Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

2 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



chủng tộc người da trắng và những người mang 2 nhóm gen trên có nguy cơ

mắc lupus cao gấp 3 lần so với nhóm chứng [18]. Những nghiên cứu mới nhất

đã xác định các gen giữ vai trò quan chính yếu trong cơ chế bệnh sinh của

lupus, sắp xếp theo độ mạnh của những bằng chứng hiện có: HLA, ITGAM,

IRF5, BLK, STAT4 kế đến có thể kể tới gen PTPN22, FCGR2A [19].

1.2.1.2 Yếu tố hormone

Các nghiên cứu trên thế giới và trong nước đều nhận thấy lupus gặp

chủ yếu ở giới nữ, chủ yếu ở độ tuổi sinh sản, lupus được chẩn đốn trước

tuổi dậy thì và sau tuổi mãn kinh hiếm hơn. Theo nghiên cứu tại Mỹ, tỉ lệ

nữ/nam là 9/1. Nguyễn Văn Sáu và Trần Hậu Khang nghiên cứu tỉ lệ mắc

lupus tại bệnh viện Da Liễu Trung Ương là 9/1 [20]. Theo nghiên cứu của

Chu Xuân Anh, tỉ lệ này là 28/1 [8]. Những bất thường về chuyển hóa

estrogen đã được tìm thấy ở những bệnh nhân nam và nữ mắc lupus. Các

bệnh nhân mắc hội chứng Klinefelter, đặc trưng bởi tình trạng cường nội tiết

nữ và giảm nội tiết tố nam có nguy cơ cao mắc lupus [21]. Sanchez – Guerero

đã báo cáo có sự tăng nguy cơ mắc lupus ở các bệnh nhân sử dụng liệu pháp

thay thế estrogen ở thời kì sau mạn kinh [22]. Trên thực nghiệm gây bệnh cho

chuột năm 1991, Carlsten và cộng sự thấy estrogen làm tăng tự kháng thể.

Năm 1990, Kanda và Tamaki phát hiện được estrogen làm tăng sinh tế bào B,

tăng sản xuất kháng thể trong invitro và ở bệnh nhân lupus tăng sản xuất các

tự kháng thể. Giảm androgen huyết tương được tìm thấy ở bệnh nhân nữ mắc

lupus, nồng độ androgen huyết tương có liên quan tỉ lệ nghịch với mức độ

hoạt động của bệnh [23]. Testosterone có khả năng làm giảm sự sản xuất các

globulin miễn dịch từ các tế bào đơn nhân máu ngoại vi ở cả người bình

thường và bệnh nhân lupus. Ngoài ra, theo Jara và cộng sự, prolactin và một

số hocmon nghi ngờ khác cũng được thấy làm tăng nguy cơ gây bệnh lupus ở

cả nam và nữ [1]. Bệnh nhân khơng phải lupus nhưng có tình trạng tăng



7



prolactin trong máu dẫn đến ANA dương tính và làm thay đổi tính đáp ứng

IL-2, tất cả những rối loạn này trở về bình thường khi tình trạng prolactin

trong máu trở về bình thường.

1.2.1.3 Yếu tố mơi trường.

- Ánh nắng mặt trời:

Tia cực tím (UV) trong ánh sáng mặt trời có thể vừa là yếu tố khởi phát

đợt cấp lupus, vừa là yếu tố làm nặng thêm lupus da và lupus. Bảo vệ da khỏi

tia cực tím ở những bệnh nhân lupus cũng là một phương pháp điều trị không

dung thuốc được khuyến cáo cho bệnh nhân lupus [1], [14]. Cơ chế của tia

UV trong lupus là: tia UV gây ra hiện tượng chết theo chương trình của tế bào

sừng (có chức năng trong q trình khởi động dòng thác tự miễn dịch) rồi giải

phóng các thành phần nhân, rối loạn sự thanh thải các tế bào tự hủy do suy

giảm hoạt động đại thực bào và gây sự tái phân phối các tự kháng thể như Ro,

La [24], [25].

