Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kết cấu đề tài

Kết cấu đề tài

Tải bản đầy đủ - 0trang

PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THANH TRA THU, CHI

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1. Cơ sở lý luận về thanh tra thu, chi NSNN

1.1.1. Một số khái niệm

* Khái niệm về NSNN

Từ "ngân sách" được lấy từ thuật ngữ "budjet" một từ tiếng Anh thời Trung cổ, dùng

để mô tả chiếc túi của nhà vua trong đó có chứa những khoản tiền cần thiết cho những

khoản chi tiêu công cộng. Dưới chế độ Phong kiến, chi tiêu của nhà vua cho những

mục đích cơng cộng như: đắp đê phòng chống lũ lụt, xây dựng đường xá và chi tiêu

cho bản thân hoàng gia khơng có sự tách biệt nhau. Khi giai cấp tư sản lớn mạnh từng

bước khống chế nghị viện và đòi hỏi tách bạch hai khoản chi tiêu này, từ đó nảy sinh

khái niệm ngân sách Nhà nước (NSNN). Trong thực tiễn, khái niệm ngân sách thường

để chỉ tổng số thu và chi của một đơn vị trong một thời gian nhất định. Một bảng tính

tốn các chi phí để thực hiện một kế hoạch, hoặc một chương trình cho một mục đích

nhất định của một chủ thể nào đó. Nếu chủ thể đó là Nhà nước thì được gọi là NSNN.

Từ điển Tiếng Việt thông dụng định nghĩa: "Ngân sách: tổng số thu và chi của một

đơn vị trong một thời gian nhất định." Điều 4 và 5 của Luật NSNN được Quốc hội

khố XIII nước Cộng hồ XHCN Việt Nam thơng qua năm 2015 ghi rõ: NSNN là

tồn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng

thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực

hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước [6].

Xét về bản chất kinh tế chứa đựng trong NSNN: Các hoạt động thu, chi ngân sách

đều phản ánh những quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội

gắn với quá trình tạo lập quản lý và sử dụng quỹ NSNN. Hoạt động đó đa dạng được

tiến hành trên hầu khắc các lĩnh vực và có tác động đến mọi chủ thể kinh tế xã hội.

Những quan hệ thu nộp cấp phát qua quỹ NSNN là những quan hệ được xác định

trước, được định lượng và nhà nước sử dụng chúng để điều tiết vĩ mô kinh tế xã hội.

Như vậy, trên phương diện kinh tế có thể hiểu NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế

phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ chung của

Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực

hiện các chức năng của mình trên cơ sở luật định.

* Khái niệm về thu NSNN

Thu NSNN bao gồm toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí; tồn bộ các khoản phí thu

từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khốn chi

phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị

sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo

quy định của pháp luật; các khoản viện trợ khơng hồn lại của Chính phủ các nước,

các tổ chức, cá nhân ở ngồi nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa

phương; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật [6].

Quản lý thu NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống các cơng cụ chính sách,

pháp luật để tiến hành quản lý thu thuế và các khoản thu ngoài thuế vào NSNN nhằm

đảm bảo tính cơng bằng khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển. Đây là khoản

tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn

trả trực tiếp cho đối tượng nộp ngân sách. Phần lớn các khoản thu NSNN đều mang

tính chất cưỡng bức, bắt buộc mọi người dân, mọi thành phần kinh tế phải tuân thủ

thực hiện. Trong việc quản lý các nguồn thu ngân sách, thuế là nguồn thu quan trọng



3



nhất. Thuế không chỉ chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số thu Ngân sách nhà nước

hàng năm mà còn là công cụ của nhà nước để quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân. Để

phát huy tốt tác dụng điều tiết vĩ mơ của các chính sách thuế, ở nước ta cũng như các

nước khác trên thế giới, nội dung của chính sách thuế thường xuyên thay đổi cho phù

hợp với diễn biến thực tế của đời sống kinh tế xã hội (KT-XH) và phù hợp với yêu

cầu của quản lý kinh tế, tài chính.

* Khái niệm về chi NSNN

Chi NSNN bao gồm chi đầu tư phát triển; chi dự trữ quốc gia; chi thường xuyên; chi

trả nợ lãi; chi viện trợ; các khoản chi khác theo quy định của pháp luật [6].

- Quản lý chi NSNN: Quản lý chi ngân sách là quá trình phân phối lại quỹ tiền tệ tập

trung một cách có hiệu quả nhằm thực hiện chức năng của nhà nước trên cơ sở sử

dụng hệ thống chính sách, pháp luật. Chi ngân sách mới thể hiện ở khâu phân bổ ngân

sách còn hiệu quả sử dụng ngân sách như thế nào thì phải thơng qua các biện pháp

quản lý. Rõ ràng quản lý chi ngân sách sẽ quyết định hiệu quả sử dụng vốn ngân sách.

Quản lý chi NSNN là quá trình thực hiện có hệ thống các biện pháp phân phối và sử

dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm phục vụ chi tiêu cho bộ máy và thực hiện các chức

năng của Nhà nước. Thực chất quản lý chi NSNN là quá trình sử dụng các nguồn vốn

chi tiêu của Nhà nước từ khâu lập kế hoạch đến khâu sử dụng ngân sách đó nhằm

đảm bảo q trình chi tiết kiệm và hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của thực tế đang đặt

ra theo đúng chính sách chế độ của nhà nước phục vụ các mục tiêu kinh tế - xã hội.

Vấn đề quan trọng trong quản lý chi NSNN là việc tổ chức quản lý giám sát các

khoản chi sao cho tiết kiệm và có hiệu quả cao. Quản lý chi NSNN là hoạt động

không thể thiếu ở mọi quốc gia, hoạt động này không chỉ giúp tiết kiệm những khoản

chi khơng cần thiết mà còn hạn chế tình trạng thâm hụt ngân sách, tham ô, tham

nhũng.

