt hơn. Từ đó khẳng định việc khởi nghiệp là một suy nghĩ, lựa chọn cẩn

thận, nghiêm túc có đầu tư của sinh viên chứ khơng vì phong trào khởi nghiệp.

Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng, thông

qua kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp với mẫu có kích thước n = 1367. Nghiên cứu chính

thức được thực hiện qua 2 giai đoạn: (1) Đánh giá mơ hình đo lường và (2) Đánh

giá mơ hình cấu trúc. Đánh giá mơ hình đo lường được dùng để kiểm định khẳng

định độ tin cậy, giá trị phân biệt, giá trị hội tụ và giá trị nội dung (giá trị về mặt lý

thuyết) của các thang đo. Đánh giá mơ hình cấu trúc nhằm kiểm định giả thuyết mơ

hình nghiên cứu với phương pháp Bootstrapping sử dụng lấy mẫu lại để ước tính độ

chính xác của các ước lượng PLS bằng cách lấy mẫu có thay thế từ tập dữ liệu gốc

(n=5000). Kết quả kiểm định mơ hình cấu trúc tuyến tính cho thấy, tất cả giả thuyết

được đặt đều có ý nghĩa thống kê.

Phần mềm được sử dụng ở giai đoạn nghiên cứu chính thức là SmartPLS

3.2.7 dựa vào phương sai với các ưu điểm như: (1) Chấp nhận qui mô cỡ mẫu nhỏ

(2) Dữ liệu khơng đòi hỏi phân phối chuẩn; (3) Thích hợp cho các nghiên cứu thiên

về định hướng dự đoán… Đặc biệt, đối với nghiên cứu này, đã khắc phục được hạn

chế về dữ liệu không phân phối chuẩn đồng thời một số giả thuyết được xây dựng

dựa vào một số lý thuyết mới sẽ thiên về dự đoán nhiều hơn là khẳng định. Chính

điều này dẫn đến tác giả lựa chọn phần mềm SmartPLS làm cơng cụ phân tích trong

nghiên cứu của mình.

5.1.2.



Đóng góp của nghiên cứu



134



Kết quả nghiên cứu được trình bày theo 2 phần chính: (1) Đóng góp về mặt

lý thuyết và (2) Đóng góp về mặt thực tiễn.

Về mặt lý thuyết

Thứ nhất: Kết quả kiểm định các mơ hình đo lường cho thấy, sau khi điều

chỉnh, các thang đo đều đạt được độ tin cậy và giá trị cho phép. Về phương diện

phương pháp nghiên cứu, nghiên cứu này góp phần vào kiểm định thang đo đo

lường ý định hành động khởi nghiệp cho những quốc gia đang phát triển như Việt

Nam. Trong khi tại các nước đang phát triển, tỷ lệ người nhận thức về khả năng

khởi nghiệp cao dẫn đến tỷ lệ người có ý định khởi nghiệp cao (trung bình là 36,5%

có ý định). Riêng tại VN, tỷ lệ có ý định khởi nghiệp là 22,3% khá thấp nếu so với

tỷ lệ người nhận thức cơ hội và khả năng khởi nghiệp. Kết quả này giúp cho những

nhà nghiên cứu có những gợi ý về hệ thống thang đo đo lường về ý định khởi

nghiệp của sinh viên để thực hiện các nghiên cứu tiếp tại thị trường Việt Nam.

Ngoài ra, hệ thống thang đo này có thể được sử dụng làm cơ sở để hình thành hệ

thống thang đo thống nhất trong các nghiên cứu đa quốc gia về ý định khởi nghiệp

dựa trên sinh viên cho những quốc gia tương tự như Việt Nam.