- Thuốc:

Thuốc, hóa chất cũng được xem như yếu tố tác động trong cơ chế bệnh

sinh lupus. Thuốc đóng vai trò như một hapten, gắn với protein tạo nên kháng

nguyên hoàn chỉnh từ đó có thể kích thích tạo ra các tự kháng thể. Một số

thuốc như thuốc điều trị lao (isoniazid, rifampicin), hạ huyết áp (hydralazine,

procainamide), chống co giật (phenintoin) …có khả năng gây lupus [26].

- Virus:

Các nghiên cứu cho thấy rằng các tác nhân nhiễm khuẩn có thể có vai

trò khởi bệnh, tuy nhiên đây chỉ là yếu tố đóng vai trò thuận lợi chứ khơng

phải là ngun nhân của căn bệnh này. Hargrave và cộng sự (1993) nghiên

cứu mối liên quan có thể giữa rhabdovirus- một loại virus gây viêm miệng

họng nước với lupus [11]. Các tác giả nhận thấy phần lớn các bệnh nhân lupus

có kháng thể với protein của virus, họ cũng tìm thấy sự giống nhau giữa



8



protein nhân của virus với kháng nguyên Ro. Một số nghiên cứu khác về vai

trò của retrovirus đặc biệt là các virus có ái tính cao với lympho T typ I (HTL1) trong bệnh sinh lupus, nhưng hầu hết đều thất bại trong việc xác định mối

liên quan giữa kháng thể kháng HTLV-1 với lupus [1],[15].

1.2.2 Cơ chế bệnh sinh

Sự phối hợp, tương tác giữa các yếu tố trên dẫn đến những rối loạn

miễn dịch ở bệnh nhân lupus, đặc trưng bởi sự mất khả năng dung nạp các tự

kháng nguyên, rối loạn hiện tượng chết theo chương trình của tế bào, mất sự

kiểm soát hoạt động của các tế bào lympho T và B, thúc đẩy sinh tự kháng thể

và hình thành các phức hợp miễn dịch [27]. Hai loại kháng thể có tính đặc

hiệu với lupus là tự kháng thể kháng chuỗi xoắn kép của DNA (anti ds-DNA)

và tự kháng thể kháng kháng nguyên Smith (anti-Sm). Vì vậy, sự xuất hiện

của hai tự kháng thể này là các tiêu chuẩn quan trọng trong chẩn đoán lupus.

Các tự kháng thể khác gây tổn thương ở các cơ quan tương ứng như kháng thể

kháng nhân, kháng các phức hệ protein gắn với ARN, kháng histon, kháng

cardiolipin, kháng kháng nguyên màng hồng cầu, tiểu cầu, tế bào lympho, tế

bào thần kinh, yếu tố dạng thấp. Sự kết hợp tự kháng thể với kháng nguyên cơ

thể có thể trực tiếp gây tổn thương các cơ quan hoặc thơng qua sự hoạt hóa bổ

thể. Sự kết hợp KN-KT hình thành phức hợp miễn dịch lắng đọng tại tổ chức

gây phản ứng viêm tắc mạch và hoại tử mạch máu tại đó. PHMD khơng lọt

qua được cầu thận mà lắng đọng lại tại màng đáy, gây tổn thương cầu thận.

PHMD sẽ hoạt hóa hệ thống bổ thể, dẫn đến cố định bổ thể trên màng tế bào

đích, với hậu quả là tiêu tế bào. Việc bổ thể bị tiêu thụ nhiều dẫn đến lượng bổ

thể trong máu giảm [1].

1.2.3 Rối loạn miễn dịch tế bào.

Nguồn gốc của tổn thương tự miễn trong lupus là do rối loạn điều hòa

miễn dịch tế bào dẫn đến khơng dung nạp miễn dịch đối với một số kháng



9



nguyên của bản thân. Số lượng TCD4 và TCD8 giảm nhưng hoạt tính của

TCD4 và TCD8 biến đổi theo hai hướng khác nhau. Hoạt tính của TCD4 tăng

trong khi hoạt tính của TCD8 giảm, kèm theo bất thường của độc tê bào tự

nhiên cũng như độc tế bào phụ thuộc kháng thể. Ngồi ra, còn có sự bất thường

khác như giảm khả năng sản xuất IL-2 của hệ thống idotype- kháng idiotype thể

dịch. Các rối loạn điều hòa miễn dịch tế bào dẫn đến sự tăng sinh và tăng hoạt

hóa lympho B, sản xuất các kháng thể chống lại các kháng nguyên khác nhau

của cơ thể. Sự tăng sinh lympho B tại các cơ quan lympho làm cho các tổ chức

chức năng phì đại như lách to, hạch to, đặc biệt trong giai đoạn bệnh tiến triển.

