Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
18 Đặc điểm của bệnh nhân lupus

18 Đặc điểm của bệnh nhân lupus

Tải bản đầy đủ - 0trang

36



Nguyễn Văn Đoàn và cộng sự là 24,4% [39]. Điều này có thể lí giải như sau:

Khoa học nói chung và nền y học nói riêng ln có những tiến bộ và phát

triển không ngừng theo thời gian, mặt khác trình độ dân trí ngày càng nâng

cao, vì vậy khi người bệnh thấy những triệu chứng khác biệt như mệt mỏi,

rụng tóc, đau mỏi khớp, sốt kéo dài… họ chủ động đi khám và được phát hiện

bệnh lupus nên số bệnh nhân được chẩn đoán lupus trong khi mang thai sẽ

thấp đi.

1.18.4Đặc điểm về thời gian mắc bệnh

Thời gian mắc bệnh trung bình của nhóm nghiên cứu là 43,1 tháng

(3,33 năm), trong đó thời gian mắc bệnh lâu nhất là 12 năm, số bệnh nhân

mắc bệnh dưới 1 năm là 8/39 bệnh nhân (bảng 3.1). Thời gian này thấp hơn

rất nhiều so với nghiên cứu của các tác giả nước ngoài là 6,5 năm [3], [47].

Nguyên nhân của sư khác nhau là do các tác giả nước ngoài nghiên cứu tình

hình thai nghén của một nhóm bệnh nhân cố định trong 1 khoảng thời gian

nên sẽ khơng có số bệnh nhân mới mắc lupus trong lần mang thai này như

trong nghiên cứu của chúng tôi. Thời gian mắc bệnh trung bình của chúng tơi

bao gồm cả nhóm mắc cũ và mắc mới nên sẽ thấp hơn các nghiên cứu của

nước ngoài là điều tất nhiên.

1.18.5Thái độ điều trị thuốc

Nghiên cứu trên 38 bệnh nhân mắc lupus trước khi có thai lần này có

33 bệnh nhân điều trị thuốc thường xuyên theo chỉ định của bác sĩ, chiếm tỉ lệ

86,8% (bảng 3.3). Thái độ tuân thủ điều trị cho thấy sự hiểu biết của bệnh

nhân về lupus, sự hiểu biết càng nhiều, càng rõ ràng thì thái độ tuân thủ điều

trị càng cao. Nhờ có sự phát triển của đất nước, mạng internet được phổ cập

tồn dân nên bệnh nhân có thể tìm hiểu mọi thơng tin liên quan đến lupus.

Điều này lí giải vì sao thái độ điều trị của bệnh nhân lupus là tương đối tốt.

Một số ít bệnh nhân còn chủ quan với sức khỏe bản thân, thiếu hiểu biết về



37



bệnh tật hoặc hồn cảnh gia đình khó khăn nên khơng tái khám định kì, sử

dụng thuốc thường xuyên theo đơn dẫn đến bệnh không ổn định, hay tái đi tái

lại. Điều này gợi nhắc cho chúng ta cần có những biện pháp tích cực và hiệu

quả hơn trong việc tuyên truyền về lupus cho người bệnh, cũng như có sự hỗ

trợ trong q trình điều trị bệnh vì đây là một bệnh khơng thể chữa khỏi,

người bệnh chỉ có thể chung sống hòa bình với bệnh tới suốt đời. Thuốc điều

trị là Medrol với liều trung bình là 9,4±5,6 mg/ngày, liều thấp nhất là 2mg và

cao nhất là 16mg (bảng 3.4). Corticosteroid có thể dùng được cho phụ nữ có

thai, một số nguy cơ có thể xảy ra với thai nhi như vỡ ối sớm, dị tật bẩm sinh

(hở vòm miệng) hoặc đẻ nhẹ cân [36], [53], [54]. Vì vậy, bác sĩ điều trị cần

giải thích rõ các nguy cơ này với bà mẹ trong quá trình theo dõi thai và điều

trị bệnh.

