Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 PHÔI THAI HỌC BỘ PHẬN MANG VÀ RÒ CUNG MANG I

3 PHÔI THAI HỌC BỘ PHẬN MANG VÀ RÒ CUNG MANG I

Tải bản đầy đủ - 0trang

14



Hình 1.3: Vùng mang phơi người đầu tuần thứ 5 [17],[18].

1.3.2 Sự phát sinh vùng mang

Khoảng cuối tuần thứ 4, các tế bào mầm thần kinh đã di cư tới thành

bên của ruột họng, đoạn đầu của ruột nguyên thủy và là họng phơi. Ở đó,

chúng tạo thành một mơ gọi là ngoại trung mơ (trung mơ có nguồn gốc

ngoại bì) rồi cùng trung mơ phát sinh từ trung bì, tăng sinh để tạo ra những

khối mô gọi là cung mang. Những khối này dài theo hướng lưng bụng, rồi

lên mặt ngồi phơi và được phủ bởi ngoại bì, đồng thời lồi vào họng phơi,

được phủ bởi nội bì. Mỗi bên có 6 cung mang lần lượt được tạo ra và đánh

số thứ tự theo hướng đầu – đuôi phôi. Trong khi các cung mang ở đuôi phôi

xuất hiện, các cung mang phía đầu phơi đã phát triển khá xa.

Nhưng ngay sau khi được tạo ra, cung mang V biến đi rất sớm và cung

mang VI rất thô sơ nên mặt ngồi phơi người trong khoảng tuần thứ 4, 5, 6

chỉ có bốn cung mang xuất hiện rõ rệt mỗi bên.

Chen vào giữa cung mang, ở mặt ngồi phơi, ngoại bì lõm vào trung

mơ, tạo thành các khe rãnh gọi là túi nang ngoại bì hay còn gọi là khe mang



15



(branchial grooves) ngăn cách các cung mang, và ở mặt họng phơi, nội bì

cũng lõm vào trung mơ, tạo thành các khe rãnh gọi là túi mang nội bì hay túi

mang (branchial pouches) cũng ngăn cách các cung mang. Các khe mang

cũng được đánh số thứ tự theo hướng đầu – đi phơi. Phơi người khơng có

khe mang V, còn túi mang tương ứng với nó, nhiều tác giả coi là ngách phụ

của túi mang IV. Vùng phơi người có các cung mang, các khe mang, túi

mang gọi là vùng mang.



a



b



Hình 1.4: Phơi thai người tuần thứ 5 (a), thiết đồ hệ thống cung mang (b) [11].

1.3.3 Sự phát triển của các thành phần vùng mang.

Các cung mang phát triển rất sớm (tuần thứ 4) của phôi thai khi các

tế bào mào thần kinh di chuyển vào vùng đầu và cổ tương lai, góp phần chủ

yếu tạo thành mặt, cổ, các khoang mũi, miệng, thanh quản và họng.

Vì sự liên quan chặt chẽ của rò ln nhĩ với sự hình thành của cung

mang I do đó chúng tơi chỉ nhắc tới sự hình thành của cung mang I, các cung

mang khác sẽ ít nhắc tới.



16



Bảng 1.1. Thành phần các bộ phận phát sinh từ cung mang [11]

Cung mang



Sụn







Thần kinh



Cung động

mạch



Sụn Meckel

Cung mang Xương hàm dưới

I



Xương búa



Dây thần kinh



ĐM hàm



tam thoa(V)



trong



Dây thần kinh



ĐM cơ bàn



VII



đạp



Cơ màn hầu



Dây thần kinh



ĐM cảnh



Cơ trâm họng



IX



trong



Dây thần kinh



ĐM dưới



phế vị (X)



đòn phải



(dây thanh quản



Quai ĐM



trên)



chủ



Cơ cắn



Xương đe

Sụn Reichert

Cung mang Xương bàn đạp

II



Cơ mặt



Sừng bé xương Cơ trâm móng

móng



Cung mang Thân và sừng lớn

xương móng



III



Sụn giáp

Cung mang



Cơ họng

Cơ nhẫn giáp



IV



Cư nhẫn họng

Sụn nhẫn

Cung mang Sụn phễu

VI



Dây thần kinh

Cơ thanh quản



phế vị (X)

(dây thần kinh

quặt ngược)



(Tài liệu tham khảo của giáo sư Oliver Deguin 11/2001)



ĐM phổi



17



Hình 1.5: Sự phát triển của vùng mang và sàn họng [19].

A, A’. phôi thai người khoảng 8mm, B,B’. phôi thai người khoảng 13mm, C.

sơ đồ tuyến ức và thể mang cuối I,II. Các cung mang I’, II’, III’, IV’. Túi

mang nội bì I”, II”, III”, IV”. Túi mang ngoại bì.

1. Ống giáp lưỡi, 2. Mầm tuyến giáp, 3. Lưỡi, 4. Ống thanh khí quản, 5.

