Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
17 Phương pháp và xử trí sản khoa:

17 Phương pháp và xử trí sản khoa:

Tải bản đầy đủ - 0trang

31



- Có 11/12 bệnh nhân xác định được phương pháp đình chỉ (1

trường hợp có chỉ định đình chỉ nhưng gia đình và bệnh nhân

khơng đồng ý), trong đó có 5/11 (45,5%) bệnh nhân được đình

chỉ bằng phương pháp nạo hút thai, 6/11 (54,5%) được đình chỉ

bằng phương pháp gây sảy thai bằng thuốc.

- 100% bệnh nhân có thai dưới 12 tuần được đình chỉ bằng

phương pháp nạo hút thai, 100% bệnh nhân có thai trên 12 tuần

được đình chỉ bằng phương pháp gây sảy thai bằng thuốc.



1.17.2Kết quả thai nghén cuối cùng của 30 bệnh nhân

1.17.2.1



Phương pháp kết thúc thai kì của 30 bệnh nhân lupus mang



thai

Bảng 0.17: Phương pháp kết thúc thai kì

Phương pháp sản khoa

Đẻ đường âm đạo

Mổ lấy thai

Tổng

Nhận xét:



Số lượng (n)

5

25

30



Tỉ lệ (%)

16,7

83,3

100



- Tỉ lệ mổ lấy thai rất cao là 83,3% tương ứng 25/30 bệnh nhân.

Chỉ có 5 bệnh nhân đẻ đường âm đạo (16,7%).

Bảng 0.18. Lí do mổ lấy thai của các bệnh nhân lupus

Lí do

Bệnh mẹ nặng lên

Lí do xã hội

Cạn ối

Suy thai

Sẹo mổ cũ tử cung

Ối vỡ non, ối vỡ sớm

Ngôi thai bất thường

CTC không tiến triển

Tổng



Số lượng (n)

5

5

4

4

3

2

1

1

25



Tỉ lệ (%)

20

20

16

16

12

8

4

4

100



32



Nhận xét:

- Lí do mổ lấy thai chủ yếu là bệnh mẹ nặng lên (20%), lí do xã

hội (20%), suy thai (16%) và cạn ối (16%).

- Lí do mổ lấy thai hiếm gặp là CTC không tiến triển (4%) và ngôi

bất thường (4%).

1.17.2.2



Tình hình phát triển của trẻ sơ sinh trong tử cung

Bảng 0.19: Tỉ lệ trẻ chậm phát triển trong tử cung



Phát triển của sơ sinh

Bình thường

CPTTTC

Tổng

Nhận xét:



Số lượng (n)

12

17

29



Tỉ lệ (%)

41,4

58,6

100



- Tỉ lệ thai chậm phát triển trong tử cung là 58,5% tương ứng

17/29 thai sống sinh ra.

- Tỉ lệ thai phát triển bình thường trong tử cung là 41,1%, tương

ứng với 12/29 thai sống sinh ra.

1.17.2.3



Tình trạng thai lúc sinh ra

Bảng 0.20: Tình trạng thai lúc sinh ra



Tuổi thai

Đủ tháng

Non tháng

Thai lưu

Tổng

Nhận xét:



Số lượng (n)

6

23

1

30



Tỉ lệ (%)

20,7

75,9

3,4

100



- Có 1/30 trường hợp đẻ thai lưu chiếm tỉ lệ 3,4%. Tỉ lệ trẻ non

tháng chiếm tỉ lệ cao nhất 75,9% tương ứng với 23/30 trường

hợp.

- Có 6/30 trẻ sinh ra đủ tháng (20,7%).



33



1.17.2.4



Tuổi thai khi sinh ra:



Biểu đồ 0-5.Tuổi thai được sinh ra (N=29)

Nhận xét:

- Tuổi thai non tháng nhất là 31 tuần có 1 trường hợp (3,4%).

- Có 9/29 trường hợp thai 37 tuần, chiếm tỉ lệ cao nhất 31%.

- Tuổi thai trung bình là 36,1±2,1 tuần.



34



Tình trạng thai chậm phát triển trong tử cung



1.17.2.5



liên quan với tuổi thai

Bảng 0.21. Mối liên quan giữa tuổi thai và phát triển trong tử cung

PT thai trong TC

Bình

Tuổi thai



CPTT

TC



Tổng



1

16,7



6

100



Đủ tháng



n

%



thường

5

83,3



Non



n



7



16



23



tháng



%



30,4



69,6



100



Tổng



n

%



12

41,1



17

58,6



29

100



p



0,06



Nhận xét:

- Trong số 23 trẻ non tháng, có 16 trẻ chậm phát triển trong tử

cung, chiếm đa số với tỉ lệ 69,9%.

- Có 1/6 trẻ đủ tháng có tình trạng chậm phát triển trong tử cung

chiếm tỉ lệ 58,6%.

- Sự khác biệt giữa thai đủ tháng và non tháng theo sự phát triển

trong tử cung khơng có ý nghĩa thống kê (p>0,05).