1.18.6Mức độ thiếu máu của bệnh nhân lupus khi mang thai

Nồng độ hemoglobin trung bình của nhóm bệnh nhân là 102,8 g/l, có

59,5% bệnh nhân có biểu hiện thiếu máu, thiếu máu nhẹ chiếm tỉ lệ cao nhất

là 64% (bảng 3.7). So sánh với nghiên cứu đánh giá thiếu máu trên bệnh nhân

lupus tại trung tâm Dị ứng Miễn dịch lâm sàng bệnh viện Bạch Mai của tác

giả Lê Duy Cường thấy có sự tương đương giữa nồng độ hemoglobin là 99,18

g/l [48]. Tỉ lệ thiếu máu trong nghiên cứu cao hơn so với tỉ lệ của thai phụ đẻ

tại bệnh viện phụ sản Trung ương trong nghiên cứu của Phan Thị Ngọc Bích

là 35,5% [49], Nguyễn Viết Trung là 37,02% [50]. Sở dĩ tỉ lệ thiếu máu của

chúng tơi cao hơn vì bệnh nhân của chúng tơi bị lupus, tình trạng thiếu máu

của bệnh nhân lupus thường là cao (theo nghiên cứu của Lê Duy Cường tỉ lệ

thiếu máu của bệnh nhân lupus là 80% [48]), nên khi có thai thì tình trạng

thiếu máu chỉ có thể tăng lên chứ khơng thể giảm đi. Trong nghiên cứu của

chúng tơi, có sự khác biệt về thiếu máu của nhóm bệnh nhân cũ và mới mắc

lupus (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p= 0,035 với test χ2-bảng 3.8), có



38



nghĩa là tỉ lệ thiếu máu và mức độ nặng của thiếu máu của bệnh nhân đã mắc

lupus trước đây cao hơn hẳn so với bệnh nhân mới bị lupus trong lần thai này.

Qua phân tích 4 bệnh nhân thiếu máu nặng có 3 bệnh nhân bệnh đang hoạt

động nặng và 1 bệnh nhân bệnh hoạt động vừa. Điều này góp phần chứng

minh: khi bệnh càng hoạt động thì các triệu chứng càng nặng thêm, đặc biệt là

tỉ lệ thiếu máu tăng lên nhiều [2], [30]. Thiếu máu trong khi mang thai không

chỉ ảnh hưởng đến thai phụ mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi.

Vì vậy, những biện pháp giúp giảm tỉ lệ thiếu máu ở những bệnh nhân lupus

khi có thai là vô cùng quan trọng và ý nghĩa, chúng ta cần nâng cao nhận thức

cho bệnh nhân về chế độ dinh dưỡng, tuân thủ điều trị để ổn định bệnh trước

và trong khi mang thai, cũng như bổ sung thêm sắt, acid folic cho bệnh nhân.

1.18.7Đánh giá mức độ hoạt động bệnh qua thang điểm lupusDAI

Một số nghiên cứu nước ngồi đã cho thấy lupus có khả năng bùng

phát cao hơn khi mang thai [2], [30], [33], [36]. Tỉ lệ bùng phát dao động từ

5,7% đến 35,3% ở những nước phát triển [51]. Mokbel và cộng sự thấy tỉ lệ

bùng phát trong khi mang thai là 65,6%, ở thời kì hậu sản là 21,6% [3]. Một

nghiên cứu ở Brazil cho thấy tỉ lệ này là 85,3% [51]. Qua khai thác được điểm

lupusDAI trên 22 bệnh nhân thấy bệnh đang hoạt động ở mức độ vừa chiếm tỉ

lệ cao nhất là 50%, 50% bệnh nhân có bệnh hoạt động đang mang thai 3 tháng

cuối, trong số 7 bệnh nhân có bệnh hoạt động nặng thì có 4 bệnh nhân đang

mang thai 3 tháng giữa (bảng 3.5). Tác giả Mokbel và cộng sự thấy tỉ lệ này

cao ở 3 tháng giữa của thai kì [3], tác giả Ruiz-Irastoza và cộng sự thấy tỉ lệ

này cao ở 3 tháng giữa và thời kì hậu sản [30]. Sự hoạt động bệnh trong và

sau quá trình mang thai của một thai phụ lupus khác nhau ở các nghiên cứu.

Trong nghiên cứu của chúng tôi chưa khai thác được hết điểm lupusDAI của

tất cả các bệnh nhân cũng như điểm lupusDAI trước đó do vậy việc đánh giá

bùng phát bệnh là tương đối khó khăn. Điều này gợi ý chúng tôi thực hiện



39



một nghiên cứu quy mô hơn về thời gian, số lượng bệnh nhân mắc lupus khi

mang thai, cũng như đề xuất việc sử dụng thang điểm lupusDAI như một

thường quy mỗi khi tiếp nhận bệnh nhân lupus tại mọi thời điểm.

1.19 Đặc điểm về sản khoa

1.19.1Đặc điểm về tiền sử sản khoa

Số bệnh nhân mang thai lần đầu chiếm tỉ lệ cao nhất 52,4%, mang thai

trên 3 lần có 6 bệnh nhân chiếm 14,5% (bảng 3.9). Có duy nhất 1 trường hợp

đã mang thai 7 lần và tất cả đều là sảy thai ở mốc dưới 21 tuần. Sảy thai liên

tiếp là một tiền sử sản khoa nặng nề, nhiều bệnh nhân sảy thai liên tiếp chưa

tìm được nguyên nhân đến khi phát hiện ra lupus. Ngun nhân sảy thai có

thể do hình thành kháng thể kháng phospholipid, kháng cadiolipin hay những

chất kháng đông lupus lưu hành trong máu [2]. Nghiên cứu 39 thai có trên 20

bệnh nhân mang thai lần 2 thấy tỉ lệ mang thai khơng thành cơng ngồi ý

muốn (sảy thai và thai lưu) chiếm tỉ lệ rất cao 33,3% (bảng 3.10). Vì vậy thai

nghén ở bệnh nhân lupus ln được coi là thai nghén “nguy cơ cao”.

