Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.1: Các chất gây nước tiểu đỏ[1].

Bảng 1.1: Các chất gây nước tiểu đỏ[1].

Tải bản đầy đủ - 0trang

13



1.5.3.Triệu chứng toàn thân

Da và niêm mạc: tùy theo mức độ đái máu, bệnh nhân có thể biểu từ

khơng thiếu máu tới các mức độ thiếu máu biểu hiện bằng da xanh niêm mạc

nhợt.

Bệnh nhân có thể có mệt mỏi hoặc không.

Gầy sút cân gặp trong bệnh lý ung thư đường tiết niệu hoặc bệnh lý tự miễn.

Có thể sờ thấy hạch ngoại vi trong trường hợp bệnh nhân bị ung thư.

1.5.4. Triệu chứng thực thể

Thăm khám một cách cẩn thận và đầy đủ có thể phần nào giúp định

hướng chẩn đoán nguyên nhân gây đái máu.

Màu sắc nước tiểu đỏ từ đỏ như nước rửa thịt tới như máu, có thể có lẫn

máu cục, đây là triệu chứng giúp chẩn đốn đái máu đại thể [3].

Dấu hiệu vỗ hơng lưng dương tính một bên có giá trị trong bệnh lý viêm

thận bể thận [16].

Ấn điểm niệu quản bệnh nhân thấy đau gặp trong bệnh lý sỏi tiết niệu.

Sờ thấy thận to gặp trong bệnh thận đa nang, ứ nước, ứ mủ bể thận do

sỏi [21].

Thăm khám vùng hạ vị có thể thấy cầu bàng quang trong trường hợp có

máu cục gây tắc niệu đạo hoặc chảy máu từ u phì đại tiền liệt tuyến gây tắc

niệu đạo, sỏi bàng quang.

Thăm trực tràng có thể sờ thấy tiền liệt tuyến to [22].

1.6. Triệu chứng cận lâm sàng của đái máu

1.6.1. Xét nghiệm nước tiểu

Là phương pháp được áp dụng thông thường nhất vì thuận tiện đơn giản

và độ chính xác cao [23, 24].

Nước tiểu được lây mẫu vào buổi sáng hoặc bất kỳ thời điểm nào trong

ngày, nhưng thường lấy mẫu nước tiểu vào buổi sáng vì nước tiểu sẽ được cô



14



đặc sau một đêm ngủ, các thành phần bất thường bệnh lý kể cả vi khuẩn niệu

sẽ có tỷ lệ cao nên dẽ phát hiện [23, 24].

Chỉ định cho định tính protein niệu, vi khuẩn niệu và các thành phần hữu

hình trong nước tiểu.

Cách tiến hành: sáng sớm bệnh nhân vệ sinh bộ phận sinh dục - tiết niệu

trước khi lấy nước tiểu. Đi tiểu phần đầu bãi bỏ đi, rồi hứng vào 1 hoặc 2 ống

nghiệm từ 5-10ml nước tiểu gửi đi xét nghiệm [23, 24].

Để tìm các thành phần hữu hình trong nước tiểu như: hồng cầu, bạch

cầu, các tế bào biểu mô, các loại trụ, tinh thể có hai cách: soi tươi và cặn

Addis .

+Soi tươi: có thể lấy nước tiểu giữa dòng vào buổi sáng hoặc bất kỳ thời

điểm nào trong ngày cho vào ống nghiệm, lấy một giọt nước tiểu soi tươi qua

kính hiển vi với vật kính 10x [23, 24].

1.6.2. Xét nghiệm máu

+ Tổng phân tích tế bào máu ngoại vi: cần chú ý tới số lượng hồng cầu

và nông độ hemoglobin để xác định mức độ thiếu máu theo phân loại thiếu

máu. Số lượng bạch cầu giúp xác định tình trạng nhiễm khuẩn, số lượng tiểu

cầu để đánh giá nguy cơ chảy máu.

+ Đông máu cơ bản: cần chú ý tới các thông số về PT, APTTs,

Fibrinogen, chỉ số INR đánh giá tình trạng đơng máu của bệnh nhân. Giúp xác

định ngun nhân chảy máu trong các bệnh do dùng thuốc chống đông và

bệnh lý về máu như Hemophili A, Hemophili B.