* Khái niệm về thanh tra

Thanh tra (inspect) xuất phát từ gốc La-tinh (in-spectare) có nghĩa là “nhìn vào bên

trong” chỉ một sự xem xét từ bên ngoài vào hoạt động của một đối tượng nhất định; là

sự kiểm soát đối với đối tượng được thanh tra trên cơ sở thẩm quyền (quyền hạn và

nghĩa vụ) được giao nhằm đạt được mục đích nhất định. Thanh tra mang tính quyền

lực, thơng qua cơng tác thanh tra thường là phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy

định.

Theo Từ điển tiếng Việt (năm 1992) thì thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc

làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp.

Từ khái niệm trên cho thấy, thanh tra không đồng nhất với hoạt động điều hành, quản

lý, khác với hoạt động kiểm tra chuyên môn, nghiệp vụ. Trong hoạt động, thanh tra

thực thi quyền lực của Nhà nước, tác động đến đối tượng bị quản lý, nhằm mang lại

cho chủ thể quản lý những thông tin chính xác, khách quan, để từ đó có biện pháp

chấn chỉnh hoạt động quản lý. Hoạt động thanh tra khơng chỉ xem xét tính hợp pháp,

mà còn xem xét tính hợp lý của hành vi của đối tượng quản lý. Bản chất của hoạt

động thanh tra không phải chỉ là phát hiện, xử lý vi phạm, mà điều quan trọng hơn là

tìm ra nguyên nhân vi phạm để từ đó đề xuất các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn vi

phạm. Nếu cho rằng, thanh tra là phát hiện hành vi vi phạm và áp dụng biện pháp xử

phạt vi phạm hành chính thì đó là việc nhận thức khơng đúng với bản chất của hoạt

động thanh tra. Ngược lại, thanh tra phải chỉ ra được những việc làm được, những

thiếu sót, khuyết điểm và nguyên nhân của nó và phải thực sự trở thành ''tai mắt của

trên, là người bạn của dưới''.



4



Tại Điều 3, Luật Thanh tra năm 2010: Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh

giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm

quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan,

tổ chức, cá nhân [7].

Quy định trên đây đã đưa ra những đặc trưng quan trọng của Thanh tra nhà nước như

sau:

- Về chủ thể: Đó là các cơ quan quản lý nhà nước. Thanh tra được coi là chức năng

thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước, là công cụ quan trọng của quản lý nhà nước.

Hoạt động đó có thể do thủ trưởng cơ quan quản lý quyết định hoặc do một loại cơ

quan nằm trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước tiến hành, đó là các cơ quan thanh

tra nhà nước.

- Về đối tượng: Đó là các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý. Có thể thấy đối

tượng thanh tra là rất rộng, tương ứng theo đối tượng quản lý.

- Về nội dung thanh tra: Đó là xem xét, đánh giá, xử lý việc thực hiện chính sách,

pháp luật. Như vậy, nội dung thanh tra là khá tồn diện, nó bao gồm từ việc xem xét

làm rõ hoạt động hay hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân, đánh giá những hoạt

động và hành vi đó, đồng thời đưa ra những biện pháp xử lý kịp thời bảo đảm hiệu

quả, hiệu lực của công tác quản lý.

* Khái niệm về thanh tra thu, chi NSNN

Thanh tra quản lý NSNN hay là thanh tra thu, chi NSNN là một phần trong hoạt động

thanh tra tài chính, thuộc lĩnh vực thanh tra nhà nước. Trong thời gian qua, xã hội đã

chứng kiến rất nhiều vụ án với giá trị sai phạm rất lớn, mà chủ yếu phát sinh trong

lĩnh vực chi tiêu ngân sách nhà nước, gây thiệt hại rất lớn cho ngân sách nhà nước.

Đồng tiền của Nhà nước chi ra đã không mang lại hiệu quả phục vụ cho sự phát triển

của đất nước, bị thất thốt và lãng phí rất nhiều. Từ những thực trạng đó, Đảng và

Nhà nước ta hiện nay rất quan tâm đến cơng tác thanh tra tài chính, trong đó thanh tra

quản lý NSNN được dư luận đặc biệt quan tâm và là một đòi hỏi cần thiết nhất đối

với cơng cuộc phòng, chống tham nhũng hiện nay ở nước ta.

Từ những quan điểm về NSNN và công tác thanh tra, có thể hiểu thanh tra quản lý

NSNN là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc

thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước về công tác thu và chi NSNN, nhằm

đảm bảo công tác thu, chi NSNN của các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền thực hiện

theo đúng quy định của pháp luật, đồng thời có kiến nghị chấn chỉnh hoặc xử lý

những sai phạm nếu có.

1.1.2. Sự cần thiết của hoạt động thanh tra thu, chi NSNN

Sự cần thiết của hoạt động thanh tra thu, chi NSNN bắt nguồn từ những lý do:

- Thanh tra thu, chi NSNN là chức năng thiết yếu của QLNN về thu, chi NSNN:

Thanh tra là phạm trù gắn liền với hoạt động QLNN. Thanh tra chỉ xuất hiện, tồn tại

và phát triển trong xã hội có Nhà nước. Hoạt động thanh tra bắt nguồn từ tính chất và

chức năng hoạt động QLNN. Nhà nước không thể quản lý, điều hành mọi hoạt động

kinh tế, xã hội nếu thiếu công tác thanh tra và kiểm tra. Như vậy thanh tra là một nội

dung không thể thiếu của QLNN, là một giai đoạn của chu trình quản lý, có vai trò

kiểm định, đánh giá hiệu quả của QLNN. Hoạt động QLNN cần thiết phải có thanh

tra và thanh tra phải phục vụ cho yêu cầu QLNN [9].

