Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chất lượng không khí trong nhà và nồng độ các chất ô nhiễm

Chất lượng không khí trong nhà và nồng độ các chất ô nhiễm

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn tốt nghiệp

Nghiên cứu điều kiện vi khí hậu, CO, CO2 trong phòng học trung tâm Anh ngữ ILA theo thời gian



từ chính các tòa nhà (vật liệu xây dựng và trang trí nội thất, thiết bị điện tử và hệ

thống sưởi, thơng gió và hệ thống điều hòa khơng khí).

Chất lượng khơng khí trong nhà có thể được xem xét bằng cách đo các tính

chất vật lý và hóa học của khơng khí và so sánh chúng với các giá trị hướng dẫn,

các tiêu chuẩn. Tuy nhiên, việc điều chỉnh chất lượng khơng khí trong nhà bằng

cách xác định giá trị hướng dẫn cho tất cả các hợp chất có mặt trong mơi trường

khơng khí và có vẻ không thực tế, đặc biệt là xem xét rằng mỗi ngày có nhiều hợp

chất mới được phát hiện trong nhà.

Một phương pháp để mơ tả chất lượng khơng khí trong nhà có thể đơn giản

là bằng cách hỏi những người ở bên trong tòa nhà để đánh giá liệu chất lượng khơng

khí trong nhà là tốt hay kém. Một cách tiếp cận tương tự đã được sử dụng để thiết

lập các u cầu về thơng gió của mơi trường trong nhà phi công nghiệp từ các

nghiên cứu của Yaglou và cộng sự (1936), nghiên cứu đánh giá cường độ mùi bởi

những người ở trong nhà. Nghiên cứu này sau đó đã được minh chứng qua một

nghiên cứu khác của Fanger và cộng sự (1988) cũng sử dụng các đánh giá khả năng

chấp nhận mùi sử dụng phương pháp đánh giá của những người trong tòa nhà. Tuy

nhiên, phương pháp chỉ áp dụng cho các hợp chất có thể được cảm nhận của con

người.

1.5. Các yếu tố gây ô nhiễm không khí trong nhà

Theo US EPA, có ba nguồn chính của chất gây ơ nhiễm ảnh hưởng đến chất

lượng khơng khí trong nhà:

-



1. Trong nhà

Các hoạt động cá nhân (hút thuốc lá hoặc vệ sinh cá nhân);

Dọn dẹp nhà cửa(khử mùi, chất tẩy rửa, hoặc bụi);

Các hoạt động bảo trì (tu sửa, nội thất mới / thảm, hoặc kiểm soát dịch hại);

Các loại khác: Khí thải từ các thiết bị văn phòng (máy photocopy, VDT);

Vật tư văn phòng (mực, các sản phẩm giấy khơng cacbon);

Sự cố tràn chất lỏng hoặc rò rỉ;

Số lượng người trong phòng;

Tiện nghi về nhiệt và / hoặc độ ẩm.

2. Ngồi trời

Khơng khí bị ơ nhiễm ngồi trời (khí thải xe, phấn hoa, hoặc các chất ơ nhiễm

công nghiệp);

Gần các nguồn ô nhiễm như: thùng rác, bến xe, hoặc khí thải từ các tòa nhà;

Khí đất (chất hóa học, bể chứa ngầm, hoặc thuốc trừ sâu);

Vi sinh vật (nấm mốc).



SVTH: Nguyễn Bình Phương Ngân Trinh

GVHD: TS. Nguyễn Lữ Phương



8



Luận văn tốt nghiệp

Nghiên cứu điều kiện vi khí hậu, CO, CO2 trong phòng học trung tâm Anh ngữ ILA theo thời gian



-



3. Hệ thống HVAC (hệ thống sưởi ấm, điều hòa, thơng gió)

Phân phối khơng đủ khơng khí sạch trong hệ thống thơng gió;

Bụi trong đường ống;

Bộ lọc khơng khí bẩn;

Tăng trưởng vi sinh trong ống thơng gió và / hoặc máy làm ẩm.



