Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 3.2: lao bàng quang trên soi bàng quang

Hình 3.2: lao bàng quang trên soi bàng quang

Tải bản đầy đủ - 0trang

58



Biểu đồ 3.24. Các triệu chứng thường gặp trong nhóm đái máu khơng rõ

ngun nhân

Nhận xét: 50% bệnh nhân có tiền sử đái máu, > 30% bệnh nhân có nước tiểu

đỏ như máu, nhưng các triệu chứng còn lại khơng gợi ý nguyên nhân gì.



Biểu đồ 3.25. Giá trị các xét nghiệm trong nhóm đái máu khơng rõ ngun nhân.

Nhận xét: Khơng có bệnh nhân nào BC niệu > 70.



59



Bảng 3.18. Tỷ lệ các triệu chứng của các thăm dò chẩn đốn hình ảnh

trong nhóm đái máu khơng rõ ngun nhân.

Cận lâm sàng

Siêu âm

(Được tiến hành trên 6

bệnh nhân)

X_quang hệ tiết niệu

(6 bệnh nhân)

MSCT hệ tiết niệu

(6 bệnh nhân)

Soi BQ

(6 bệnh nhân)



Triệu chứng

Sỏi tiết niệu



n

1



Tỷ lệ %

16.7%



Bình thường



5



83.3%



Bóng thận to

Sỏi tiết niệu

Bình thường

Sỏi tiết niệu

Bình thường

Viêm BQ

Đái máu từ



0

1

5

0

6

5



0%

16.7%

83.3%

0%

100%

83.3%



6



100%



thận



Nhận xét: đa số bệnh nhân có siêu âm và chụp hệ tiết niệu bình thường, một

bệnh nhân có sỏi thận P nhưng đái máu từ thận T. 100% bệnh nhân có đái

máu từ 1 thận. Chụp MSCT không thấy tổn thương mạch thận.



CHƯƠNG 4



60



BÀN LUẬN

Nghiên cứu được thực hiện trên 120 bệnh nhân đái máu đại thể được

khám và điều trị tại khoa Thận - Tiết Niệu bệnh viện Bạch Mai từ tháng 9

năm 2016 đến hết tháng 8 năm 2017,

Trong 120 bệnh nhân nghiên cứu thấy có 8 nhóm nguyên nhân nội khoa

gây đái máu với những đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng khác nhau.

4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BỆNH NHÂN

4.1.1. Tuổi của bệnh nhân

Nghiên cứu của chúng tơi cho thấy tuổi trung bình của nhóm đái máu đại

thể là 49.6, trong đó tuổi trung bình của nam 53.8 cao hơn nữ 46.3, nhưng sự

khác biệt này là khơng có ý nghĩa thống kê. Chưa có nghiên cứu nào về

nguyên nhân gây đái máu đại thể vì vậy chúng tôi không thể đưa ra so sánh

chung về độ tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân đái máu đại thể

Trong từng ngun nhân lại có tuổi trung bình khác nhau:



Nguyên nhân

Sỏi tiết niệu

Ung thư tiết niệu

Nhiễm khuẩn tiết niệu



Tuổi trung bình

53.6

58.7

51.5



Lao tiết niệu

40.0

Chảy máu nang thận

53.3

Bệnh cầu thận

28.8

Dị dạng mạch thận

54.2

Không rõ nguyên nhân

49.0

Ung thư hệ tiết niệu là nhóm có độ tuổi trung bình lớn nhất, bệnh lý cầu

thận là nhóm có độ tuổi trung bình nhỏ nhất.

Tuổi trung bình trong một số nghiên cứu của các tác giả khác về từng

nhóm bệnh lý có gây đái máu đại thể:

Lâm Thi Kim Oanh độ tuổi hay gặp nhất của nhóm nhiễm khuẩn tiết niệu

là > 70[41].



61



Phạm Văn Yên về ung thư bàng quang tuổi trung bình là 62.6[49].

Đỗ Gia Tuyển về sỏi tiết niệu tuổi trung bình là 57.0[54].