- Thanh tra là phương thức đảm bảo trật tự kỷ cương trong quản lý, góp phần tăng

cường pháp chế XHCN: Với chức năng giám sát hoạt động của các đối tượng bị quản

lý, thanh tra có thể kịp thời phát hiện những sai phạm và có biện pháp xử lý. Với chức



5



năng, nhiệm vụ xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các quyết định hoặc hành

vi hành chính của cán bộ, cơng chức Nhà nước trong việc thực hiện chính sách, pháp

luật, chức trách, nhiệm vụ được giao, thanh tra góp phần đảm bảo trật tự, kỷ cương

trong quản lý, làm trong sạch bộ máy Nhà nước. Mặt khác, việc tìm ra sơ hở, yếu kém

trong công tác quản lý, phát hiện những nộ dung trong chủ trương, chính sách chưa

phù hợp với yêu cầu thực tế khách quan, từ đó có các biện pháp sửa đổi, bổ sung,

khắc phục kịp thời cũng có ý nghĩa tích cực trong việc củng cố trật tự, kỷ cương hoàn

thiện cơ chế quản lý

- Thanh tra là một phương thức góp phần bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân. Dân

chủ của nhân dân được thực hiện thơng qua người đại diện của mình là Nhà nước.

Các tổ chức Thanh tra Nhà nước tạo điều kiện để nhân dân thực hiện quyền dân chủ

của mình thơng qua việc tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; thông

qua việc giúp đỡ các Ban Thanh tra nhân dân hoạt động. Đồng thời, qua việc xem xét,

kết luận và kiến nghị giải quyết khiếu nại, tố cáo, phát hiện kịp thời những biểu hiện

quan liêu, tiêu cực, có biện pháp xử lý, khắc phục, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích

của nhân dân.

1.1.3. Mục đích và nguyên tắc của hoạt động thanh tra thu, chi NSNN

Mục đích thanh tra là nội dung quan trọng đã được pháp luật thanh tra trước đây đề

cập, song từ yêu cầu công tác quản lý nên mỗi giai đoạn cụ thể mục đích của thanh tra

có sự thay đổi nhất định. Nếu như Luật Thanh tra năm 2004 đề cao mục đích thanh

tra là “phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật” thì Luật Thanh

tra năm 2010 đã thể hiện rõ hơn mục đích thanh tra theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ

Chí Minh “thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới”. Tại Điều 2, Luật

Thanh tra năm 2010 đã chỉ rõ:

Mục đích hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách,

pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục;

phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá

nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần

nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước,

quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân [7].

Mục đích hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách,

pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục;

phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá

nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần

nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước,

quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

- Phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Đây là mục tiêu chủ

yếu, trực tiếp của hoạt động thanh tra. Thanh tra là hoạt động thường xuyên của cơ

quan quản lý nhà nước nhằm đảm bảo cho các quyết định quản lý được chấp hành,

bảo đảm mọi hoạt động của tổ chức, cá nhân tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Chính tính chất thường xuyên của hoạt động thanh tra có tác dụng phòng ngừa các

hành vi vi phạm pháp luật. Bởi vì các cuộc thanh tra thường chỉ rõ những sai phạm,

lệch lạc cần phải chấn chỉnh trong hoạt động của đối tượng thanh tra, kể cả những

việc chưa xảy ra nhưng đang có nguy cơ hoặc dấu hiệu của sự vi phạm.

- Phát hiện, xử lý các vi phạm pháp luật cũng là mục tiêu quan trọng của hoạt động

thanh tra. Chúng ta đang hướng đến một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mà

một trong những yêu cầu quan trọng của nó là phải tăng cường pháp chế, kỷ cương



6



pháp luật trong mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức và trong cách thức hành xử của

mọi công dân. Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện nhanh chóng

và xử lý nghiêm minh. Hoạt động thanh tra là xem xét việc làm của các tổ chức, cá

nhân trên cơ sở những quy định của pháp luật và tìm ra những việc làm vi phạm và

những người sai phạm để đánh giá tính chất, mức độ vi phạm, từ đó kiến nghị cơ

quan nhà nước có thẩm quyền xử lý những vi phạm đó.

- Phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách pháp luật để kiến nghị cơ

quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục. Hoạt động thanh tra không

chỉ nhằm phát hiện và xử lý những vi phạm pháp luật, mà còn giúp cho cơ quan quản

lý nhà nước đánh giá lại bản thân cơ chế, chính sách, các quy định của pháp luật, các

quyết định quản lý của mình xem nó đã phù hợp với thực tiễn cuộc sống hay chưa, để

kịp thời thay đổi, bổ sung khắc phục các sơ hở, khuyết điểm đó.

- Phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước,

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Đây là những mục

tiêu gián tiếp nhưng cũng không kém phần quan trọng của hoạt động thanh tra.

Nguyên tắc của hoạt động thanh tra là cơ sở và tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá

trình thực hiện hoạt động của các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra nhà nước.

Nguyên tắc thể hiện những định hướng chủ đạo trong hoạt động thanh tra. Tại Điều 7,

Luật Thanh tra 2010 đã quy định những nguyên tắc của thanh tra: “Tuân theo pháp

luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, cơng khai, dân chủ, kịp thời. Không

trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực

hiện chức năng thanh tra; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ

chức, cá nhân là đối tượng thanh tra [7]”.