1.6. Hội chứng bệnh trong nhà (Sick Building Syndrome – SBS)

1.6.1 Hội chứng bệnh trong nhà là gì?

Cuối thập niên 70, người ở trong nhà mới, văn phòng và vườn ươm thường

bị các triệu chứng mệt mỏi khó chịu khơng đặc hiệu, giới truyền thơng gọi là “bệnh

văn phòng” (office illness). Thuật ngữ “Hội chứng bệnh trong nhà” (sick building

syndrome SBS) được WHO đặt tên năm 1986, khi họ cũng ước tính có từ 10-30%

các tòa nhà văn phòng ở phương Tây bị ảnh hưởng. Các nghiên cứu ở Đan Mạch và

Anh đưa ra những triệu chứng chẩn đoán. Trong những năm 90, SBS được nghiên

cứu sâu rộng, nhiều yếu tố vật lý và hóa học khác nhau trong các tòa nhà đã được

thẩm tra.

Hội chứng bệnh trong nhà (sick buiding syndrome, SBS) là tập hợp các

loại bệnh của những người làm việc văn phòng, cao ốc hay mắc phải. Bệnh văn

phòng có 4 điểm chung: (1) bệnh liên quan đến thời gian làm việc văn phòng, (2)

bệnh hết khi nghỉ làm việc, (3) tái phát khi làm việc trở lại và (4) đồng nghiệp cùng

phòng cũng bị tương tự.

1.6.2 Biểu hiện của hội chứng bệnh trong nhà (SBS)

Theo US EPA 1991, các biểu hiện của hội chứng bệnh trong nhà bao gồm các

biểu hiện sau:

-



-



Những người làm việc trong tòa phàn nàn về triệu chứng liên quan với cảm

giác khó chịu cấp tính, ví dụ, nhức đầu; mắt, mũi hoặc họng; ho khan; da khơ

hoặc ngứa; chóng mặt và buồn nơn; khó khăn trong việc tập trung; mệt mỏi;

và nhạy cảm với mùi.

Các nguyên nhân gây ra các triệu chứng không được biết.

Hầu hết các triệu chứng giảm ngay sau khi rời khỏi tòa nhà.



1.6.3 Bệnh liên quan đến toà nhà (Building Related Illness – BRI)

Theo US EPA 1991, Thuật ngữ “bệnh liên qua đến tòa nhà” (BRI) được sử

dụng khi các triệu chứng của bệnh có thể chẩn đốn được xác định và có thể gây ra

trực tiếp do các chất ơ nhiễm trong khơng khí trong nhà.



SVTH: Nguyễn Bình Phương Ngân Trinh

GVHD: TS. Nguyễn Lữ Phương



9



Luận văn tốt nghiệp

Nghiên cứu điều kiện vi khí hậu, CO, CO2 trong phòng học trung tâm Anh ngữ ILA theo thời gian



Một số biểu hiện của BRI bao gồm:

-



Những người trong tòa nhà phàn nàn về các triệu chứng như ho; tức ngực;

sốt, ớn lạnh; và đau nhức cơ bắp;

Các triệu chứng có thể được xác định lâm sàng và có nguyên nhân xác định

rõ ràng;

Người mắc phải có thể cần thời gian phục hồi dài sau khi rời khỏi tòa nhà.



1.6.4 Các nguyên nhân gây ra Hội chứng bệnh trong nhà (SBS)

Một số các nguyên nhân gây ra Hội chứng bệnh trong nhà đã được US EPA chỉ ra

như sau:

-



-



-



-



Do hệ thống thơng gió khơng phù hợp: Thơng gió khơng đủ, có thể xảy ra

nếu hệ thống sưởi ấm, thơng gió và điều hòa khơng khí (HVAC) khơng phân

phối có hiệu quả khơng khí cho mọi người trong tòa nhà, được cho là một

yếu tố quan trọng gây ra SBS.

Các chất ơ nhiễm hóa học từ các nguồn trong nhà: Hầu hết ơ nhiễm khơng

khí trong nhà có nguồn từ bên trong tòa nhà. Ví dụ, lót thảm, nệm ghế, sản

xuất các sản phẩm gỗ, máy photocopy, thuốc trừ sâu và các chất tẩy rửa có

thể phát thải ra các hợp chất hữu cơ bay hơi (VOC), bao gồm cả

formaldehyde.

Các chất ơ nhiễm hóa học từ các nguồn bên ngồi: Khơng khí ngồi trời đi

vào tòa nhà có thể là một nguồn gây ơ nhiễm khơng khí trong nhà. Ví dụ, các

chất ơ nhiễm từ khí thải xe cơ giới; lỗ thơng hơi ống nước, ống xả và xây

dựng (ví dụ, phòng tắm và nhà bếp) có thể vào tòa nhà qua lỗ thơng hơi kém.