Đậu Minh Quang về lao tiết niệu tuổi thường gặp là nhóm tuổi dưới 50

tuổi[47].

Nguyễn Thị Nga về bệnh thận đa nang và các biến chứng thì độ tuổi hay

gặp nhất là 45-59[46].

Đào Xuân Hải nghiên cứu về di dạng mạch thận độ tuổi trung bình là

49±15.9[53].

Trong nghiên cứu của chúng tơi bệnh nhân có tuổi trung bình của từng nhóm

ngun nhân thấy có một vài ngun nhân khơng có sự tương đồng về độ tuổi

trung bình so với nghiên cứu của một số tác giả, có thể là do chúng tơi nghiên

cứu trên nhóm bệnh nhân có đái máu đại thể.Có thể được lý giải như sau:

Trường hợp sỏi tiết niệu nguyên nhân gây đái máu của sỏi là do sỏi di

chuyển gây đái máu, thường gặp sau những lao động nặng hoặc gắng sức,

những công việc nặng thường tập trung ở nhóm tuổi trẻ hơn, thứ 2 sỏi di

chuyển thường là những sỏi nhỏ, mới hình thành nên bệnh nhân có tuổi đời

trẻ hơn nghiên cứu của Đỗ Gia Tuyển[54].

Trong trường hợp nhiễm khuẩn tiết niệu của Lâm Thị Kim Oanh khơng

tính tuổi trung bình của bệnh nhân mà chỉ xác định nhóm gặp nhiều nhất là từ

>70, có thể do nghiên cứu của Lâm Thị Kim Oanh được thực hiện tại cộng

đồng và đối tượng là những bệnh nhân được xác định có nhiễm khuẩn tiết

niệu bằng xét nghiệm bạch cầu niệu, trong khi đối tượng nghiện cứu của

chúng tôi chỉ là những bệnh nhân đến khám và điều trị tại khoa Thận Tiết

Niệu bệnh viện Bạch Mai và khu trú ở nhóm đối tượng có đái máu đại thể.

Nghiên cứu về nhóm đái máu đại thể do ung thư hệ tiết niệu của chúng tơi

có tuổi trung bình là 58.7 tương tự như của Phạm Văn Yên.

Trong nhóm đái máu đại thể do dị dạng mạch thận tuổi trung bình trong



62



nghiên cứu của chúng tơi là 54.2 cao hơn của Đào Xuân Hải là 49, nhưng sự

khác biệt khơng có ý nghĩa.

4.1.2. Giới của bệnh nhân

Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ chung nam chiếm 40%, nữ chiếm 60%, sự khác

biết này là có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên trong từng nguyên nhân tỷ lệ nam nữ lại có sự

khác biệt.



Nguyên nhân

Nam

Nữ

Sỏi tiết niệu

60%

40%

Ung thư hệ tiết niệu

53.8%

46.2%

Nhiễm khuẩn tiết niệu

34.1%

65.4%

Lao tiết niệu

0%

100%

Chảy máu nang thận

33.3%

66.7%

Bệnh cầu thận

33.7%

64.3%

Dị dạng mạch thận

16.7%

83.3%

Không rõ nguyên nhân

50%

50%

Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ đái máu do sỏi tiết niệu gặp ở nam

chiếm 60% nữ chiếm 40%, sư khác biệt này là có ý nghĩa thống kê. Khác với

nghiên cứu về sỏi tiết niệu của Đỗ Gia Tuyển, tỷ lệ này là nữ 62%, nam

38%[42]. Sự khác biệt này có thể được lý giải: đái máu trong sỏi tiết niệu là

do sự di chuyển của sỏi gây tổn thương niêm mạc đường tiết niệu gây ra, sự

di chuyển sỏi thường gặp sau những lao động nặng hoặc gắng sức, tính chất

cơng việc của nam giới thường nặng hơn nữ giới vì vậy tỷ lệ đái máu do sỏi

gặp ở nam nhiều hơn.