1.1.4. Đặc điểm và phân loại hoạt động thanh tra thu, chi NSNN

Hoạt động quản lý và quản lý nhà nước luôn luôn gắn liền một cách khách quan với

công tác kiểm tra. Khi xem thanh tra như một loại hình kiểm tra tức là chúng ta đã

xác định tính tất yếu của nó. Đó là nhiệm vụ chấn chỉnh q trình quản lý để đảm bảo

rằng các mục tiêu của quản lý sẽ được hồn thành tốt, có hiệu quả đảm bảo giữ gìn

được kỷ cương phép nước. Điều chỉnh các sai lệch chính là chức năng mà qua đó

thanh tra được thấy rõ như là một đầu mối mà qua đó các chức năng khác của quản lý

nhà nước có thể được nối lại với nhau. Thanh tra chính là điều kiện để hoạt động quản

lý có thể thực hiện chức năng tự điều chỉnh cần thiết; tính tất yếu của thanh tra đối với

quản lý còn thể hiện ở chỗ nó làm cho hoạt động quản lý ln ln có khả năng thích

hợp với những biến đổi của đối tượng và mơi trường quản lý. Thanh tra còn là

phương pháp mà qua đó bộ máy quản lý nhà nước có thể tạo điều kiện cho mọi

người, kể cả những người lao động ở các cơ sở, các cán bộ thừa hành thực sự có thể

tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước. Thanh tra là một động cơ để một mặt vừa

đòi hỏi trách nhiệm của cán bộ quản lý, nhưng mặt khác sẽ giúp hoạt động năng động

sáng tạo hơn, tin tưởng hơn ở chính mình. Tóm lại, có thể nói, tính tất yếu của hoạt

thanh tra trong quản lý nhà nước được thể hiện ở chỗ nó là bộ phận, một khâu của quá

trình quản lý. Nếu xét về nội dung của hoạt động thanh tra thì đó là một chức năng

quan trọng của bộ máy quản lý có vai trò điều chỉnh, kiểm tra, mở rộng và thúc đẩy

hoạt động của bộ máy quản lý trong bất cứ giai đoạn nào.

Thanh tra có những đặc điểm sau đây:

- Thanh tra gắn liền với quản lý nhà nước: Trong mối quan hệ giữa quản lý và thanh

tra thì quản lý nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động của thanh tra (đề ra

đường lối, chủ trương, quy định thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra, sử dụng các



7



kết quả, các thơng tin từ phía các cơ quan Thanh tra).

- Thanh tra ln mang tính quyền lực nhà nước: Thanh tra là một hoạt động ln

ln mang tính quyền lực nhà nước. Chủ thể tiến hành thanh tra luôn luôn là cơ quan

nhà nước. Thanh tra (với tư cách là một danh từ chỉ cơ quan có chức năng này) ln

ln áp dụng quyền năng của Nhà nước trong quá trình tiến hành hoạt động của mình

và nó nhân danh Nhà nước khi áp dụng quyền năng đó.

- Thanh tra có tính độc lập tương đối: Đây là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất

của thanh tra. Tính độc lập tương đối trong quá trình thanh tra được thể hiện trên các

điểm sau: tuân theo pháp luật; tự mình tổ chức các cuộc thanh tra trong các lĩnh vực

kinh tế - xã hội theo thẩm quyền đã được pháp luật quy định; ra các kết luận, kiến

nghị, quyết định xử lý theo các quy định của pháp luật về thanh tra; chịu trách nhiệm

về Quyết định thanh tra của mình.

Thanh tra nhà nước là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối

với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu

sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này và các quy

định khác của pháp luật. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh

tra chuyên ngành.

- Thanh tra hành chính: Là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước theo

cấp hành chính đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ

chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp.

- Thanh tra chuyên ngành: Là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước theo

ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật,

những quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý của ngành, lĩnh vực thuộc

thẩm quyền quản lý.

1.2. Quy trình và nội dung thanh tra thu, chi NSNN

1.2.1. Quy trình thanh tra thu, chi NSNN

Theo quy định tại Thông tư số 05/2014/TT-TTCP ngày 16/10/2014 của Thanh tra

Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động, quan hệ cơng tác của Đồn thanh tra và

trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra thì quy trình thanh tra là trình tự các

bước cơng việc cụ thể phải tuân thủ khi thực hiện thanh tra, gồm một loạt các bước

logic với nhau từ khâu chuẩn bị đến khâu kết thúc thanh tra, thể hiện theo sơ đồ sau:

Bước 1 Chuẩn bị và quyết định thanh tra

- Thu thập thông tin: Lập đề cương thu thập thông tin với nội dung thông tin cần thu

thập, căn cứ theo các tiêu chí: Nguồn thơng tin từ cơ sở dữ liệu của cơ quan (dữ liệu

điện tử, tài liệu lưu trữ, theo dõi nắm tình hình); từ các báo cáo, phản ánh của các cơ

quan truyền thông (báo, đài,…) và đơn thư khiếu nại, tố cáo của các cơ quan, tổ chức

và cá nhân; nguồn thông tin từ các cơ quan quản lý nhà nước trong ngành Tài chính,

cơ quan quản lý cấp trên và các cơ quan khác có liên quan; nguồn thơng tin từ khảo

sát trực tiếp tại cơ quan, đơn vị là đối tượng thanh tra.