Thứ hai, luận án sử dụng lý thuyết tư duy các giai đoạn hành động làm lý

thuyết nền để kiểm định mơ hình nghiên cứu vì nhiều nghiên cứu khởi nghiệp trước

đây sử dụng mơ hình TPB và EEM cho thấy, trước khi hình thành ý định khởi

nghiệp thì cá nhân đó cần có động lực (giai đoạn của tư duy có chủ đích). Động lực

này được hình thành từ mong muốn và khả năng khởi nghiệp của chính họ. Tuy

nhiên, để phân biệt giữa nhà khởi nghiệp tiềm năng với những người khác cần khả

năng nhận dạng các cơ hội khởi nghiệp thông qua tư duy khởi nghiệp và gắn kết với

khởi nghiệp (giai đoạn của tư duy hành động). Vì vậy, luận án đã bổ sung 2 yếu tố

trung gian giữa nhận thức và ý định hành động khởi nghiệp, đó là, tư duy khởi

nghiệp và gắn kết với khởi nghiệp.

Thứ ba: ý định trong các nghiên cứu về khởi nghiệp trước đây tương đối

mơ hồ và trừu tượng, sức mạnh dự đốn của nó đối với hành động khởi nghiệp là

đáng nghi ngờ. Do đó, cần chuyển sang ý định mang tính chi tiết hơn, hành động



135



hơn thì có khả năng khởi nghiệp sẽ cao hơn. Ý định này theo lý thuyết tư duy các

giai đoạn hành động gọi là ý định hành động. Hơn nữa, để mục tiêu khởi nghiệp

thực hiện được thì cần chuyển mục tiêu từ trừu tượng sang chi tiết. Ngoài ra, ý định

trong các mơ hình trước đây dự đốn hành vi là một hành động đơn lẻ ngắn hạn thì

ý định khởi nghiệp phải là mục tiêu dài hạn.

Thứ tư, yếu tố thời gian được cho là có vai trò điều tiết mối quan hệ giữa

mong muốn và khả năng khởi nghiệp đến ý định hành động khởi nghiệp, cũng chưa

được nhắc đến nhiều trong các nghiên cứu trước đây. Khoảng cách thời gian khiến

cho cá nhân phóng đại ý định tích cực của họ và dự đốn khơng chính xác mối quan

hệ tương quan giữa ý định và hành vi.

Cuối cùng, luận án sử dụng công cụ SmartPLS phù hợp với nhiều ưu điểm

như: kích thước mẫu nhỏ, khơng đòi hỏi phân phối chuẩn, giao diện dễ sử dụng, có

thể kiểm định mơ hình phức tạp nhiều biến trung gian, điều tiết. Đặc biệt, luận án

này kiểm định dựa vào phương sai thơng qua phương pháp bình phương tối thiểu

(VBSEM – Variance based SEM hay còn gọi là PLS-SEM). Phương pháp này được

sử dụng rất phổ biến trong nhiều lĩnh vực vào những năm gần đây và thường được

gọi là phương pháp phân tích thơng tin thế hệ thứ 2.

Đóng góp về mặt thực tiễn

Nghiên cứu cho thấy việc khơi gợi mong muốn và khả năng khởi nghiệp

trong sinh viên là chưa đủ (giai đoạn của tư duy có chủ đích), nếu chỉ dừng lại ý

định khởi nghiệp một cách mơ hồ và trừu tượng, thì khả năng đi đến khởi nghiệp

của sinh viên là hạn chế. Vì vậy, các cơ sở đào tạo cần tập trung cho sinh viên tư

duy khởi nghiệp và thái độ gắn kết với khởi nghiệp một cách quyết liệt, khơng bỏ

cuộc. Vì đây chính là giai đoạn sinh viên sẽ vượt qua những trở ngại ban đầu trong

quá trình khởi nghiệp (giai đoạn tư duy hành động phân biệt giữa những nhà khởi

nghiệp tiềm năng với người nhưng người khác). Yếu tố thời gian là một trong

những đóng góp quan trọng, có ý nghĩa trong luận án này. Đối với sinh viên có ý

định hành động khởi nghiệp trong thời gian ngắn, thì các cơ sở đào tạo phải tập

trung hoàn thiện năng lực khởi nghiệp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho sinh viên,



136



đồng thời đưa sinh viên vào các vườn ươm tạo, tận dụng các hệ sinh thái khởi

nghiệp để hỗ trợ cho họ. Với sinh viên có ý định hành động khởi nghiệp trong thời

gian dài, cần tập trung khởi dậy lòng ham muốn, say mê khởi nghiệp trong sinh

viên. Đam mê chính là một trong những yếu tố tiên quyết giúp cho những nhà khởi

nghiệp theo đuổi khát vọng và mục tiêu khởi nghiệp của mình.