35



BÀN LUẬN

1.18 Đặc điểm của bệnh nhân lupus

1.18.1Đặc điểm về tuổi

Tuổi trung bình của các bệnh nhân là 26,7 tuổi (biểu đổ 3-1). Kết quả

này phù hợp với nghiên cứu của tác giả người Ấn Độ Aggarwal và cộng sự là

26,9 tuổi [46], phù hợp với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Đoàn và cộng

sự là 26,4 tuổi [39]. Tuy nhiên, kết quả tuổi trung bình lại thấp hơn nghiên

cứu của tác giả Madazli và cộng sự là 28,8 tuổi [38] và 29,5 tuổi trong nghiên

cứu của tác giả Molad và cộng sự [47]. Nguyên nhân của sự khác nhau có thể

do nước ta là một nước đang phát triển nên độ tuổi kết hôn, mang thai và sinh

đẻ thấp hơn với một số nước phát triển. lupus gặp chủ yếu ở phụ nữ trong thời

kì sinh sản vì vây nhóm tuổi 20-30 chiếm tỉ lệ cao nhất 81% (biểu đồ 3-1).

1.18.2Đặc điểm về địa chỉ và trình độ văn hóa

Bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tơi đa số ở nông thôn (chiếm

66,7% biểu đồ 3-2) – môi trường có nhiều yếu tố làm khởi phát bệnh lupus

như: tia UV trong ánh nắng mặt trời, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật.

Trình độ văn hóa của bệnh nhân trong nghiên cứu chủ yếu là tốt nghiệp trung

học phổ thơng trở lên (chỉ có 9,5% bệnh nhân có trình độ tốt nghiệp trung học

cơ sở theo biểu đồ 3-3). Khi trình độ văn hóa của người dân càng cao thì sự

quan tâm và chăm sóc sức khỏe bản thân càng được chú trọng, thái độ tuân

thủ điều trị sẽ tốt hơn.

1.18.3Đặc điểm về thời điểm phát hiện bệnh

Trong nghiên cứu, có 38 trường hợp mắc lupus trước khi có thai lần

này, chỉ có 4 trường hợp được chẩn đốn lupus trong lần thai này, tương

đương 9,5% (bảng 3.2). Tỉ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của tác giả



36



Nguyễn Văn Đoàn và cộng sự là 24,4% [39]. Điều này có thể lí giải như sau:

Khoa học nói chung và nền y học nói riêng ln có những tiến bộ và phát

triển không ngừng theo thời gian, mặt khác trình độ dân trí ngày càng nâng

cao, vì vậy khi người bệnh thấy những triệu chứng khác biệt như mệt mỏi,

rụng tóc, đau mỏi khớp, sốt kéo dài… họ chủ động đi khám và được phát hiện

bệnh lupus nên số bệnh nhân được chẩn đoán lupus trong khi mang thai sẽ

thấp đi.

1.18.4Đặc điểm về thời gian mắc bệnh

Thời gian mắc bệnh trung bình của nhóm nghiên cứu là 43,1 tháng

(3,33 năm), trong đó thời gian mắc bệnh lâu nhất là 12 năm, số bệnh nhân

mắc bệnh dưới 1 năm là 8/39 bệnh nhân (bảng 3.1). Thời gian này thấp hơn

rất nhiều so với nghiên cứu của các tác giả nước ngoài là 6,5 năm [3], [47].

Nguyên nhân của sư khác nhau là do các tác giả nước ngoài nghiên cứu tình

hình thai nghén của một nhóm bệnh nhân cố định trong 1 khoảng thời gian

nên sẽ khơng có số bệnh nhân mới mắc lupus trong lần mang thai này như

trong nghiên cứu của chúng tôi. Thời gian mắc bệnh trung bình của chúng tơi

bao gồm cả nhóm mắc cũ và mắc mới nên sẽ thấp hơn các nghiên cứu của

nước ngoài là điều tất nhiên.

1.18.5Thái độ điều trị thuốc

Nghiên cứu trên 38 bệnh nhân mắc lupus trước khi có thai lần này có

33 bệnh nhân điều trị thuốc thường xuyên theo chỉ định của bác sĩ, chiếm tỉ lệ

86,8% (bảng 3.3). Thái độ tuân thủ điều trị cho thấy sự hiểu biết của bệnh

nhân về lupus, sự hiểu biết càng nhiều, càng rõ ràng thì thái độ tuân thủ điều

trị càng cao. Nhờ có sự phát triển của đất nước, mạng internet được phổ cập

tồn dân nên bệnh nhân có thể tìm hiểu mọi thơng tin liên quan đến lupus.

Điều này lí giải vì sao thái độ điều trị của bệnh nhân lupus là tương đối tốt.

Một số ít bệnh nhân còn chủ quan với sức khỏe bản thân, thiếu hiểu biết về



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

17 Phương pháp và xử trí sản khoa:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×