- Lập báo cáo khảo sát: Nêu các đặc điểm chính, cơ bản về tổ chức bộ máy, nhân sự,

đặc điểm và mơ hình tổ chức cơng tác tài chính, kế tốn: Tập hợp chính sách chế độ

tài chính mà đối tượng thanh tra đã và đang thực hiện, trong đó chú ý rút ra được

những nội dung sẽ có vướng mắc trong quá trình thực hiện (Các văn bản pháp quy,

chế độ, chính sách, cơ chế, tiêu chuẩn định mức theo chuyên ngành; các văn bản đặc

thù riêng do cấp có thẩm quyền ban hành áp dụng cho cơ quan; quy chế chi tiêu nội

bộ, quy chế quản lý tài sản của cơ quan). Tình hình về hoạt động và vấn đề liên quan

đến thu, chi tài chính: Các chỉ tiêu, nhiệm vụ do cơ quan cấp trên giao: biên chế: về



8



số lượng, chất lượng công việc, đề án, nhiệm vụ… phải thực hiện; các tiêu chí đánh

giá kết quả, thời gian giải quyết cơng việc…Tình hình, số liệu tổng quát và chi tiết về

tài chính của đối tượng thanh tra: các nguồn thu, các khoản chi phân theo cơ cấu các

nguồn kinh phí (nguồn ngân sách nhà nước cấp, thu phí, lệ phí; thu khác…); những

thuận lợi, khó khăn ảnh hưởng đến việc thực hiện thu, chi của cơ quan. Việc phân

cấp, hoặc giao nhiệm vụ thu, chi cho đơn vị trực thuộc, xác định các khoản được phân

cấp, số thực hiện so với nhiệm vụ giao (trường hợp có các đơn vị cấp dưới). Tổ chức

cơng tác kế toán, các quy định nội bộ (tổ chức và hoạt động), về kiểm soát, kiểm tra

thu, chi ngân sách; về các quy định của cơ quan trong quản lý, điều hành thu - chi;

đánh giá việc chấp hành các quy định, quy chế nội bộ trong lập, chấp hành dự tốn;

quyết tốn thu, chi của cơ quan. Tình hình về những hoạt động thanh tra, kiểm tra,

kiểm toán của các cơ quan, tổ chức đối với đối tượng thanh tra liên quan đến thực

trạng tài chính thời kỳ thanh tra; những vấn đề khiếu nại, tố cáo liên quan đến công

tác thanh tra…Xác định những vấn đề nổi cộm, những dấu hiệu sai phạm về chính

sách, chế độ, về quản lý; những thuận lợi, khó khăn khi tiến hành thanh tra. Đề xuất

những nội dung cần thanh tra, phạm vi, thời kỳ thanh tra, trong đó nêu rõ nội dung

trọng tâm; những tổ chức, cá nhân cần thanh tra, lực lượng, thời gian thanh tra.

- Ra quyết định thanh tra: Người được giao nhiệm vụ có trách nhiệm trình người có

thẩm quyền (Thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước hoặc Thủ trưởng cơ quan quản

lý nhà nước) dự thảo quyết định thanh tra kèm theo báo cáo khảo sát. Người có thẩm

quyền xem xét ký ban hành quyết định thanh tra. Quyết định thanh tra phải nêu rõ tên

cơ quan là đối tượng thanh tra; nội dung, thời kỳ và thời hạn thanh tra; thành lập đoàn

thanh tra và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan công tác thanh tra; gửi các

cơ quan đơn vị liên quan theo quy định của pháp luật.

- Xây dựng, phê duyệt kế hoạch thanh tra: Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm

xây dựng Kế hoạch tiến hành thanh tra trình người ra quyết định thanh tra phê duyệt.

Kế hoạch thanh tra cần nêu rõ mục đích, yêu cầu, phạm vi cuộc thanh tra; nội dung

thanh tra; thời kỳ thanh tra, thời hạn thanh tra, phương pháp tiến hành thanh tra; phân

công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên của đồn thanh tra; chế độ thơng tin báo

cáo, việc sử dụng phương tiện, thiết bị, kinh phí và những điều kiện vật chất cần thiết

khác phục vụ hoạt động của Đoàn thanh tra.

- Chuẩn bị triển khai thanh tra. Sau khi lưu hành quyết định thanh tra, trưởng đoàn

thanh tra thực hiện: Thông báo kế hoạch và yêu cầu đối tượng thanh tra chuẩn bị

những công việc liên quan tới buổi công bố quyết định thanh tra; Thời gian, địa điểm

và thành phần dự họp công bố quyết định thanh tra. Những yêu cầu đối tượng thanh

tra chuẩn bị báo cáo đồn thanh tra tại buổi cơng bố quyết định thanh tra; họp đoàn,

chuẩn bị các điều kiện cần thiết.

Bước 2 Tiến hành thanh tra

- Công bố quyết định thanh tra: Trong thời hạn theo quy định của Pháp luật,

Trưởng đồn thanh tra thực hiện việc cơng bố quyết định thanh tra với đối tượng

thanh tra. Yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo đoàn thanh tra những nội dung mà

trưởng đồn thanh tra đã thơng báo và những nội dung cần chuẩn bị tiếp khi đoàn bắt

đầu thanh tra. Lập biên bản cuộc họp công bố quyết định thanh tra.

- Thực hiện thanh tra. Khi thực hiện thanh tra, căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ của cuộc

thanh tra để áp dụng toàn bộ hoặc từng nội dung nêu dưới đây:

+ Thanh tra việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ về tài chính.

+ Thanh tra việc lập, giao dự toán: Thanh tra việc lập, giao dự toán chi; việc lập dự



9



toán thu; Thanh tra việc giao dự toán cho đơn vị dự toán cấp dưới.