1.19.2Xử trí sản khoa với thai phụ lupus

Qua nghiên cứu, chúng tơi thấy có 12 bệnh nhân (chiếm tỉ lệ 28,6%) có

chỉ định đình chỉ thai nghén để điều trị bệnh của mẹ, 30 trường hợp tiếp tục

theo dõi thai (bảng 3.11). Nguyên nhân đình chỉ bao gồm bệnh nhân đang

truyền endoxan, bệnh nhân đang điều trị bệnh thì phát hiện có thai hoặc bệnh

của mẹ nặng lên trong khi mang thai. Có 1 bệnh nhân có chỉ định đình chỉ thai

nghén nhưng gia đình và bệnh nhân khơng đồng ý, khi bệnh của mẹ nặng lên

có suy hơ hấp, suy thận nặng gia đình xin đình chỉ nhưng vì bệnh mẹ q

nặng khơng thể đình chỉ, kết quả là thai phụ tử vong. Phương pháp được sử

dụng chủ yếu là nạo/hút thai với thai dưới 12 tuần, với thai trên 12 tuần

phương pháp là dùng thuốc gây sảy thai (bảng 3.12). Tỉ lệ mổ lấy thai ở 30

bệnh nhân được tiếp tục theo dõi là rất cao 83,3% (bảng 3.13). Tỉ lệ này cao



40



hơn rất nhiều với nghiên cứu mổ lấy thai tại khoa Phụ-sản bệnh viện Bạch

Mai của Phạm Bá Nha là 36,7% [55]. Các chỉ định mổ lấy thai ở nhóm bệnh

nhân này chủ yếu là mẹ bệnh mẹ nặng lên, gia đình lí do xã hội, cạn ối, suy

thai trong chuyển dạ… Tỉ lệ mổ lấy thai trong nghiên cứu cao vì thai phụ là

những người mắc bệnh lupus, khi bệnh nặng lên thì việc đình chỉ thai nghén

bằng mổ lấy thai là biện pháp tốt để điều trị bệnh mẹ. Mặt khác việc có con

trên những bệnh nhân lupus là một điều mong mỏi của bệnh nhân cũng như

gia đình bệnh nhân, vì vậy khi chuyển dạ, gia đình bệnh nhân mong muốn mẹ

tròn con vng nên xin mổ đẻ. Nhiều trường hợp muốn đứa bé sinh ra số

phận tốt đẹp (theo quan điểm phương Đông) nên đã chọn ngày giờ sinh.

1.20 Đặc điểm trẻ sơ sinh

1.20.1Đặc điểm về tuổi thai

Có 28 trường hợp trẻ sinh sống chiếm tỉ lệ rất cao 96,6%, chỉ có 1

trường hợp thai chết lưu, mặc dù tỉ lệ sinh sống cao nhưng tỉ lệ trẻ đẻ non lại

chiếm tỉ lệ khá cao là 79,3% (bảng 3.16).Tỉ lệ trẻ sinh sống của chúng tôi cao

hơn so với nghiên cứu của tác giả Mokbel là 81%, tác giả Lê Thị Hương là

92% [3], [56]. Có thể lí giải tỉ lệ sinh sống cao vì trong những đây là những

thai được theo dõi, khơng có chỉ định đình chỉ để điều trị bệnh mẹ (ở những

tháng đầu thai kì, thai nhi và thai phụ đã được khám xét để xem có nên tiếp

tục theo dõi hay tiến hành đình chỉ ngay) vì vậy nên số thai lưu hoặc sảy thai

là khơng có hoặc rất thấp. Tỉ lệ trẻ non cao hơn rất nhiều so với nghiên cứu

của Madazli là 27,6%, của tác giả Mokbel là 32,4% [3], [38], nhưng lại thấp

hơn nghiên cứu của Nguyễn Văn Đoàn và cộng sự là 90,5% [39]. Tỉ lệ trẻ đẻ

non tháng cao có thể là một hậu quả của việc dùng corticosteroid kéo dài [36],

[53], [54]. Khi bệnh ổn định thì các thầy thuốc mong muốn bệnh nhân kéo dài

thời gian thai nhi trong bụng mẹ để hạn chế thấp nhất những rủi ro có thể xảy

đến với trường hợp thai quá non yếu: nhiễm trùng, xuất huyết não, viêm



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

18 Đặc điểm của bệnh nhân lupus

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×