+ Sinh hóa máu: cần quan tâm tới chức năng gan thận như: Ure ,

creatinin , GOT , GPT.

1.6.3. Siêu âm hệ tiết niệu

Việc sử dụng siêu âm trong chẩn đoán bệnh thân tiết niệu đã trở thành

thường quy. Chẩn đoán siêu âm răt nhạy và chính xác với các khối dịch, nên



15



dễ phân biệt nang thận với khối u hoặc thận ứ nước. Ngồi ra còn dễ dàng

chẩn đốn sỏi thận với hình ảnh cản âm kèm bóng cản, chẩn đoán thận ứ mủ

bằng đo độ cản âm của khối dịch.

Về kỹ thuật, siêu âm được thực hiện với đầu dò từ 3,5 - 5 MHZ dành cho

người lớn [25, 26].

Trên hình siêu âm kích thước thận bình thường là 10x4cm, đường bờ

đều, bên trái có lách đè vào, bên phải có gan phải đè vào [25, 26].

Siêu âm có thể thăm khám hình ảnh thận, nhu mơ thận, sỏi thận và các

đài bể thận. Qua đó phát hiện các tổ thương như thận to, thận teo nhu mô tăng

âm, các khối trong thận, giãn đài bể thận, sỏi thận [25, 26].

Để siêu âm bàng quang bệnh nhân cần nhịn tiểu, có thể thấy nước tiểu

trong bàng quang bằng hình rỗng âm, bờ bàng quang đậm âm và đều, có thể

phát hiện máu hoặc mủ trong bàng quang, các khối u bàng quang, túi thừa ...

Trên hình siêu âm có thể thấy hình ảnh tiền liệt tuyến cùng với đậm độ

nhu mơ và kích thước của nó. Từ đó có thể phát hiện một số bệnh như phì đại

tiền liệt tuyến, u tuyến [25, 26].

1.6.4.Thăm khám điện quang hệ tiết niệu

1.6.4.1. Chụp hệ tiết niệu không chuẩn bị

Cần thụt đại tràng cho bệnh nhân trước khi chụp để tránh các hình ảnh

nhầm lẫn do bã thức ăn hoặc sỏi phân.

Kỹ thuật được chỉ định trong các trường hợp: cơn đau quặn thận, suy

thận cấp, suy thận mạn, đau bụng chưa rõ nguyên nhân.

Tổn thương có thể thấy: bóng thận to, hình ảnh thận mát-tít rong lao

thận, hình ảnh cản quang của sỏi ...[26, 27].

1.6.4.2. Chụp niệu đồ tĩnh mạch ( UIV )

Cho đến nay phương pháp này vẫn là phương pháp đơn giản và cơ bản



16



để đánh giá chức năng bài tiết của thận, hình thể bình thường hoặc bệnh lý

của các đài bể thận, niệu quản, bàng quang qua sự hiện hình của thuốc cản

quang ở từng bộ phận trên.

Chỉ định trong các trường hợp: sỏi đường tiết niệu, nhiễm khuẩn tiết niệu

tái phát nhiều lần, đái máu chua rõ nguyên nhân, thận to [26, 27].

1.6.4.3. Chụp CT scanner hệ tiết niệu

Trong những trường hợp các phương pháp chụp X quang tren chưa xác

định được nguyên nhân của bệnh lý có thể cho chụp CT scanner kết hợp tiêm

thuốc cản quang hoặc không.

Cho phép hát hiện những tổn thương thận như u thận, nang thận, u sau

phúc mạc xâm lấn thận, tắc mạch. Hoặc các tổn thương bàng quang như u

bàng quang, ung thư tiền liệt tuyến, u đại tràng di căn chèn ép niệu quản và

các tạng lân cận [26, 27].

1.6.5. Soi bàng quang

Được Desormeaux (Pháp) đề xuất năm 1853 rồi sau đó được triển khai

bởi bởi Nitze rồi Albarran.