Chất ô nhiễm sinh học: Vi khuẩn, nấm mốc, phấn hoa, và virus là loại chất ô

nhiễm sinh học. Những chất gây ơ nhiễm có thể sinh sản trong nước trì trệ đã

tích tụ trong ống dẫn, trên gạch trần, lót thảm, hay chất cách điện. Đơi khi

cơn trùng hoặc phân chim có thể là một nguồn ơ nhiễm.



1.7. Tiêu chuẩn ASHRAE

1.7.1 ASHRAE là gì?

ASHRAE là viết tắt của Hiệp hội các hệ thống sưởi ấm, làm lạnh và điều hòa

khơng khí, là cơ quan kỹ thuật phát triển và duy trì các tiêu chuẩn thơng gió cho

Hoa Kỳ. Mã thơng gió và các chương trình hiệu quả năng lượng trên khắp nước Mỹ

được dựa trên các tiêu chuẩn ASHRAE.



SVTH: Nguyễn Bình Phương Ngân Trinh

GVHD: TS. Nguyễn Lữ Phương



10



Luận văn tốt nghiệp

Nghiên cứu điều kiện vi khí hậu, CO, CO2 trong phòng học trung tâm Anh ngữ ILA theo thời gian



1.7.2 Tiêu chuẩn ASHRAE dành cho các lớp học

Sổ tay hướng dẫn của ASHRAE về HVAC 2011 đã giới thiệu một số các tiêu

chuẩn trong phòng học như sau:

Bảng 1.1 Khoảng nhiệt độ và độ ẩm đề nghị điển hình đối với phòng học, thư

viện và phòng thí nghiệm của học sinh từ tiểu học đến trung học

Các điều kiện thiết kế trong phòng

Nhiệt độ (oC)

Độ ẩm

Mùa đơng



Mùa hè



30% rh



20,3 đến 24,2



23,3 đến 26,7



40% rh



20,0 đến 23,9



23,1 đến 26,7



50% rh



20,3 đến 23,6



22,8 đến 26,1



60% rh



19,7 đến 23,3



22,8 đến 25,8

(Nguồn: ASHRAE handbook, 2011)



Bảng 1.2 Tiêu chuẩn thiết kế đề nghị điển hình cho thơng gió và lọc khí phòng

học của học sinh

Phân loại



Kết hợp khơng

khí ngồi trời



Mật độ người

trong phòng



Hiệu quả lọc tối

thiểu



(L/s cho mỗi

người)



(trong mỗi 100m2)



(MERV)



Học sinh từ 5 đến

8 tuổi



7.4



25



6 đến 8



Học sinh từ 9 tuổi

trở lên



6.7



35



6 đến 8



(Nguồn: ASHRAE handbook, 2011)



SVTH: Nguyễn Bình Phương Ngân Trinh

GVHD: TS. Nguyễn Lữ Phương



11



Luận văn tốt nghiệp

Nghiên cứu điều kiện vi khí hậu, CO, CO2 trong phòng học trung tâm Anh ngữ ILA theo thời gian



1.7.3 Kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm

Các hoạt động trong lớp học đòi hỏi phải kiểm soát độ ẩm đặc biệt. Lớp học

yêu cầu kiểm soát độ ẩm để cung cấp sự thoải mái và ngăn ngừa các vấn đề liên

quan đến độ ẩm (ví dụ như sự tăng trưởng của bụi và nấm, gây dị ứng, v.v…). Độ

ẩm thấp, mặt khác, làm tăng tuổi thọ của các virus lây nhiễm, và gây lây nhiễm giữa

các học sinh trong lớp.

Tương tự đối với nhiệt độ, nhiệt độ qua các nghiên cứu cũng đã chỉ ra có mối

liên hệ đối với khả năng tiếp thu của học sinh, do vậy việc kiểm soát các điều kiện

nhiệt độ và độ ẩm trong lớp học là một việc cần thiết. Nghiên cứu này sẽ sử dụng

tiêu chuẩn của Sổ tay hướng dẫn ASHRAE 2011 để so sánh với các kết quả thu

được.