+ Thanh tra thực hiện dự tốn thu: Thanh tra nguồn kinh phí NSNN cấp và nguồn

thu khác theo quy định: Tập hợp số liệu thực thu trong kỳ thanh tra đối với các nguồn

thu: viện trợ, tài trợ, quà biếu, quà tặng, hoa hồng, phí, lệ phí, thu khác…; xác định

đánh giá đúng, sai việc áp dụng các quy định của nhà nước đối với các nguồn thu:

viện trợ, tài trợ, quà biếu, quà tặng, hoa hồng, phí, lệ phí, thu khác; xác định chênh

lệch giữa số thực thu với dự toán, nguyên nhân; cơ quan đã hạch toán vào đâu, đúng

sai so với chế độ Nhà nước quy định. Trường hợp cơ quan phản ánh ngồi sổ sách kế

tốn thì xác định rõ nguyên nhân và việc sử dụng để xử lý; đối với các khoản thu phí,

lệ phí: Kiểm tra chọn mẫu hồ sơ thu phí, lệ phí của một số đối tượng để xác định tính

đúng đắn trong việc thu phí, lệ phí.

+ Thanh tra thực hiện dự tốn chi: Việc sử dụng kinh phí thực hiện chế độ tự chủ;

các khoản chi cho hoạt động nghiệp vụ chuyên môn đã được quy định cụ thể trong

quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị; các khoản chi cho hoạt động nhiệm vụ chun

mơn chưa có quy định cụ thể trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị; đánh giá việc

tiết kiệm chi; thanh tra việc sử dụng kinh phí khơng thực hiện chế độ tự chủ; thanh tra

nội dung chi sửa chữa lớn, mua sắm tài sản, thiết bị; kinh phí thực hiện đào tạo bồi

dưỡng cán bộ, cơng chức và một số khoản kinh phí khác.

+ Thanh tra việc trích lập và sử dụng quỹ dự phòng ổn định thu nhập: Xác định

số đã trích lập quỹ dự phòng ổn định thu nhập, nguồn trích, đúng sai so với quy định;

căn cứ các quy định nhà nước và quy chế chi tiêu nội bộ của cơ quan, đối chiếu số

liệu đã hạch toán, xác định việc sử dụng quỹ dự phòng ổn định thu nhập đúng sai so

với quy định.

+ Thanh tra việc quản lý, sử dụng tài sản cố định: Tập hợp các báo cáo kiểm kê,

sổ kế toán theo dõi tài sản cố định, báo cáo quyết toán và các văn bản xử lý chênh

lệch phát sinh khi kiểm kê…; Kiểm tra, đánh giá tính tuân thủ các quy định về quản

lý, sử dụng tài sản (giao, nhận, bảo quản, sửa chữa, theo dõi, hạch tốn kế tốn); tính

đầy đủ, hợp pháp của các hồ sơ tài liệu về quản lý tài sản cố định; Kiểm tra, đánh giá

tính tuân thủ các quy định trong thực hiện nhượng bán, thanh lý tài sản cố định; về

quản lý, giao, nhận quyền sử dụng đất và thu, chi phát sinh trong quá trình quản lý,

giao, nhận quyền sử dụng đất.

+ Thanh tra thu nộp thuế thu nhập cá nhân: Thuế thu nhập cá nhân của cán bộ,

nhân viên trong đơn vị ngoài đơn vị.

+ Thanh tra việc chấp hành pháp luật về kế toán: Việc chấp hành quy định về

chứng từ, sổ sách kế toán; việc chấp hành quy định về lập, gửi và công khai báo cáo

tài chính; việc bảo quản, lưu trữ tài liệu kế toán; tổ chức bộ máy kế toán, bố trí người

làm kế tốn; áp dụng chế độ kế tốn, tài khoản kế toán và các quy định khác.

+ Thanh tra việc thực hiện cơng khai tài chính: u cầu đơn vị cung cấp các văn

bản hướng dẫn công khai tài chính của đơn vị và cấp có thẩm quyền; đánh giá về nội

dung, phương thức, thời điểm công khai tài chính, phân bổ dự tốn, quyết tốn ngân

sách: những nội dung cơ quan phải công khai theo quy định, những nội dung đã công

khai, những nội dung chưa công khai, nguyên nhân, trách nhiệm của thủ trưởng và cá

nhân có liên quan.

Bước 3 Kết thúc thanh tra

- Báo cáo kết quả thanh tra và dự thảo Kết luận thanh tra

Kết thúc thanh tra tại từng đơn vị được thanh tra theo quyết định thanh tra. Trưởng

đồn thanh tra có trách nhiệm lập, thông qua và ký Biên bản thanh tra với đối tượng



10



thanh tra trong thời hạn của cuộc thanh tra theo yêu cầu của người được giao chỉ đạo

Đồn thanh tra. Biên bản thanh tra ghi rõ tình hình, những sai, đúng so với quy định

của pháp luật.

Trong thời hạn theo quy định, Trưởng đoàn thanh tra lập Báo cáo kết quả thanh tra,

ký và gửi tới người ra quyết định thanh tra, kèm theo bản dự thảo Kết luận thanh tra.

Báo cáo kết quả thanh tra phải nêu rõ kết quả công việc theo kế hoạch thanh tra đã

được duyệt, những ý kiến giải trình của đối tượng thanh tra; đề xuất những nội dung

kiến nghị xử lý về kinh tế, hành chính, pháp luật với đối tượng thanh tra; ý kiến đề

xuất, kiến nghị đối với cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp và các cơ quan quản lý nhà

nước có liên quan.

Dự thảo Kết luận thanh tra phải phản ánh tình hình chung, nội dung kết luận và kiến

nghị xử lý. Mỗi nội dung kết luận phải nêu rõ sự việc, căn cứ đúng, sai, nguyên nhân,

trách nhiệm, hình thức xử lý, thời hạn chấp hành.

Trưởng đoàn thanh tra phải tổ chức lấy ý kiến tham gia bằng văn bản của các thành

viên Đoàn thanh tra và Báo cáo kết quả thanh tra và dự thảo Kết luận thanh tra. Văn

bản tham gia ý kiến của thành viên Đoàn thanh tra phải lưu hồ sơ thanh tra. Kiến nghị

của Trưởng đoàn và của các thành viên Đoàn thanh tra được thực hiện theo quy định

của pháp luật.