Ngày nay với sự phát minh máy nội soi bàng quang sợi kỹ thuật nội soi

bàng quang đã trở chỉ định thường quy với một số bệnh như: đái máu, đái mủ,

sỏi bàng quang mạn, u bàng quang, nhiễm trùng (vi khuẩn, nấm, lao..), các dị

dạng (sa lồi niệu quản, túi thừa bàng quang..)...

Soi bàng quang giúp chẩn đoán các bệnh lý về bàng quang, ngồi ra có

thể tiến hành sinh thiết khi có chỉ định, hoặc tiến hành một số can thiệp như

lấy sỏi bàng quang, lấy sỏi niệu quản đoạn sát thành bàng quang [28, 29].

1.6.6. Sinh thiết thận

Sinh thiết thận là phương pháp chẩn đốn mơ học được Yversen và Brun

tiến hành đầu tiên năm 1950.

Sinh thiết thận giúp chẩn đốn những bệnh có tổn thương cầu thận từ đó

sẽ có chẩn đốn tổn thương mơ bệnh học của cầu thận và đưa ra phác đồ điều



17



trị thích hợp hơn.

Sinh thiết thận được chỉ định trong các trường hợp: hội chứng thận hư,

bệnh thận lupus, bệnh thận đái tháo đường, hội chứng đái máu kéo dài đơn

độc, protein niệu, nghi ngờ thải ghép thận... [30].

1.7. Các nguyên nhân gây đái máu

1.7.1. Sỏi thận - tiết niệu

Sỏi thận là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây đái máu ở người

trưởng thành.

Sỏi thận - tiêt niệu là một bệnh lý thường gặp, chiếm khoảng 3% dân số

ở các nước phương Tây. Ở Việt Nam chưa có con số thống kê trong dân số.

Tại khoa Thận - Tiết Niệu bênh viện Bạch Mai, trong 5 năm (1991 - 1996) có

216/2256 bệnh nhân nằm viện có viêm thận bể thận do sỏi chiếm tỷ lệ 9,5%.

Các loại sỏi thường gặp:

+ Sỏi calci chiếm 90% trường hợp.

+ Sỏi Uric do tăng acid uric máu gây nước tiểu quá bão hòa acid uric và

tạo sỏi.

+ Sỏi Truvit do nhiễm khuẩn tiết niệu. Vi khuẩn tiết ra men urease làm

thủy phân tạo thành amoniac (NH4OH). Amoniac thủy phân gây kiềm hóa

nước tiểu tạo điều kiện hình thành sỏi Truvit (MgNH4PO4.6H2O).

+Sỏi oxalat nguồn gốc có thể do di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể

thường gây loạn dưỡng oxalat. Tăng oxalat niệu tạo điều kiện tạo sỏi oxalat

calci ngậm một phân tử nước.

+Sỏi cystin do rối loạn vận chuyển cystin ở ống thận và niêm mạc ruột

nguyên nhân do rối loạn di truyền gen lặn nằm trên nhiễm sắc thể số 14.

Lâm sàng thường biểu hiện với cơn đau quặn thận có kèm theo đái máu

đại thể hoặc vi thể, kèm theo đái buốt, đái dắt.

Chẩn đoán bằng siêu âm hoặc chụp X quang hệ tiết niệu thấy hình ảnh



18



sỏi [15, 31].

1.7.2. Ung thư hệ tiết niệu

Ung thư tế bào thận chiếm khoảng 3% của toàn bộ các loại ung thư của

người lớn. Bệnh thường gặp ở những người lớn trên 50 tuối với tỷ lệ nam gặp

nhiều gấp 2 lần nữ [17].

Sự phân bố của ung thư tế bào thận trên thế giới rất khác nhau. Theo cơ

quan nghiên cứu ung thư thế giới (IARC) năm 2000, tỷ lệ mắc bệnh trên

100.000 người thì ở Đức là 11,98%, ở Mỹ là 10,96%, ở Nhật là 5,4% và Ở

Việt Nam là 1,13% [17].