1.8. Các quy định thiết kế thông số nhiệt độ và độ và độ ẩm bên trong nhà theo

TCVN 5687:2010/BXD

Bảng 1.3 Tiêu chuẩn thiết kế về nhiệt độ và độ ẩm theo TCVN 5687:2010/BXD

Mùa đông

Thứ

tự



Trạng thái

lao động



1



Mùa hè



Nhiệt độ

(oC)



Độ ẩm (%)



Nhiệt độ

(oC)



Độ ẩm (%)



Nghỉ ngơi

tĩnh tại



22 đến 24



70 đến 60



25 đến 28



70 đến 60



2



Lao động nhẹ



21 đến 23



70 đến 60



23 đến 26



70 đến 60



3



Lao động vừa



20 đến 23



70 đến 60



22 đến 25



70 đến 60



4



Lao động

nặng



18 đến 20



70 đến 60



20 đến 23



70 đến 60



Đối với môi trường là lớp học thì có thể sử dụng các thơng số theo mức Lao động

nhẹ của TCVN 5687:2010/BXD.



SVTH: Nguyễn Bình Phương Ngân Trinh

GVHD: TS. Nguyễn Lữ Phương



12



Luận văn tốt nghiệp

Nghiên cứu điều kiện vi khí hậu, CO, CO2 trong phòng học trung tâm Anh ngữ ILA theo thời gian



1.9. Các chất ô nhiễm khơng khí trong nhà được chọn để nghiên cứu trong đề

tài

1.9.1 CO

a. Tổng quan về CO

Carbon monoxide là một chất khí khơng mùi, khơng màu và độc hại. Bởi vì CO

là khí khơng thể nhìn thấy, nếm hay ngửi thấy mùi khói độc, CO có thể giết chết

người trước khi nhận biết được nó đang ở trong nhà. Những ảnh hưởng của phơi

nhiễm CO có thể khác nhau tùy thuộc vào tuổi tác, sức khỏe tổng thể và nồng độ và

thời gian tiếp xúc.

b. Nguồn phát sinh CO trong nhà

Hít thở là con đường tiếp xúc duy nhất của con người với CO. Phát thải từ các

hoạt động của con người chiếm khoảng hai phần ba lượng carbon monoxide trong

khơng khí và khí thải tự nhiên chiếm một phần ba còn lại. Một lượng nhỏ cũng

được sản sinh trong cơ thể con người. Tiếp xúc với nồng độ thấp của khí carbon

monoxide có thể xảy ra ở ngồi trời gần đường giao thơng, khu vực đậu xe cũng có

thể là một nguồn carbon monoxide.

Carbon monoxide được sinh ra trong nhà từ các nguồn đốt (nấu ăn và sưởi ấm)

và thơng qua sự xâm nhập của khí carbon monoxide trong khơng khí ngồi trời vào

mơi trường trong nhà. Tại các nước đang phát triển, nguồn quan trọng nhất của việc

tiếp xúc với carbon monoxide trong khơng khí trong nhà là khí thải từ nấu ăn hoặc

làm nóng các thiết bị bị lỗi, cài đặt khơng đúng, kém duy trì hoặc ít thơng thống

đốt cháy nhiên liệu hóa thạch. Ở các nước đang phát triển, việc đốt các nhiên liệu

sinh khối và khói thuốc lá là nguồn quan trọng nhất của việc tiếp xúc với carbon

monoxide trong nhà. Ống khói bị tắc, lò sưởi đốt củi, lò sưởi trang trí, vòi đốt khí

mà khơng có tính năng an tồn làm việc đúng cách có thể đưa carbon monoxide vào

khơng gian trong nhà. Q trình oxy hóa thiếu oxy trong khi đốt có thể phát sinh ra

nồng độ cao khí carbon monoxide trong khơng khí trong nhà. Khói thuốc lá có thể

là một nguồn tiếp xúc chính trong nhà, cũng như từ xe ơ tơ hoạt động trong gara.