- Kết luận thanh tra và lưu hành kết luận thanh tra

Trong thời hạn theo quy định của pháp luật về thanh tra, người ra quyết định thanh tra

xem xét và ra văn bản Kết luận thanh tra. Trong quá trình xem xét, người ra kết luận

thanh tra có thể u cầu Trưởng đồn thanh tra, các đối tượng được thanh tra giải

trình, bổ sung tài liệu, chứng cứ về những vấn đề dự kiến kết luận chưa rõ.

Trước khi ra văn bản Kết luận thanh tra, người ra quyết định thanh tra hoặc người

được giao quyền tổ chức làm việc với đối tượng được thanh tra về Dự thảo Kết luận

thanh tra. Cuộc họp làm việc phải được lập thành biên bản, ghi ý kiến các bên tham

gia.

Kết luận thanh tra được gửi cho đối tượng thanh tra và thực hiện công khai theo quy

định của Luật Thanh tra và quy định cụ thể của Bộ Tài chính.

- Bàn giao, lưu trữ hồ sơ thanh tra

Sau khi lưu hành Kết luận thanh tra, trong thời hạn quy định, Trưởng đồn có trách

nhiệm bàn giao hồ sơ cuộc thanh tra cho những bộ phận hoặc người được giao nhiệm

vụ theo quy định của pháp luật và quy chế của cơ quan. Việc bàn giao hồ sơ, tài liệu

phải được lập thành biên bản, biên bản giao nhận hồ sơ được lưu vào hồ sơ cuộc

thanh tra.

- Họp rút kinh nghiệm Đoàn thanh tra

Trong thời hạn quy định, Trưởng đồn có trách nhiệm triệu tập các thành viên trong

Đồn thanh tra, họp rút kinh nghiệm, đánh giá ưu, nhược điểm của cuộc thanh tra từ

khâu chuẩn bị cho đến bàn giao hồ sơ tài liệu, rút ra bài học kinh nghiệm; đề xuất

khen thưởng người làm tốt và xử lý những người có sai phạm. Cuộc họp rút kinh

nghiệm được lập thành biên bản, lưu hồ sơ thanh tra.

1.2.2. Nội dung công tác thanh tra thu, chi NSNN

Căn cứ Quyết định số 46/QĐ-BTC, ngày 07/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về

việc ban hành quy trình thanh tra ngân sách huyện thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc

trung ương [1], nội dung thanh tra thu, chi ngân sách nhà nước gồm có:

- Thanh tra việc triển khai chế độ chính sách về thu, chi ngân sách

-Thanh tra việc lập, quyết định và giao dự toán NSNN;



11



- Thanh tra việc chấp hành NSNN;

- Thanh tra việc quyết toán NSNN.

- Thanh tra việc thực hiện chế độ công khai ngân sách nhà nước;

Trong các nội dung tiến hành thanh tra cần xác định rõ nội dung trọng tâm, trọng

điểm.Xây dựng nội dung chi tiết cho từng nội dung thanh tra; những nơi đến thanh

tra, kiểm tra, xác minh; thời gian thực hiện.

1.2.2.1. Thanh tra việc triển khai chế độ chính sách về thu, chi ngân sách

Việc thanh tra triển khai chế độ chính sách về thu, chi ngân sách phải dựa vào các văn

bản chính sách sau:

- Căn cứ quy định của chế độ chính sách nhà nước về quản lý tài chính, ngân sách

(Luật Ngân sách, Luật Thuế, Pháp lệnh Phí lệ phí; Luật Đấu thầu ...), các quy định

hoặc hướng dẫn của chính quyền nhà nước cấp tỉnh để xác định các nội dung chính

quyền nhà nước huyện phải ban hành văn bản quy định hoặc hướng dẫn để thực hiện

trong thời kỳ thanh tra hoặc liên quan đến nội dung trong thời kỳ thanh tra.

- Tập hợp các văn bản huyện đã ban hành quy định hoặc hướng dẫn để triển khai,

thực hiện chế độ chính sách về quản lý tài chính, ngân sách.

- Đối chiếu với yêu cầu để xác định các việc huyện chưa triển khai, tổ chức thực hiện

chế độ chính sách về quản lý tài chính, ngân sách của nhà nước, quy định của tỉnh

trên địa bàn huyện, nguyên nhân.

- Kiểm tra, phát hiện văn bản huyện đã quy định, hướng dẫn không đúng, không đầy

đủ chế độ của nhà nước và quy định của tỉnh; nguyên nhân.

- Kiểm tra, xác định các thiệt hại, tổn thất cho ngân sách nhà nước hoặc ảnh hưởng

đến quyền lợi của tập thể, cá nhân do huyện ban hành văn bản quy định, hướng dẫn

không đúng nêu trên. Xác định trách nhiệm của tập thể, cá nhân đã ban hành văn bản

quy định, hướng dẫn không đúng, đề xuất kiến nghị xử lý.

1.2.2.2. Thanh tra việc lập, quyết định và giao dự toán ngân sách

* Thanh tra việc lập và quyết định dự toán thu ngân sách

- Căn cứ vào quyết định giao dự toán ngân sách của UBND tỉnh cho huyện, Nghị

quyết của HĐND huyện quyết định dự toán ngân sách của huyện để lập bảng tổng

hợp số liệu tình hình về dự tốn thu ngân sách. Chi tiết theo từng loại, khoản thu trên

địa bàn (theo biểu mẫu số 01/TTTC-NSH đính kèm);

- Xác định số tăng, giảm giữa dự toán thu UBND tỉnh giao và HĐND huyện quyết

định gồm cả tổng số thu và chi tiết từng loại, khoản thu trên địa bàn.