Thực quản, 6. Ống họng – hòm nhĩ, 7. Mầm hạnh nhân khẩu cái, 8. Mầm

tuyến cận giáp dưới, 9. Mầm tuyến ức, 10. Mầm tuyến cận giáp trên, 11. Thể

mang cuối, 12. Ống tai ngoài, 13. Xoang cổ, 14. Sụn Meckel, 15. Sụn

Reichert, 16. Lỗ tịt, 17. Tuyến giáp, 18. Họng, 19. Mào thượng tâm mạc.

1.3.3.1 Cung mang I

Cung mang I là cơ quan sơ khai của hàm dưới, lõi sụn gồm một đoạn

lưng ngắn gọi là sụn của mỏm hàm trên, lan tới vùng sau mắt và một đoạn

bụng dài hơn gọi là sụn của mỏm hàm dưới hay sụn Meckel. Sau đó, lõi



18



cung mang I biến đi gần hết, chỉ còn sót lại hai đoạn nhỏ ở gần đầu phía

lưng của sụn hàm trên, trên nền đó các mơ xương đắp vào để tạo ra xương

búa và xương đe.

Trung - biểu mô: mỏm hàm trên sẽ tạo ra trực tiếp (khơng cốt hóa trên

mơ hình sụn) đoạn xương hàm trên mang răng nanh và răng hàm, xương gò

má và mỏm gò má của xương thái dương (đoạn xương hàm trên mang 4 răng

cửa phát sinh từ nụ mũi trong). Mỏm xương hàm dưới vây quanh sụn

Meckel sẽ tạo ra trực tiếp xương hàm dưới, một phần sụn này biến thành mô

xơ và tạo ra dây chằng bướm hàm. Vì tạo ra các phần hàm trên và dưới nên

cung mang I còn gọi là cung hàm.

Thành phần của cung mang I sinh ra các cơ nhai (gồm cơ cắn, cơ thái

dương và cơ chân bướm), đoạn bụng trước cơ nhị thân, cơ búa, cơ bao vòi

ngồi. Dây thần kinh của cung mang I là dây thần kinh tam thoa (V). Cung

động mạch chủ I biến đi rất sớm, ở giai đoạn 4mm, chỉ còn sót lại mỗi bên

đoạn ngắn, sẽ trở thành động mạch hàm trong.

1.3.3.2 Túi mang ngoại bì I

Mang ngoại bì I dài ra tạo thành một ống là ống tai ngoài được phủ

bởi biểu bì da có nguồn gốc từ ngoại bì da phủ cung mang I. Biểu mơ ngoại

bì phủ đáy túi mang sẽ trở thành biểu mơ phủ mặt ngồi màng nhĩ. Như vậy,

màng nhĩ là một màng xơ có nguồn gốc ngoại trung mô ngăn cách đáy các

túi mang nội và ngoại bì I.

1.3.3.3 Túi mang nội bì I

Đoạn gần họng phát triển thành một ống dài, gọi là ống họng – hòm

nhĩ, về sau sẽ là vòi Eustachi của trẻ em và người trưởng thành. Biểu mơ nội

bì phủ ống ấy sẽ trở thành biểu mơ phủ vòi Eustachi. Tới tháng thứ năm của

đời sống trong bụng mẹ, tế bào lympho xâm nhập vào trung mô để tạo ra

hạnh nhân vòi. Ở thành sau bên của họng, phần họng mũi và ở sàn họng, nơi



19



sau này trở thành phần sau của lưỡi cũng xảy ra những hiện tượng như vậy

để tạo thành tương ứng hạnh nhân họng và hạnh nhân lưỡi.

Đoạn xa họng giáp với đáy túi nang ngoại bì I, tạo ra hòm nhĩ. Biểu

mơ nội bì phủ đoạn này sẽ trở thành biểu mơ phủ hòm nhĩ và phủ trên các

mặt xương con của tai giữa (xương búa, xương đe, xương bàn đạp) có nguồn

gốc từ ngoại trung mô cung mang I và II.

1.3.3.4 Đặc điểm và ngồn gốc phát sinh của rò cung mang I:

Nguồn gốc của các dị tật này vẫn chưa rò ràng, có nhiều quan điểm và

giả thuyết khác nhau, có thể là do sự sai sót trong việc đóng lại khe mang I

gây nên nang và đường rò, cũng có thể là sự vùi lấp các vết tích ngoại bì,

theo mơ bệnh học chia ra làm 2 loại, loại 1 là sự tách đơi ống tai ngồi

nguồn gốc ngoại bì, loại 2 là sự tách đơi ống tai ngồi có nguồn gốc ngoại bì

và trung bì, phát triển bất thường của hệ thống mang trong thời kỳ phôi thai.

Phần lớn những dị tật này là do còn tồn tại các vết tích của bộ phận mang,

mà lẽ ra sẽ tiêu biến đi.

1.3.3.5 Rò cung mang I:

Do sự tách đơi của ống tai ngồi có nguồn gốc từ ngoại bì, đường rò

thường đi lên trên, phía dưới và sau vành tai, loa tai, hướng về phía mặt bên

ngồi dây thần kinh mặt (VII), đi song song với nó và ống tai ngồi, được

bao bọc bởi nhu mô tuyến mang tai, để rồi tận hết trong một túi cùng vùng

trước trên của tai.