Q trình đốt nhiên liệu rắn bậc thấp và nhiên liệu sinh học ở một bếp nhỏ hoặc

lò sưởi có thể tạo ra khí thải carbon monoxide cao, có thể trở nên nguy hiểm với

người cư ngụ trừ khi các loại khí thải được thốt ra ngồi qua ống khói trong suốt

tồn bộ q trình đốt cháy. Vào lúc bắt đầu của quá trình đốt cháy, các chất ô nhiễm

phát hành bị chi phối bởi các hạt vật chất (carbon nguyên tố và hữu cơ) nhưng

carbon monoxide chiếm ưu thế về phía cuối. Quá trình đốt nhiên liệu bậc cao như

khí tự nhiên, butan hoặc propan thường tạo ra carbon monoxide ít hơn nhiều, với

SVTH: Nguyễn Bình Phương Ngân Trinh

GVHD: TS. Nguyễn Lữ Phương



13



Luận văn tốt nghiệp

Nghiên cứu điều kiện vi khí hậu, CO, CO2 trong phòng học trung tâm Anh ngữ ILA theo thời gian



điều kiện đủ khơng khí được cung cấp để đảm bảo đốt cháy hoàn toàn. Tuy nhiên,

ngay cả các thiết bị sử dụng nhiên liệu như vậy có thể gây ngộ độc carbon

monoxide chết người nếu không được bảo quản đúng cách hoặc thơng hơi hoặc nếu

khơng khí: tỷ lệ nhiên liệu không được điều chỉnh đúng.

c. Mối quan hệ giữa nồng độ CO trong nhà và ngoài trời

Carbon monoxide là một chất khí tương đối trơ trong điều kiện khơng khí xung

quanh và khơng được hấp thụ bởi các vật liệu xây dựng hoặc các bộ lọc trong hệ

thống thơng gió. Do đó, nồng độ khơng khí trong nhà cũng giống như nồng độ của

khơng khí ngồi trời cấp vào nhà dưới sự có mặt của carbon monoxide trong nhà.

Dưới những điều kiện này, tỷ lệ nồng độ carbon monoxide trong nhà và ngoài trời

(I: O) phải là 1.0; nhưng trong thực tế, tỷ lệ I:O đo được lại khác nhau vì hai lý do

sau:

 Nồng độ CO ngồi trời tại các điểm đo có thể là cao hơn hoặc thấp hơn đáng

kể so với nồng độ tại thời điểm lấy khí cấp vào. Do đó, ngay cả trong trường

hợp khơng có bất kỳ nguồn phát thải CO nào trong nhà, tỷ lệ nồng độ carbon

monoxide I : O trung bình 15 phút dao động từ 0,2 - 4,1 và tỷ lệ I : O trung

bình ngày là từ 0,4 đến 1,2.

 Đối với trường hợp các nguồn trong nhà bình thường, các thiết bị sử dụng

khí đốt và hút thuốc lá làm tăng tỷ lệ I : O.

d. Ảnh hưởng của khí CO đến sức khỏe của con người

Ở nồng độ thấp CO gây mệt mỏi ở những người khỏe mạnh và đau ngực ở

những người bị bệnh tim. Ở nồng độ vừa phải CO gây gây đau thắt ngực, suy giảm

thị lực hoặc giảm chức năng não. Khi ở nồng độ cao hơn CO gây đau đầu, chóng

mặt, buồn nơn. CO gây tử vong ở nồng độ rất cao, ảnh hưởng cấp tính là do sự hình

thành của carboxyhemoglobin trong máu, ức chế hấp thụ oxy.

1.9.2 CO2

a. Tại sao cần phải quan tâm nồng độ khí CO2 trong nhà?

Nồng độ khí CO2 trong nhà cần được quan tâm bởi CO2 ở nồng độ cao (ví dụ

lớn hơn 5000 ppm) có thể gây ảnh hưởng sức khỏe (Phụ lục B, Tiêu chuẩn

ASHRAE 62,1-2013). Tuy nhiên, trong hầu hết các tòa nhà, nồng độ CO2 gần như

khơng bao giờ tăng lên các mức. CO2 ở nồng độ thường thấy trong các tòa nhà

khơng phải là một nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, nhưng

nồng độ CO2 có thể được sử dụng như là một chỉ số về và khả năng chấp nhận mùi

của những người cư ngụ. Ở mức độ hoạt động bình bình thường trong các tòa nhà

văn phòng điển hình, nồng độ CO2 trạng thái ổn định khoảng 700 ppm cao hơn so

SVTH: Nguyễn Bình Phương Ngân Trinh

GVHD: TS. Nguyễn Lữ Phương



14



Luận văn tốt nghiệp

Nghiên cứu điều kiện vi khí hậu, CO, CO2 trong phòng học trung tâm Anh ngữ ILA theo thời gian



với nồng độ CO2 trong khơng khí ngồi trời và cho thấy một tỷ lệ thơng khơng khí

ngồi trời khoảng 7,5 L/ s/người (15 cfm / người). Các nghiên cứu trong phòng thí

nghiệm và hiện trường đã chỉ ra rằng tỷ lệ này của thơng gió sẽ pha lỗng mùi hơi

từ q trình trao đổi chất của con người đến mức độ mà sẽ đáp ứng một phần đáng

kể (khoảng 80%) của những người khơng thích ứng (khách) trong một khơng gian.