- Xác lập các căn cứ địa phương quyết định số thu tăng, giảm so với số giao của

UBND tỉnh về tổng số thu và chi tiết từng loại, khoản thu trên địa bàn huyện. Kiểm

tra xác định tính đúng đắn của các căn cứ làm cơ sở quyết định tăng hoặc giảm số thu

ngân sách nêu trên của huyện.

- Rà sốt tình hình, số liệu các năm trước liền kề và năm hiện tại, tình hình biến động

về kinh tế xã hội tại địa phương, các yếu tố ảnh hưởng đến số thu do thay đổi chế độ

chính sách để phát hiện đối tượng, nguồn thu chưa được đưa vào dự toán thu ngân

sách.

- Xác định tính đúng đắn về việc tính tổng số thu ngân sách huyện gồm: các khoản

thu ngân sách được hưởng trên tổng số thu ngân sách trên địa bàn theo quy định về tỷ

lệ phân chia số thu giữa các cấp ngân sách thuộc ngân sách địa phương (gồm số thu

của ngân sách cấp huyện và số thu ngân sách cấp xã được hưởng); các khoản thu từ

ngân sách cấp tỉnh bổ sung cho huyện (gồm số thu bổ sung cân đối và bổ sung có

mục tiêu).



12



- Phân tích tính tích cực của dự tốn thu, việc chấp hành quy định về chỉ tiêu phấn

đấu tăng thu hàng năm, những khó khăn vướng mắc.

* Thanh tra việc lập, quyết định dự toán chi ngân sách

- Căn cứ vào quyết định giao dự toán ngân sách của UBND tỉnh cho huyện, Nghị

quyết của HĐND huyện quyết định dự toán ngân sách của huyện để lập bảng tổng

hợp số liệu tình hình về dự tốn chi ngân sách. Chi tiết theo từng loại, khoản chi trên

địa bàn (theo biểu mẫu số 02/TTTC-NSH đính kèm).

- Xác định số tăng, giảm giữa dự toán chi UBND tỉnh giao và HĐND huyện quyết

định về cả tổng số chi và chi tiết từng loại, khoản chi ngân sách của huyện.

- Xem xét việc huyện chấp hành các quy định của TW và của tỉnh về quyết định dự

toán chi một số nội dung:

+ Những nội dung chi bắt buộc huyện phải bố trí khơng thấp hơn mức dự tốn tỉnh

giao (nếu có); số chênh lệch bố trí thấp hơn, khơng bố trí hoặc bố trí khơng đúng nội

dung, ngun nhân.

+ Những nội dung chi phải tương ứng với các khoản thu, gắn với một số nội dung chi

cụ thể theo yêu cầu về điều hành ngân sách của Chính phủ và của tỉnh từng giai đoạn

như: Bố trí chi từ nguồn thu tiền sử dụng đất, thu xổ số kiến thiết...

+ Những nội dung chi từ nguồn huyện quyết định tăng thu so với dự toán UBND tỉnh

giao với quy định về sử dụng nguồn tăng thu theo quy định của Luật Ngân sách nhà

nước và yêu cầu tổ chức điều hành, thực hiện dự tốn ngân sách nhà nước từng thời

kỳ của Chính phủ và của tỉnh.

+ Những nội dung bố trí dự toán chi từ nguồn thưởng vượt thu ngân sách năm trước

(nếu có).

- Xác lập những căn cứ để huyện lập và ra quyết định dự toán chi như: Quy định về

phân cấp nhiệm vụ chi; tiêu chuẩn định mức chi ngân sách; số biên chế cán bộ, công

chức, viên chức nhà nước cấp huyện được tỉnh giao... v.v

- Xem xét đánh giá tính đúng đắn về các nội dung của quyết định dự toán chi:

+ Việc quyết định tổng mức dự toán chi của ngân sách cấp huyện và tổng mức chi

ngân sách cấp xã thuộc huyện theo quy định về phân cấp nhiệm vụ chi và tiêu chuẩn

định mức chi ngân sách;

+ Việc tăng hoặc giảm số chi của HĐND huyện quyết định so với dự toán UBND tỉnh

giao; mức chi và căn cứ chi cho từng nội dung.

+ Việc quyết định phân bổ dự toán chi ngân sách cấp huyện trên cơ sở các căn cứ chi.

- Đối với một số huyện được tỉnh giao dự toán chi chương trình MTQG và nguồn

kinh phí hỗ trợ có mục tiêu được HĐND huyện xem xét, quyết định trong dự tốn chi

ngân sách huyện:

+ Tổng hợp số liệu tình hình về dự tốn chi các CTMT và hỗ trợ có mục tiêu tại địa

phương.

+ Xác định số tăng, giảm giữa dự toán chi UBND tỉnh giao và HĐND huyện quyết

định về tổng số chi và chi tiết từng loại chi gồm: chi đầu tư; chi sự nghiệp cho từng

chương trình mục tiêu.

- Phân tích làm rõ nguyên nhân của việc huyện quyết định chênh lệch tăng, giảm so

với UBND tỉnh giao. Trường hợp giảm so với UBND tỉnh giao, kiểm tra xác định rõ

nguồn vốn còn dư đã bố trí chi cho nội dung chi khác, nguyên nhân.

* Thanh tra về cân đối dự toán thu, chi ngân sách

Căn cứ vào dự toán thu chi ngân sách huyện đã được Hội đồng nhân dân huyện quyết

định và kết quả thanh tra việc quyết định dự toán thu, chi ngân sách của huyện nêu



13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết cấu đề tài

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×