5.2. Hàm ý chính sách nhằm nâng cao ý định hành động khởi nghiệp của sinh

viên

Như đã phân tích trong Chương 4, đề xuất các hàm ý chính sách sẽ dựa vào

biến tác động có tầm quan trọng cao, nhưng hiệu suất thấp theo thứ tự: (1) Nhận

thức mong muốn khởi nghiệp; (2) Gắn kết với khởi nghiệp; (3) Nhận thức khả năng

khởi nghiệp; (4) Tư duy khởi nghiệp. Cuối cùng sẽ gợi ý một số hàm ý chính sách

đối với yếu tố thời gian.

5.2.1. Hàm ý chính sách về nhận thức mong muốn khởi nghiệp

Yếu tố nhận thức mong muốn khởi nghiệp là một trong những yếu tố quan

trọng nhất ảnh hưởng đến ý định hành động khởi nghiệp, sau đây là giá trị trung

bình của thang đo đo lường yếu tố nhận thức mong muốn khởi nghiệp được thể hiện

trong bảng 5.1.

Bảng 5.1: Thống kê giá trị trung bình thang đo yếu tố nhận thức mong muốn khởi

nghiệp



hiệu

DES1



Nội dung thang đo



Tôi mong muốn trở thành nhà khởi nghiệp

Khởi nghiệp đối với tôi thuận lợi nhiều hơn là

DES2 bất lợi

DES3 Trở thành doanh nhân là điều hấp dẫn

Nếu tơi có nhiều cơ hội và nguồn lực, tôi sẽ bắt

DES4 đầu khởi nghiệp

Nguồn: Kết quả xử lý từ khảo sát của tác giả



Giá trị

trung bình

5,31



Độ lệch

chuẩn

1,46



5,21

5,17



1,46

1,39



5,15



1,46



Để khơi dậy tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên thể hiện qua biến quan sát

“Tôi mong muốn trở thành nhà khởi nghiệp” thì phong trào khởi nghiệp cần được

ni dưỡng trong mơi trường khuyến khích tinh thần sáng tạo và chấp nhận rủi ro.



137



Do đó, việc nâng cao nhận thức mong muốn khởi nghiệp phải bắt đầu từ giáo dục

phổ thông đến ĐH theo hướng gắn giáo dục - đào tạo với hoạt động thực tiễn khởi

nghiệp, đề cao tinh thần và văn hóa khởi nghiệp là điều kiện tiên quyết để cá nhân

hình thành được ý chí lập nghiệp tự thân. Đồng thời, cần xây dựng chương trình và

kế hoạch cụ thể nhằm nâng cao nhận thức, khơi dậy tinh thần khởi nghiệp đổi mới

sáng tạo trong sinh viên. Cần sớm đưa một số nội dung khởi nghiệp cơ bản vào

chương trình giáo dục phổ thơng để sớm hình thành thái độ hướng đến khởi nghiệp

của giới trẻ.

Đối với nội dung “Khởi nghiệp đối với tôi thuận lợi nhiều hơn là bất lợi”

cần:

Nâng cao nhận thức về khởi nghiệp trong sinh viên, cấp lãnh đạo nhà trường

cần kết hợp với cơ quan/tổ chức nghiên cứu về khởi nghiệp, các chủ DN, các trường

doanh nhân, các báo cáo viên, nhà nghiên cứu, giảng viên một số nước phát triển

mạnh về khởi nghiệp tổ chức những buổi giao lưu với sinh viên để trao đổi kinh

nghiệm về khởi nghiệp, tạo điều kiện cho sinh viên được thực tập trong các DN đã

khởi nghiệp thành công tại Việt Nam. Nhà trường cần tăng cường tuyên truyền về

các tấm gương doanh nhân tiêu biểu, thành đạt. Đặc biệt là, những người trẻ tuổi để

sinh viên có khát khao, động lực học tập. Bên cạnh đó, cần xây dựng chương trình,

lộ trình cụ thể để nâng cao nhận thức, khơi dậy tinh thần khởi nghiệp trong sinh

viên.