Nồng độ CO2 trong khơng khí ngồi trời thường nằm trong khoảng từ 300 đến 500

ppm. Do đó nồng độ CO2 trong nhà nằm trong khoảng từ 1000-1200 ppm trong với

người cư ngụ ít vận động sẽ làm hài lòng những người khách khi vào phòng về liên

quan đến mùi.

Tuy nhiên, lưu ý rằng nồng độ CO2 không phải là chỉ thị tốt về nồng độ và

khả năng chấp nhận người cư ngụ về các chất ô nhiễm trong nhà khác, chẳng hạn

như các hợp chất hữu cơ dễ bay từ đồ nội thất và vật liệu xây dựng. Do đó nồng độ

CO2 khơng phải là một chỉ số đáng tin cậy về chất lượng xây dựng không khí tổng

thể.

b. Nồng độ CO2 trong nhà phụ thuộc vào các yếu tố

-



Số người hiện diện trong phòng;

Thời gian trong khơng gian;

Lượng cấp khơng khí từ bên ngồi vào trong phòng;

Diện tích phòng;

Nồng độ các chất ơ nhiễm có trong khơng khí trong nhà (như từ khí thải xe cộ

gần nơi cấp khí và, lò sưởi, khói thuốc);

Nồng độ CO2 ngồi trời.

c. Ảnh hưởngcủa khí CO2 trong nhà đến sức khỏe con người

Bảng 1.4 Các mức ảnh hưởng của nồng độ CO2 trong nhà

Nồng độ CO2



Nhận xét



(ppm)

250 – 350



Nồng độ thơng thường trong mơi trường khơng khí bên ngồi.



350 – 1000



Nồng độ đặc trưng trong nhà với cấp khí tốt.



1000 – 2000



Có các phàn nàn về chất lượng khơng khí kém và mùi.



SVTH: Nguyễn Bình Phương Ngân Trinh

GVHD: TS. Nguyễn Lữ Phương



15



Luận văn tốt nghiệp

Nghiên cứu điều kiện vi khí hậu, CO, CO2 trong phòng học trung tâm Anh ngữ ILA theo thời gian



2000 – 5000



Gây nhức đầu, buồn ngủ và trì trệ, khơng khí ngột ngạt;

Kém tập trung, giảm sự chú ý, tăng nhịp tim và buồn nôn nhẹ.



5000



Giới hạn tiếp xúc với môi trường làm việc (8 giờ) ở hầu hết các

nước.



>40 000



Phơi nhiễm có thể dẫn đến thiếu ôxy nghiêm trọng dẫn đến tổn

thương não vĩnh viễn, hơn mê, thậm chí tử vong.

(Nguồn: www.kane.co.uk)



1.9.3 Các tiêu chuẩn để so sánh với nồng độ CO và CO2 đo đạc được

Bảng 1.5 Các tiêu chuẩn về nồng độ CO và CO2 trong nhà

Thông số



ASHRAE



Canada(a)



WHO/Europe(b)



US EPA(c)



CO2



1000 ppm



3500 ppm



-



-



CO



9 ppm (8h)



11 ppm (8h)



8,6 ppm (8h)



9 ppm (8h)



25 ppm (1h)



25 ppm (1h)



35 ppm (1h)



51 ppm (30 phút)

86 ppm (15 phút)

Chú thích: (a) Health Canada Exposure Guidelines for Residential Indoor Air Quality (Sổ tay

hướng dẫn mức độ phơi nhiễm cho chất lượng không khí trong nhà của Canada)

(b) WHO Air Quality Guidelines for Europe (Sổ tay hướng dẫn chất lượng khơng khí trong nhà của

Tổ chức Y tế thế giới đối với châu Âu)