Ung thư đường tiết niệu trên là một bệnh ít gặp, nó chiếm 5-7% tổng số

những khối u thận và đường tiết niệu trên. Những khối u đài bể thận nhiều

gấp hai lần những khối u niệu quản (65%/35%), trong những khối u niệu quản

các tổn thương của đầu xa niệu quản chiếm ưu thế (75% u niệu quản ở 1/3

dưới, 20% u niệu quản ở 1/3 giữa, 5% u niệu quản ở 1/3 trên) [32].

Ung thư bàng quang là loại ung thư thường gặp trong các ung thư đường

tiết niệu, trên thế giới ung thư bàng quang đứng hàng thứ hai sau ung thư tiền

liệt tuyến. Ở nam giới nó xép thứ tư sau ung thư tiền liệt tuyến, phổi và trực

tràng , ở phụ nữ nó đứng thứ tám trong các ung thư [33].

Ung thư tuyến tiền liệt (UTTTL) là bệnh rất phổ biến và tần số ngày

càng tăng. UTTTL có biểu hiện lâm sàng từ 50 tuổi trở lên và tần số tăng lên

nhanh cùng với tuổi thọ [22].

UTTTL đứng hàng thứ 5 trong các loại ung thư trên thế giới (Parkin

1994). Tuy nhiên sự phân bố rất khác nhau trên thế giới. Ở Hoa Kỳ và châu

Âu , UTTTL là ung thư hay gặp nhất và là nguyên nhân gây tử vong thứ hai ở

nam giới. Tần số mắc bệnh thấp nhất ở châu Á [22].

Tất cả các ung thư đường tiết niệu đều biểu hiện triệu chứng đái máu với

tỷ lệ từ 80-90%, với đặc điểm là tự nhiên, tự phát, tái phát và tự cầm. Và



19



thường là đái máu đại thể toàn bãi [17].

Ngoài ra bệnh nhân thường có đau ở vị trí khối u, và các triệu chứng

chung khác của ung thư như mệt mỏi, gầy sút cân, sốt ...[17], [22].

Chẩn đoán bằng sinh thiết làm mô bệnh học.

1.7.3. Nhiễm khuẩn tiết niệu

Nhiễm khuẩn tiết niệu là bệnh lý rất thường gặp, đặc biệt là ở nữ. Theo

nhiều thống kê thì có khoảng 20% có những đợt nhiễm khuẩn tiết niệu có

triệu chứng. Nếu kiểm tra định kỳ còn phát hiện thêm một tỷ lệ có vi khuẩn

niệu mà khơng có triệu chứng. Tỷ lệ này nữ/nam vào khoảng 9/1 [16].

Nguyên nhân do vi khuẩn [16]

+ Vi khuẩn Gram (-) chiếm khoảng trên 90%, thường gặp là:

- E.coli chiếm 60-70%

- Klebsiella chiếm 15-20%

- Proteus mirabilis chiếm 10-15%

- Enterobacter chiếm 5-10%

- Một số vi khuẩn Gram (-) khác

+ Vi khuẩn Gram (+) chỉ chiếm dưới 10%

- Enterococcus chiếm khoảng 2%

- Staphylococus chiếm khoảng 1%

- Các vi khuẩn Gram (+) khác chiếm 3-4%

Các yếu tố thuận lợi [16]

+ Sỏi tiết niệu

+ Dị dạng thận niệu quản

+ U thận tiết niệu

+ Thai nghén

+ Đái tháo đường

+ Thận đa nang



20



Lâm sàng thường biểu hiện hội chứng nhiễm trùng có kèm đái máu và

thường là đái máu vi thể [16].

Chẩn đốn bằng xét nhiệm máu, chẩn đốn hình ảnh, xét nghiệm nước

tiểu soi tươi tìm vi khuẩn niệu, cấy nước tiểu làm kháng sinh đồ [16].

1.7.4. Lao hệ tiết niệu

Lao thận là một bệnh thường gặp, là giai đoạn hai khi cơ thể nhiễm trực

khuẩn lao. Hiện nay ở các nước Âu Mỹ và các nước đang phát triển, lao phổi

cùng với lao tiết niệu sinh dục đang có chiều hướng tăng [34].

Lao thận gây tổn thương hai thận ,có thể bên nặng bên nhẹ, nhưng rất ít

khi gặp lao thận một bên [34].