Đối với nội dung “Trở thành doanh nhân là điều hấp dẫn”, cần tổ chức các

hoạt động ngoại khóa định hướng khởi nghiệp ngồi chương trình đào tạo chính

thức. Áp dụng các phương pháp như: thảo luận, bài tập tình huống, thiết lập kế

hoạch kinh doanh, tăng cường giờ thực hành, làm đồ án, dự án… , tổ chức các cuộc

thi khởi nghiệp có sự tham gia của các DN đã khởi nghiệp thành cơng. Khuyến

khích các ý tưởng khởi nghiệp sáng tạo, kêu gọi các nhà đầu tư tham gia ngay từ

đầu với sinh viên để khi ra trường thì khởi nghiệp vẫn là phương án ưu tiên được

lựa chọn.

Ngoài ra, nhà trường nên tổ chức một vài buổi tọa đàm liên quan giữa gia



138



đình, bạn bè của sinh viên về chủ đề khởi nghiệp, cơ hội tự làm chủ nghề nghiệp

của bản thân. Thông qua buổi tọa đàm giúp gia đình, bạn bè của họ hiểu được tình

trạng thất nghiệp hiện nay, việc làm chủ kinh doanh đem lại nhiều lợi ích cho sinh

viên như thế nào. Thơng qua đó, họ sẽ có cái nhìn tích cực hơn và sẽ ủng hộ con em

hay bạn bè họ trong việc khởi nghiệp sau khi tốt nghiệp.

Đối với nội dung “Nếu tơi có nhiều cơ hội và nguồn lực, tôi sẽ bắt đầu khởi

nghiệp”, cần nâng cao các chính sách hỡ trợ từ nhà trường: trường ĐH cần đổi mới

nhận thức và mục tiêu đào tạo, mở ra cho sinh viên tư duy làm chủ, có tinh thần

khởi nghiệp. Đưa chủ đề khởi nghiệp vào nội dung giảng dạy với các bài tập tình

huống và yêu cầu lập kế hoạch kinh doanh khởi nghiệp. Nhà trường cần có các định

hướng rõ ràng với các giảng viên để hoạt động giảng dạy khơng chỉ còn là truyền

đạt kiến thức, kinh nghiệm kinh doanh mà còn truyền cả nhiệt huyết, đam mê và

tình yêu đối với kinh doanh. Thường xuyên mời các doanh nhân thành đạt lẫn chưa

thành đạt (hay thất bại khi khởi nghiệp) để trao đổi ngun nhân thành cơng hay

thất bại của họ. Đó cũng là những kinh nghiệm quý báu mà một người muốn khởi

nghiệp cần biết. Những buổi hội thảo này luôn được giới trẻ quan tâm.

Cung cấp thông tin, xây dựng khu tập trung dịch vụ khởi nghiệp. Cổng thông

tin quốc gia về khởi nghiệp cần sớm được vận hành để cung cấp, hỗ trợ cho các nhà

khởi nghiệp tiềm năng các thông tin liên quan đến hoạt động khởi nghiệp, những

kiến thức cơ bản về khởi nghiệp, cổng thông tin này sẽ được tích hợp với website

của các cơ quan liên quan đến khởi nghiệp, các hội, hiệp hội, website địa phương,

các viện nghiên cứu, trường ĐH... tạo thành hệ sinh thái khởi nghiệp hồn chỉnh.