(c) Tiêu chuẩn về chất lượng khơng khí xung quanh của US EPA



1.10. Một số loại thiết bị đo chất lượng khơng khí trong nhà

1.10.1 Thiết bị đo nồng độ khí CO2, nhiệt độ, độ ẩm cầm tay Model: pSensePlus

Thiết bị đo nồng độ khí CO2, nhiệt độ, độ ẩm cầm tay pSense-Plus có thể được

sử dụng để kiểm tra các mức CO2 của hệ thống HVAC, hệ thống thông gió, văn

phòng, trường học, nhà kính …

Đặc tính kỹ thuật:

SVTH: Nguyễn Bình Phương Ngân Trinh

GVHD: TS. Nguyễn Lữ Phương



16



Luận văn tốt nghiệp

Nghiên cứu điều kiện vi khí hậu, CO, CO2 trong phòng học trung tâm Anh ngữ ILA theo thời gian



-



 Cảm biến đo CO2

Nguyên lý đo: Hồng ngoại không phân tán

Chế độ lấy mẫu: khuếch tán

Tuổi thọ cảm biến: > 15 năm

 Dải đo:

CO2: 0 ~ 999 ppm

Nhiệt độ: 14 ~ 140 oF (-10 ~ 60oC)

Độ ẩm tương đối: 0.1% ~ 99.9%RH

 Độ chính xác:

CO2: ±30 ppm

Nhiệt độ: ±0.9oF (0.6oC)

Độ ẩm tương đối: ±3%RH

 Nguồn điện:

Pin trong: 4 viên pin kiềm AA cho phép làm việc liên tục trong 24h

Nguồn ngồi: Nắn dòng

 Thời gian khởi động: 30 giây

 Màn hình LCD: 26 x 44 mm

 Mức âm thanh cảnh báo: 80dB

 Hiệu chuẩn: hiệu chuẩn bằng tay với khơng khí sạch

 Kích thước: 209.4 x 70 x 57.7 mm

 Trọng lượng: 200 g



Hình 1.2 Thiết bị đo nồng độ khí CO2, nhiệt độ, độ ẩm cầm tay pSensePlus.



SVTH: Nguyễn Bình Phương Ngân Trinh

GVHD: TS. Nguyễn Lữ Phương



17



Luận văn tốt nghiệp

Nghiên cứu điều kiện vi khí hậu, CO, CO2 trong phòng học trung tâm Anh ngữ ILA theo thời gian



1.10.2 Thiết bị đo nồng độ khí CO Testo 317-3

Máy đo khí CO Testo 317-3 là thiết bị theo dõi phát hiện khí CO mơi trường

xung quanh và sẽ báo cho người sử dụng bằng âm thanh và ánh sáng khi nồng độ

khí CO vượt q giới hạn cho phép.

Thơng số kỹ thuật:

-



Dải đo 0 đến +1999 ppm

Cấp chính xác: ±10 ppm (0 đến+99 ppm)±10 % (+100 đến +499 ppm)±20 %

(>+500 ppm)

Độ phân dải: 1 ppm

Điều chỉnh được ngưỡng cảnh báo

Nhiệt độ hoạt động -5 to +45°C



Hình 1.3 Máy đo nồng độ CO Testo 317-3.

1.10.3 Nhận xét chung về các máy đo trên thị trường

Trên đây chỉ là hai máy đo tiêu biểu cho các thông số được lựa chọn đo trên

thị trường. Các máy đo cầm tay trên có ưu điểm là gọn nhẹ, cho kết quả chính xác

tuy nhiên giá thành của máy tương đối cao và chỉ có thể cho ra kết quả tức thời. Do

mục tiêu của nghiên cứu cần phải theo dõi các thông số CO, CO2, nhiệt độ và độ ẩm

trong một khoảng thời gian liên tục vì vậy những máy đo cầm tay như thế này là

khơng thích hợp. Trong chương sau, em sẽ giới thiệu chi tiết các cảm biến được lựa

chọn để lắp thiết bị riêng cho nghiên cứu.

Ngoài ra, nồng độ CO2 trong nhà còn được dùng để đánh giá tỷ lệ thơng gió

trong nhà.

SVTH: Nguyễn Bình Phương Ngân Trinh

GVHD: TS. Nguyễn Lữ Phương



18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chất lượng không khí trong nhà và nồng độ các chất ô nhiễm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×