Lao thận gặp ở lúa tuổi từ 20-40, nam nhiều hơn nữ. Trước đây điều trị

lao thận bằng ngoại khoa là chính. Ngày nay nhờ có các thuốc chống lao hữu

hiệu, nên điều trị nội khoa đóng vai trò quan trọng, song việc chẩn đốn lao

vẫn còn khó khăn [34].

Ngun nhân do nhiễm trực khuẩn Mycobacterium tuberculosis .

Về lâm sàng bệnh nhân biểu hiện tam chứng (Triade): đái nhiều, đái khó

và đái ra máu. Ngồi ra bệnh nhân còn biểu hiện hội chứng bàng quang, đau

vùng hố thắt lưng, sốt về chiều, gầy sút cân [18, 34].

Chẩn đoán bằng chụp X quang, siêu âm thận, soi bàng quang, xét

nghiệm nước tiểu tìm vi khuẩn lao trong nước tiểu [18, 34].

1.7.5. Nang thận

1.7.5.1. Thận đa nang

Là tình trạng có nhiều nang to nhỏ khơng đều ở vùng vỏ và vùng tủy của hai

thận. Nguyên nhân do di truyền gen trội trên nhánh ngắn NST số 16 [21, 35].

Tỷ lệ nam nữ như nhau, bệnh thường biểu hiện sau tuổi 30-40, nhưng

vẫn có thể xuất hiện sớm hơn [21, 35].



21



Thận gồm rất nhiều nang ở cả hai thận, kích thước của nag to nhỏ khơng

đều, từ 1-2cm đường kính dến những nang to 4-5cm đường kính hoặc lớn

hơn. Dịch trong nang thường đòng nhất đơi khi có máu do hiện tượng chảy

máu trong nang [21, 35].

Lâm sàng sờ thấy thận to, bệnh nhân có thể đau trong những lần chảy

máu nang thận hoặc nhiễm trùng nang thận [21, 35].

Chẩn đoán bằng siêu âm.

1.7.5.2. Nang đơn thận

Nang đơn thận được định nghĩa là chỉ ở một thùy thận, không thông với

đài bể thận. Thành nang là một lớp xơ và các tế bào biểu mơ. Đây là bệnh

lành tính [36].

Nang đơn thận gia tăng theo lứa tuổi, hiếm khi gặp ở lứa tuổi trước 20.

Kissane và Smith (1975) khi mổ tử thi ở người trên 50 tuổi thấy tỷ lệ nang đơn

thận chiếm trêm 50%. Laucks và Mc Lachlan (1981) phát hiện trên chụp cắt lớp

vi tính tỷ lệ 20% người có nang đơn thận ở tuổi 40 và 33% ở tuổi 60 [36].

Lâm sàng có thể bệnh nhân đau tức vùng thắt lưng, sờ thấy thận to, tăng

huyết áp, đái máu đại thể [36].

Các phương pháp thăm dò hình ảnh giúp chẩn đốn nang đơn thận: siêu

âm, chụp cắt lớp vi tính [36].

1.7.6. Nhóm bệnh lý cầu thận

Nhóm bệnh lý cầu thận thường gây ra đái máu vi thể dai dẳng, có thể có

đái máu đại thể, kèm theo protein niệu.

Bệnh được chẩn đốn mơ bệnh học bằng sinh thiết thận.

Bao gồm các bệnh cầu thận nguyên phát (bệnh thận IgA, bệnh thận

màng, viêm cầu thận màng tăng sinh, xơ hóa cầu thận ổ cục bộ...), bệnh cầu

thận thứ phát (hội chứng Scholein- Henoch, viêm thận Lupus, viêm mạch



22



ANCA..) [37, 38].

1.7.8. Các nghiên cứu về nguyên nhân gây đái máu đại thể

Chưa có 1 nhiên cứu nào về nguyên nhân gây đái máu đại thể ở cả trong

nước và nước ngồi, nhưng đã có rất nhiều nghiên cứu về từng nguyên nhân

gây đái máu đại thể.