Nghiên cứu của Nguyễn Diệu Hương về ung thư bàng quang nam chiếm

67.3% nữ chiếm 32.7%[45]. Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ này là nam

chiếm 53.8%, nữ chiếm 46.2%. Sự khác biệt này có thể do nghiên cứu của

trong tôi được khảo sát trên toàn bộ bệnh nhân ung thư hệ tiết niệu bao gồm:

ung thư thận, ung thư đường bài xuất và ung thư bàng quang. Theo nghiên

cứu của Lê Ngọc Từ và Nguyễn Bửu Triều về ung thư tế bào thận tỷ lệ này ở

nam và nữ là như nhau[17].



63



Trong nhóm chảy máu nang thận tỷ lệ nữ/nam của chúng tôi

66.7%/33.3%, không có sự tương đồng với các tác giả khác về tỷ lệ giới tính.

Của Đinh Gia Hưng tỷ lệ nữ/nam là 54%/46%, của Phạm Thị Vân Anh tỷ lệ

nữ/nam là 52%/48%. Chưa có nghiên cứu nào về đái máu do chảy máu nang

thận nên chưa có thống kê chính xác về tỷ lệ nam/nữ trong nhóm đái máu do

chảy máu nang thận trước đó. Trong nghiên cứu của chúng tơi về nhóm đái

máu do chảy máu nang thậnthấy có tới 77.8% bệnh nhân là bệnh thận mạn

giai đoạn cuối có lọc máu chu kỳ, đây có thể là một nguyên nhân làm tỷ lể nữ

cao hơn nhóm nam do nữ thường lo lắng và quan tâm tới sức khỏe hơn vì vậy

bệnh nhân nữ được chuyển nên khoa nhiều hơn. Trong nghiên cứu chúng tôi

thấy rằng chảy máu nang thận thường kết hợp với nhiễm trùng nang thận, tỷ

lệ nhiễm khuẩn gặp ở nữ cao hơn nam điều này có thể là nguyên nhân dẫn tới

tỷ lệ nữ gặp nhiều hơn trong nghiên cứu của chúng tơi.

Trong nhóm các ngun nhân khác tỷ lệ đái máu ở hai giới tương tự như

tỷ lệ giới trong nhóm các nguyên nhân của các tác giả khác:

Lâm Thị Kim Oanh tỷ lệ này là nữ 55% và nam 45%[41].

Nghiên cứu của Đào Xuân Hải về dị dạng mạch thận có kết quả tỷ lệ

nữ/nam là 3/1[53].



4.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG CỦA NHÓM BỆNH

NHÂN ĐÁI MÁU ĐẠI THỂ

4.2.1. Đặc điểm lâm sàng

4.2.1.1.Tỷ lệ bệnh nhân nghiện thuốc lá

Trong nghiên cứu của chúng tơi có 35.8% bệnh nhân nghiện thuốc lá

trong số đó có tới 86% bệnh nhân là nam giới. Điều này phản ánh thói quen

của người Việt khi tỷ lệ hút thuốc của nam giới cao hơn hẳn nữ. Trong số đó



64



83.3% nam giới ung thư bàng quang có nghiện thuốc lá, trong đó số nữ thì chỉ

có 16.7% là có ung thư bàng quang. Có sự khác biệt này có thể do số nam

nghiện thuốc lá có tuổi trung bình cao hơn 58.8 so với tuổi trung bình của

nhóm nữ nghiện thuốc lá là 48.5.

4.2.1.2. Bệnh nhịn tiểu

Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ bệnh nhân nhịn tiểu ở 2 giới là 20%

và nam chiếm 41.7% nữ chiếm 58.3%. đói tượng này tập chung chủ yếu ở

nhóm trẻ tuổi, tuổi trung bình là 34.4 tuổi có thể do tính chất cơng việc nên

tập chung chủ yếu ở nhóm đối tượng này. Trong nhóm này có tới 75% bệnh

nhân có viêm bàng quang.

4.2.1.3. Triệu chứng lâm sàng

Trong nghiên cứu của chúng tôi bệnh nhân vào viện chủ yếu tập chung

vào những triệu chứng cơ năng sau: đái máu đỏ tươi lẫn máu cục 40%, đau hố

thắt lưng hoặc hạ vị kèm nước tiểu hồng 22.5%, cơn đau quặn thận chiếm

15%, sốt cao rét run chiếm 10.8%, đái máu tái phát chiếm 11.7%.