Nâng cao chính sách hỡ trợ từ Chính phủ: Trường cần kết hợp với các cơ

quan hữu quan tổ chức các buổi giao lưu trao đổi về hệ thống pháp luật, hỗ trợ pháp

lý để sinh viên có kiến thức về luật, có định hướng kinh doanh đúng đắn.

Vận động sinh viên mời thêm phụ huynh, bạn bè, người thân tham gia các

buổi học ngoại khóa, để họ lắng nghe những chia sẻ kiến thức kinh doanh thực tế,

những thành công đi lên từ thất bại, những sự làm giàu của doanh nhân từ hoạt động

kinh doanh, để họ có cái nhìn tích cực hơn đối với việc ủng hộ con em, bạn bè khởi



139



nghiệp sau khi tốt nghiệp.

5.2.2. Hàm ý chính sách về gắn kết với khởi nghiệp

Trước khi khởi nghiệp, sinh viên cần phải hình thành động lực thơng qua

nhận thức sự hấp dẫn của cơ hội khởi nghiệp, tự đánh giá năng lực khởi nghiệp, từ

đó hình thành các ý tưởng, khởi nghiệp cộng với đam mê để thực hiện những ý định

hành động khởi nghiệp đó. Những nhà khởi nghiệp thành cơng ngồi động lực, khát

vọng, ý chí, kiên trì phát triển các ý tưởng kinh doanh thì họ ln phải đối mặt với

nhiều trở ngại khó khăn và có thể sẵn sàng đón nhận sự thất bại. Giá trị trung bình

của thang đo đo lường yếu tố gắn kết với khởi nghiệp được thể hiện trong bảng 5.2.

“Để sinh viên có thể gắn bó với dự án của mình”, thì sinh viên cần được

trang bị rất nhiều nền tảng kiến thức khởi nghiệp có liên quan như: kiến thức về thị

trường sản phẩm, dịch vụ, bán hàng và marketing, đối thủ cạnh tranh, công nghệ,

nguồn nhân lực, luật pháp… . Kỹ năng quản lý con người là không thể thiếu đối với

các nhà khởi nghiệp. Ngoài ra, sinh viên phải trực tiếp tham gia đầu tư tài chính,

mang tâm huyết vào ý tưởng khởi nghiệp của mình thì mới có thể gắn kết với mục

tiêu khởi nghiệp. Nội dung một số chương trình đào tạo đều được xây dựng trên nền

tảng giả định rằng DN đang ổn định với hệ thống tổ chức đã được xác lập, phân

chia rõ ràng thành các chức năng chuyên môn. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu về khởi

nghiệp chỉ ra rằng có ít hơn 40% DN mới có thể sống sót qua cột mốc 3 năm. Vì

vậy, việc điều chỉnh nội dung đào tạo là hết sức cần thiết. Đồng thời, tiếp tục đẩy

mạnh triển khai nhiều hoạt động đào tạo kỹ năng khởi nghiệp, đào tạo giảng viên

nguồn, các chương trình giao lưu và các hoạt động liên kết với các DN.

Bảng 5.2: Thống kê giá trị trung bình thang đo yếu tố gắn kết với khởi nghiệp



hiệu

COM

4

COM

2

COM

1



Nội dung thang đo

Tơi gắn bó với dự án của mình vì tơi thấy cơ hội

hấp dẫn hơn là vì khả năng của tơi.

Sẽ rất khó để tơi từ bỏ dự án ngay bây giờ, ngay

cả khi tôi muốn.

Tơi khơng sợ những gì có thể xảy ra nếu tơi từ

bỏ dự án khởi nghiệp của mình mà khơng có



Giá trị

Độ lệch

trung bình chuẩn

5,34



1,43



5,30

5,29



1,45

1,38



140



một kế hoạch khác.