Tại các cơ quan này cũng phát hiện được hiện tượng thâm nhễm các tế bào viêm

như đại thực bào, monocyte bạch cầu hạt [1], [29].

1.3 Biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng.

1.3.1 Lâm sàng.

Biểu hiện của lupus rất phong phú và đa dạng. lupus được đặc trưng

bởi các đợt tiến triển cấp tính nối tiếp nhau, đợt sau thường nặng hơn đợt

trước hoặc có thêm biểu hiện mới ở các nội tạng khác. Nhịp độ và mức độ

nặng của các đợt cấp ở từng bệnh nhân cũng rất khác nhau [23].

- Triệu chứng toàn thân

Sốt nhẹ hoặc sốt cao tùy từng trường hợp (80-95%), mệt mỏi, ăn kém,

gầy sút cân.

- Biểu hiện da và niêm mạc

• Ban hình cánh bướm ở mặt: điển hình là ban dạng mảng phẳng hoặc

nổi gờ lên mặt da, khu trú hai bên cánh mũi và hai gò má thành hình

cánh bướm, có thể lan rộng vào vùng quanh hố mắt lên trán nhưng

không vào vùng da đầu. Ban xuất hiện ở khoảng 50% trường hợp lupus

• Ban dạng đĩa ở thân và mặt: tổn thương dạng vòng tròn teo lõm ở giữa

và có vảy xuất hiện trên nền sẹo cũ (15-20%) [1].



10



• Rụng tóc nhiều khơng tìm thấy ngun nhân khác, có khi rụng tóc

mảng lớn.

• Lt niêm mạc (30-40%) thường khu trú ở vùng miệng, họng, lưỡi, có

khi gặp ở bộ phận sinh dục.

• Viêm mao mạch dưới da, viêm tổ chức dưới da, ban nổi cục, mề đay,

mảng sắc tố…thường ít gặp.

- Biểu hiện cơ xương khớp

• Đau khớp, viêm khớp thường gặp với tỉ lệ cao 85-95% các bệnh nhân

lupus và có thể là biểu hiện sớm nhất của bệnh. Đặc điểm của viêm

khớp rất đa dạng: viêm khớp di chuyển, viêm khớp nhỏ nhỡ tiến triển

thành đợt khơng cứng khớp buổi sáng kèm theo.

• Loãng xương cục bộ gây ra đau vai, cổ, háng thường gặp ở những bệnh

nhân điều trị corticoid kéo dài.

- Biểu hiện nội tạng:

• Thận: tổn thương thận là yếu tố tiên lượng hàng đầu với bệnh nhân

lupus, nhưng không phải lúc nào cũng tương ứng với bệnh cảnh lâm

sàng cần sinh thiết thận mới biết được chính xác được tổn thương [1],

[30]. Trong đợt kịch phát thường có hội chứng cầu thận cấp, hội chứng

thận hư và suy thận.

• Tim mạch: thường gặp nhất là tràng dịch màng tim (30-48%), tràn dịch

ở mức độ vừa và ít, chủ yếu là dịch tiết, có đáp ứng với điều trị

corticoid. Ngồi ra còn gặp nhịp tim nhanh, viêm cơ tim, viêm nội tâm

mạc, suy mạch vành…

• Phổi, màng phổi: viêm màng phổi, tràn dịch màng phổi thường gặp

nhất. viêm phổi lupus gây sốt, khó thở, ho và hình ảnh mờ thâm nhiễm

phổi trên Xquang thường quy. Viêm phổi kẽ gây xơ phổi đôi lúc xảy ra.

Hội chứng suy hô hấp cấp và chảy máu phế nang gây tử vong nhanh là

biểu hiện phổi nặng nhất ở bệnh nhân lupus [1], [23].

• Máu: thiếu máu kéo dài (70%), giảm tiểu cầu gây xuất huyết dưới da

xảy ra ở khoảng 50% bệnh nhân lupus. Các biểu hiện này có thể là dấu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×