Triệu chứng lâm sàng biểu hiện rất đa dạng.

Gặp nhiều nhất là triệu chứng đau thắt lưng hoặc hạ vị chiếm 59%: đau

biểu hiện kiểu cơn đau quặn thận trong sỏi tiết niệu hoặc đau hố hông lưng

trong nhiễm khuẩn tiết niệu, ung thư thận, chảy máu nang thận, đau hạ vị hay

gặp trong ung thư bàng quang, viêm bàng quang cấp.

Thiếu máu là triệu chứng khá thường gặp với tỷ lệ 40%: triệu chứng có

thể do đái máu số lượng lớn, hoặc do bệnh lý: ung thư, lao, suy thận.

Đái buốt, đát dắt gặp 37.5% thường là biểu hiện của viêm bàng quang

hoặc ung thư bàng quang.

30.8% bệnh nhân có tiền sử đái máu, triệu chứng này gặp ở tất cả các

nhóm nguyên nhân.



65



Sốt cao rét run gặp ở 27.5% bệnh nhân, thường chỉ gặp ở bệnh nhân viêm

thận bể thận và chảy máu nang thận bội nhiễm.

Một số đặc điểm lâm sàng của các tác giả nghiên cứu về các nguyên nhân

gây đí máu đại thể:

Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Nga về bệnh thận đa nang các triệu chứng lâm sàng

thường gặp [46]:



Triệu chứng lâm sàng



Tỷ lệ %



Đái mủ đại thể



7.1%



Đái máu đại thể



12.5%



Đái buốt, đái dắt



16.1%



Sốt



35.7%



Đau hông lưng



51.8%



Tăng huyết áp



60.7%



Thận to



92.8%



Da xanh, niêm mạc nhợt



92.8%



66



Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Thuầnvề viêm bàng quang mạn các triệu chúng lâm

sàng thường gặpl[44]:



Triệu chứng lâm sàng

Đái buốt, đái dắt

Đái dắt

Nước tiểu đỏ

Nước tiểu đục

Đau tức hạ vị



Tỷ lệ %

69.5%

19.5%

41.7%

27.8%

78.4%



Trong nghiên cứu của Nguyễn Trung Hiếu về ung thư thận triệu chứng lâm sàng

thường gặp[43]:



Triệu chứng lâm sàng

Đái máu

Đái máu và đau thắt lưng

Đau thắt lưng

Điều trị bệnh khác phát hiện ra

Khám sức khỏe định kỳ



Tỷ lệ %

13.1%

14.3%

52.4%

2.4%

14.3%



Nghiên cứu của Lê Văn Hốt về suy thận cấp do sỏi tiết niệu[48]:



Triệu cứng lâm sàng

Cơn đau quặn thận

Đái máu sau lao động

Đái ra sỏi

Đã mổ vì sỏi

Tiền sử đã vô niệu



Tỷ lệ %

58.2%

3.6%

9.1%

45.5%

1.8%



67



Nghiên cứu của Đào Xuân Hải về dị dạng mạch thận[53]:



Triệu chứng lâm sàng

Đái máu đại thể

Đái máu đại thể và đau thắt lưng

Đau thắt lưng

Tăng huyết áp



Tỷ lệ %

55%

35%

5%

5%



Trong nghiên cứu của chúng tôi bệnh nhân cúng bao gồm nhưng triệu

chứng như của các tác giả trên.

4.2.2. Đặc điểm cận lâm sàng

4.2.2.1. Các xét nghiệm về huyết học, sinh hóa và nước tiểu

Xét nghiệm cho thấy có 40% bệnh nhân có thiếu máu Hb < 110g/l, trong

đó nhóm đái máu do sỏi ít gặp thiếu máu nhất với Hb trung bình 130±28g/l,

nhóm gặp thiếu máu nhiều nhất là đái máu do chảy máu nang thận với Hb

trung bình là 97±21g/l. Điều này có thể phần nào được lý giả do tỷ lệ bệnh

thận mạn tính giai đoạn cuối ở nhóm chảy máu nang thận chiếm tới 77.8%.