20



Hình 1.6: Rò cung mang I - Loại I [20],[21].

1.3.3.6 Rò cung mang I - Loại II



Hình 1.7: Rò cung mang I – Loại II [20],[21].

Các bệnh tích nằm phía sau xương hàm dưới với một nang ở phía sau

dưới vùng tuyến mang tai. Đường rò chạy đến chỗ nối giữa xương sụn ống

tai ngồi. Nó có liên quan rất gần với dây thần kinh mặt (VII) mà có thể đi

bên trong, bên ngoài hoặc đi ngang giữa các nhánh dây thần kinh.



21



1.3.3.7 Rò ln nhĩ

Có rất nhiều giả thiết về sự hình thành của rò ln nhĩ, ở giai đoạn

phơi thai tuần thứ 6, đoạn đầu của rãnh mang I nguyên vẫn hở để tạo thành

ống tai ngoài. Xoang bắt đầu thường từ một vùng giữa bờ trước vành của loa

tai và bờ dưới của bình tai. Có những xoang chỉ chạy nông dưới da độ 1 –

2mm nhưng cũng có những xoang thơng với tai giữa hoặc ống tai ngoài và tận

cùng thành một đầu bám vào màng sụn của loa tai hoặc bình tai. Những xoang

nơng và kín thường khơng được để ý vì nó khơng gây nên dấu hiệu gì ngồi

một nốt gồ nhỏ như một hạt cơm khơng đau. Có thể bị cả 2 bên hoặc bị đơn

thuần 1 bên. Dị dạng chỉ gây phiền phức trong 2 trường hợp:





Về thẩm mĩ nó để lại một cục u to đôi khi làm hẹp lỗ ống tai ngồi.







Hoặc nó khá sâu để chứa chất ứ đọng và gây nên những đợt nhiễm trùng tái

diễn. Những xoang đó lại có thể vỡ để tạo ra miệng lỗ rò cho dịch viêm chảy

ra làm tấy đỏ xung quanh vùng và ngứa ngáy khó chịu. Khi đó, chẩn đốn

trở nên dễ dàng hơn.



Hình 1.8: Lỗ rò ln nhĩ ở vị trí trước gờ bình tai [20],[21].



22



1.3.3.8 Một giả thuyết khác của sự hình thành rò ln nhĩ.

Vành tai được tạo thành từ liên hợp 6 nụ phơi (còn gọi là gò His) các

nụ phơi này tập trung ở khe mang I. Vào tuần thứ 5 của thai kỳ,3 nụ phôi

(1,2,3) phát sinh từ cung hàm dưới và 3 nụ phôi còn lại (4,5,6) từ cung

xương móng ở phần đối diện khe khe mang I. Ba nụ phơi 1,2,3 tạo thành

bình tai, rễ luân nhĩ và loa tai.Các nụ phôi 4,5,6 hình thành các phần còn lại

của vành tai người tưởng thành. Trong đó, nụ phơi 1 và 6 giữ ngun vị trí

tạo thành bình tai và gờ đối bình. Nụ phôi 4 và 5 phát triển rộng và xoay

ngang qua đầu sau khe mang I, từ đó phát sinh phàn trước, trên của luân nhĩ

và phần kế cận của vành ta. Vành tai được hình thành hòa thiện vào tuần thứ

18 của thai kỳ và phát triển hoàn thiện đến tuổi trưởng thành. Bất thường

trong sự hợp lại của 6 nụ phơi này khi hình thành vành tai là ngun nhân

dẫn đến các vị trí khác của rò ln nhĩ.



Hình 1.9: Rò ln nhĩ với các vị trí khác[20],[21]

1.4 HÌNH THÁI LÂM SÀNG CỦA RỊ LN NHĨ



1.4.1 Đặc điểm rò luân nhĩ

Rò luân nhĩ là dị tật bẩm sinh tương đối phổ biến so với các dị tật bẩm

sinh khác trên toàn cơ thể, hay gặp ở những bệnh nhân có thể trạng bình

thường, trẻ em. Có thể gặp ở cả hai bên hoặc đơn thuần 1 bên, bệnh nhân

sinh ra đã có một lỗ nhỏ vùng trước tai.



23



1.4.2 Vị trí miệng lỗ rò

Miệng lỗ rò hay gặp nhất ở rễ ln nhĩ hoặc ở 0,5cm trên gờ bình tai,

ngồi ra có thể gặp ở các vị trí khác như: trên vành tai, các hố vành tai, trong

ống tai hoặc sau tai (ít gặp).



Hình 1.10: Vị trí miệng lỗ rò luân nhĩ ở gờ luân nhĩ.

BN: Tăng Thị Hà M 04 tuổi, số BA: 16013291.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 PHÔI THAI HỌC BỘ PHẬN MANG VÀ RÒ CUNG MANG I

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×