COM

3



Tơi đã tốn kém rất nhiều vì vậy tơi khơng thể

nào từ bỏ được dự án của mình



5,17



1,64



Nguồn: Kết quả xử lý từ khảo sát của tác giả

Ngồi ra, để sinh viên khơng từ bỏ dự án của mình, kinh nghiệm các nước

đang phát triển cho thấy, các trường ĐH luôn là tác nhân thúc đẩy sự kiên trì khởi

nghiệp của sinh viên. Đặc biệt là, khối các trường thuộc ngành kinh tế và quản trị

kinh doanh (Solomon, 2007). Đã có một số trường ĐH đưa vào chương trình giảng

dạy về khởi nghiệp dưới dạng các chuyên đề, một số khác như trường ĐH Kinh tế

TP.HCM đã đưa ra hẳn một chuyên ngành mới là Quản trị khởi nghiệp. Tuy nhiên,

như thế vẫn còn ít, cuộc cách mạng cơng nghiệp 4.0 sẽ khơng dành cơ hội cho

những người chậm chân. Các trường ĐH cần đổi mới nhận thức quan điểm và mục

tiêu đào tạo khơng chỉ nhằm mục đích cho sinh viên có kiến thức để đi làm tại DN

mà phải có một tinh thần khởi nghiệp, chú ý đến đổi mới sáng tạo.

Để sinh viên không lo sợ thất bại trong quá trình khởi nghiệp, các cơ sở đào

tạo ĐH cần nhận thức được vai trò quan trọng của mình trong việc tạo dựng tiềm

năng khởi nghiệp cho sinh viên. Để có số lượng doanh nhân trẻ năng động đón đầu

xu hướng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, các cơ sở đào tạo ĐH phải đóng

góp cho các hoạt động thúc đẩy gắn kết, kiên trì khởi nghiệp cũng như nhận thức

được vai trò quan trọng của mình trong thúc đẩy tiềm năng khởi nghiệp. Cần có lực

lượng giảng viên nòng cốt hoặc thỉnh giảng xuất thân từ các nhà quản lý DN nhằm

tạo được môi trường hỗ trợ cho việc phát triển khả năng cá nhân, hỗ trợ cho việc

học tập của sinh viên có hiệu quả và phải là nơi khơi gợi tinh thần khởi nghiệp của

giới trẻ.

Cuối cùng, cần tăng cường tính ứng dụng, thực tiễn trong đào tạo. Liên kết

chặt chẽ với các DN nhằm kết nối để đưa sinh viên đến thực tập, tiếp thu kinh

nghiệm và làm việc tại các DN này. Xây dựng các trung tâm ươm tạo DN trong các

trường ĐH. Đây sẽ là nơi cung cấp các hoạt động ngoại khóa hữu ích nhằm gia tăng

cơ hội trải nghiệm khởi nghiệp thực tế. Riêng đối với các cơ quan quản lý cấp vĩ mô



141



và cơ quan truyền thông trong thời gian tới cần tăng cường các hoạt động thúc đẩy

tinh thần khởi nghiệp trên phạm vi cả nước (như chương trình VTV – quốc gia khởi

nghiệp đang thực hiện) và cung cấp các chương trình hỗ trợ cho các trường ĐH

trong các hoạt động gia tăng tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên.



5.2.3. Hàm ý chính sách về nhận thức khả năng khởi nghiệp

Nhận thức khả năng khởi nghiệp đề cập đến tính khả thi, năng lực và khả

năng mà nhà khởi nghiệp có thể điều hành các dự án khởi nghiệp. Giá trị trung bình

của thang đo đo lường yếu tố nhận thức khả năng khởi nghiệp thể hiện trong bảng

5.3.

Như vậy, để tăng cường năng lực của các nhà khởi nghiệp tiềm năng đối

tượng là sinh viên, cần chú ý đến một số vấn đề sau:

Để sinh viên có thể tin tưởng vào sự thành công dự án của mình, cần tăng

cường tổ chức các lớp ngoại khóa cho sinh viên tham quan thực tế DN khởi nghiệp,

giúp sinh viên học hỏi mơ hình tổ chức kinh doanh thực tế. Thơng qua đó, sinh viên

có thể lựa chọn mơ hình kinh doanh phù hợp cho bản thân trong tương lai, từ đó họ

vạch ra kế hoạch kinh doanh thật chi tiết, rõ ràng để thực hiện ý định hành động

khởi nghiệp của mình. Đồng thời thành lập câu lạc bộ khởi nghiệp, sưu tầm những

đoạn phim về tấm gương doanh nhân thành đạt và cả những bạn trẻ dám mạo hiểm

kinh doanh, nhưng chưa thành cơng. Thơng qua đó, sinh viên sẽ lắng nghe những

thất bại và cả sự thành công trong kinh doanh để họ dám đối diện với thất bại, xem

thất bại như bài học về “văn hóa thất bại” trong kinh doanh. Vượt qua trở ngại này,

sinh viên sẽ sẵn sàng chấp nhận rủi ro khi khởi nghiệp.

Bảng 5.3: Thống kê giá trị trung bình thang đo yếu tố nhận thức khả năng khởi

nghiệp



hiệu

FEA



Nội dung thang đo

Tin tưởng vào khả năng tồn tại và tăng trưởng



Giá trị

Độ lệch

trung bình chuẩn

5,37

1,40



142



1

FEA

3

FEA

4



của dự án khởi nghiệp nếu tơi có ý định khởi

nghiệp

Kiến thức và kinh nghiệm là động lực cho tôi

khởi nghiệp

Mạng lưới các mối quan hệ thuận lợi cho việc

khởi nghiệp của tôi



5,32



1,40



5,28



1,39



Nguồn: Kết quả xử lý từ khảo sát của tác giả

Để tăng cường kiến thức và kinh nghiệm cho sinh viên thì cần liên kết với

các DN khởi nghiệp thành công mở các lớp đào tạo khởi nghiệp cho sinh viên nhằm

cung cấp cho họ khả năng nhận thức và kỹ năng tốt để biến vấn đề thành cơ hội và

sẽ tự bản thân xử lý dự án của mình để phát triển kỹ năng khi trở thành doanh nhân.

Nhà trường cần tăng cường các hoạt động truyền cảm hứng, hoạt động ngoại khóa

về khởi nghiệp cho sinh viên, liên kết với các tổ chức trong và ngồi nước và các

DN khởi nghiệp thành cơng tổ chức cuộc thi khởi nghiệp để tìm kiếm tài năng

doanh nhân trẻ. Hình thành các trung tâm ươm tạo khởi nghiệp nhằm định hướng rõ

ràng, cụ thể cho ý tưởng kinh doanh xã hội của sinh viên được hiện thực hóa. Sinh

viên được học cách quản lý, điều hành, dẫn dắt và định hướng doanh nghiệp của

mình như doanh nhân thực thụ. Hơn nữa, cũng cần có những chính sách ưu tiên để

khuyến khích đối với những sinh viên nghiên cứu về khởi nghiệp.

Để sinh viên có nhiều mối quan hệ xã hội cần nâng cao vai trò của các cấp

chính quyền địa phương và hiệp hội đối với thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp.

Chính quyền địa phương triển khai thực hiện chính sách phù hợp, chủ động tháo gỡ

khó khăn cho các DN, tăng cường phối hợp chặt chẽ có hiệu quả giữa các ngành,

địa phương và với trung ương. Tiếp tục đẩy mạnh đơn giản hóa thủ tục hành chính,

cải thiện mơi trường kinh doanh tại địa phương để tạo điều kiện thuận lợi và tiết

kiệm thời gian, chi phí cho DN khởi nghiệp. Các hiệp hội DN, hiệp hội ngành nghề

cần nâng cao uy tín năng lực và tầm ảnh hưởng các tổ chức. Phát huy vai trò là cầu

nối giữa các cơ quan quản lý nhà nước và DN, tham vấn DN khởi nghiệp. Thực

hiện tốt vai trò là kênh quan trọng phản biện chính sách về DN, cho phép cộng đồng

DN được giám sát và chấm điểm các cơ quan chính quyền và Chính phủ để làm cơ

sở đánh giá, cải thiện các chất lượng dịch vụ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CỦA NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×