Khơng có bệnh nhân nào rối lọa đong máu nặng, PT trung bình

89.25±17.42, tiểu cầu trung bình 262 ± 124 G/l. Như vậy có thể kết luận đái

máu không phải do nguyên nhân rối loạn đông máu.

Protein niệu trung bình 1.6±1.3g/l, trong đó protein niệu cao nhất thuộc về

nhóm bệnh lý cầu thận, nhóm thấp nhất là nhóm sỏi tiết niệu.

4.2.2.2. Các thăm dò chẩn đốn hình ảnh và giải phẫu bệnh

Trong nghiên cứu của chúng tôi siêu âm có thể phát hiện 75% các trường

hợp mắc sỏi tiết niệu, 61,6% các trường hợp nghi ngờ khối u, 100% các

trường hợp nang thận được phát hiện. Bên cạnh đó là những dấu hiệu gợi ý

như giãn đài bể thận, niệu quản, dấu hiệu máu cục hay chảy máu nang thận.

Chụp CT hoặc MSCT có giá trị hơn siêu âm khi có thể phát hiện 100%

các trường hợp sỏi thận, 90% các trường hợp khối u, xác định chẩn đoán chảy

máu nang thận. Riêng dị dạng mạch thận chỉ được phát hiện qua chụp MSCT.



68



Soi bàng quang có giá trị trong việc xác định vị trí chảy máu: chảy máu do

viêm bàng quang hay chảy máu từ lỗ niệu quản. Trong nghiên cứu của chúng

tôi 80% bệnh nhân ung thư bàng quang được phát hiện qua soi kết hợp với

sinh thiết. 100% bệnh nhân viêm bàng quang chảy máu được xác định qua soi

bàng quang. Ngoài ra việc soi bàng quang còn giúp định hướng nguyên nhân

khi xác định được chảy máu từ thận nào. Dặc biệt soi bàng quang kết hợp với

sinh thiết đã chẩn đốn chính xác 2 ca lao bàng quang.

Trong nghiên cứu của chúng tôi giải phấu bệnh được tiến hành trên nhưng

bệnh nhân soi bàng quang nghi ngờ ung thư hoặc lao và bệnh nhân nghi ngờ

đái máu do bệnh lý cầu thận. Kết quả thu được 31.8% bệnh nhân sinh thiết

thận có tổn thương cầu thận gây đái máu đại thể, 18.2% bệnh nhân ung thư

bàng quang. 4.5% bệnh nhân lao bàng quang và 45.5% bệnh nhân là viêm

bàng quang.

Trong nghiên cứu của Đào Xuân Hải về dị dạng mạch thận 100% được

xác định nhờ chụp MSCT mạch thận[53].

Trong nghiên cứu của Nguyễn Trung Hiếu về ung thư thận, siêu âm phát

hiện ra 91.6% các trường hợp ung thư thận, CT phát hiện ra 100% các trường

hợp[43]. Điểm này khác với nghiên cứu của chúng tơi. Có sự khác biệt này là

do đói tượng trong nghiên cứu của Nguyễn Trung Hiếu chỉ tập chung ở nhóm

ung thư thận, và bệnh nhân đã được xác định là có khối u ở thận tren CT mới

được đưa vào nghiên cứu. Còn trong nghiên cứ của chúng tôi lấy cả bệnh

nhân ung thư thận và bàng quang, độnhạy của siêu âm và CT với ung thư

bàng quang là thấp hơn ung thư thận bện cạnh đó bệnh nân có thể có máu cục

trong bàng quang hoặc bể thận khiến cho việc xác ddimhj khối u bằng siêu

âm là gặp khó khăn hơn.

4.3. CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY ĐÁI MÁU ĐẠI THỂ

Trong nghiên cứu của chúng tơi có 7 nhóm nguyên nhân gây đái máu đại



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 3.2: lao bàng quang trên soi bàng quang

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×