Nghiên cứu trong nước:

Theo nghiên cứu của Lâm Thị Kim Oanh về nhiễm khuẩn tiêt niệu ở

cộng đồng có 3.2% bệnh nhân nhiễm khuẩn tiết niệu ( bao gồm viêm bàng

quang và viêm thận bể thận) có đái máu đại thể, độ tuổi hay gặp nhất là 40-49

chiếm 39.4%, tỷ lệ nữ/nam là 1.22[41].

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thuần về đặc điểm lâm sàng của viêm bàng

quang mạn có tới 41.66% bệnh nhân viêm bàng quang mạn có đái máu đại

thể, tỷ lệ này gặp ở nữ là 83.33% [44].

Theo nghiên cứu của Đỗ Gia Tuyển về sỏi tiết niệu và biến chứng của

sỏi tiết niệu năm 2010 tại khoa Thận - Tiết Niệu có 17% bệnh nhân sỏi tiết

niệu có đái máu đại thể, tỷ lệ gặp sỏi ở nữ là 62%, ở nam là 38% [42]

Nghiên cứu của Lê Văn Hốt về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết

quả điều trị vô niệu do sỏi tiết niệu tại bệnh viện Việt Đức năm 2001 có

3.64% bệnh nhân sỏi tiết niệu có đái máu đại thể[48].

Nghiên cứu của Nguyễn Trung Hiếu 2014 về ung thư thận tại bệnh viện Việt Đức

thấy



Đái máu

Đau thắt lưng

Đái máu và đau thắt lưng

Sút cân

Thiếu máu



13.1%

52.4%

14.3%

9.5%

7.1%



23



Trong nghiên cứu chưa nói về tiền sử đái máu của bệnh nhân.[43]

Nghiên cứu của Nguyễn Diệu Hương về ung thư bàng quang tại viên K

năm 2008 có tới 77.6% bệnh nhân có biểu hiện đái máu, trong khi đó chỉ có

8.2% bệnh nhân có đái buốt, đái rắt. Tỷ lệ nam giới gặp ung thư bàng quang

là 67.3%[45]

Nghiên cứu của Phạm Văn Yên về ung thư bàng quang tại bệnh viện Việt

Đức năm 2008 có 40% bệnh nhân có tiền sử nghiện thuốc lá, 98.9% bệnh

nhân vào viện vì đái máu đại thể[49]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Nga về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và

biến chứng của thận đa nang năm 2014 có 12,5% bệnh nhân thận đa nang có

biến chứng đái máu đại thể, và 84.8% bệnh nhân trên 45 tuổi có suy thận giai

đoạn V[46]

Nghiên cứu của Đinh Gia Hưng năm 2008 về thận đa nang tại khoa Thận

bệnh viện Bạch Mai thấy có 22% bệnh nhân có đái máu đại thể, 76% bệnh

nhân có suy thận giai đọan cuối[51]

Nghiên cứu của Đậu Minh Quang về lao tiết niệu năm 2006 cho thấy lao

tiết niệu sinh dục chiếm 0.7% lao các loại. Với biểu hiện gặp chủ yếu ở lứa

tuổi dưới 50, tỷ lệ nam/nữ là 1/1 và có 39.1% bệnh nhân có đái máu đại thể là

lý do chủ yếu khiến bệnh nhân nhập viện điều trị[47]

Nghiên cứu của Phạm Thị Hương năm 2016 về đặc điểm dịch tễ học lâm

sàng đái máu ở trẻ em có 50% bệnh nhân viêm thận IgA có đái máu đại thể

từng đợt xuất hiện sau các đợt viêm đường hô hấp trên, với đặc điểm đái máu

đại thể nước tiểu màu hồng hoặc sẫm màu, khơng có máu cục, bệnh nhân

khơng có biểu hiện đường tiết niệu dưới[50].

Nghiên cứu của Kim Ngọc Thanh năm 2013 về viêm thận Lupus thấy có

2.4% bệnh nhân có đái máu đại thể với đặc điểm nước tiểu màu hồng hoặc

sẫm màu, khơng có máu cục, bệnh nhân khơng có biểu hiện dường tiết niệu

dưới[52].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.1: Các chất gây nước tiểu đỏ[1].

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×