Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Triệu chứng toàn thân trong ULAKH gồm sốt, gầy sút cân và đổ mồ hôi về đêm. Gần đây, triệu chứng toàn thân được coi là một yếu tố dự báo độc lập về mức độ tăng độc tính từ việc điều trị hóa chất trên những bệnh nhân ULAKH [8], do đó cần khai thác kỹ bện

Triệu chứng toàn thân trong ULAKH gồm sốt, gầy sút cân và đổ mồ hôi về đêm. Gần đây, triệu chứng toàn thân được coi là một yếu tố dự báo độc lập về mức độ tăng độc tính từ việc điều trị hóa chất trên những bệnh nhân ULAKH [8], do đó cần khai thác kỹ bện

Tải bản đầy đủ - 0trang

54

4.1.5. Triệu chứng cơ năng

Những triệu chứng cơ năng hay gặp được biểu thị rõ trong bảng 3.4. Các

triệu chứng này có mối liên quan mật thiết với vị trí biểu hiện u nguyên phát.

Nuốt vướng và đau họng (đặc biệt khi biểu hiện 1 bên) là những triệu chứng

hay gặp nhất ở bệnh nhân ULAKH tại Amidan khẩu cái và Amidan đáy lưỡi,

thành sau họng. Tuy không đặc hiệu cho bệnh nhưng đó cũng là những lý do

chủ yếu khiến bệnh nhân phải đi khám. Đây cũng là những kết quả được ghi

nhận trong các nghiên cứu của Trần Thị Mai [11], Lê Minh Kỳ [15], Nguyễn

Đình Phúc [49], và các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài khác [43], [44].

Những triệu chứng khác như thay đổi giọng nói, ngủ ngáy, khó thở xuất hiện

khi khối u to, cản trở đường hơ hấp. Có 2 bệnh nhân trong nghiên cứu phải

mở khí quản do khối u quá to. Nghiên cứu của Nguyễn Đình Phúc cũng chỉ gặp

2/20 bệnh nhân ULAKH vòng Waldayer có biểu hiện khó thở [49]. Ngồi ra,

chúng tơi khơng gặp trường hợp nào phát hiện ULAKH tại Amidan khẩu cái

dưới dạng Apxe quanh Amidan như báo cáo của Kallel [50]. Có lẽ đây là trường

hợp rất hiếm gặp nên chúng tơi chưa tìm thấy thêm báo cáo nào tương tự.

Trong số 6 bệnh nhân ULAKH tại vòm, các triệu chứng về mũi (ngạt,

chảy mũi) chúng tơi chỉ gặp ở 5 bệnh nhân (có 1 bệnh nhân chảy máu mũi).

Bên cạnh đó, ù tai và nghe kém cũng là những biêủ hiện hay gặp do khối u to

che lấp vòi Eustachi hoặc gây viêm tai giữa ứ dịch (có 2 bệnh nhân viêm tai

thanh dịch). Tương tự, nghiên cứu cũng của Teh C.S cũng cho thấy chỉ có 5/8

bệnh nhân ULAKH tại vòm có triệu chứng về mũi [43]. Nghiên cứu của

Laskar S. trên 113 bệnh nhân ULAKH tại vòm cũng chỉ ra những triệu chứng

hay gặp là ngạt chảy mũi (51%), đau đầu (32%), chảy máu mũi (19%), nghe

kém và đau tai (8%) [51]. Trong nghiên cứu 71 bệnh nhân ULAKH tại vòm,

tác giả Xie C. cũng cho thấy ngạt, chảy mũi là triệu chứng hay gặp nhất

(50,7% và 21,1%) cũng ghi nhận tỷ lệ biểu hiện nghe kém và ù tai lần lượt là



55

16,7% và 22,5%, nổi hạch cổ ở 32,4% số ca [52]. Như vậy, bệnh nhân

ULAKH tại vòm sẽ biểu hiện triệu chứng chủ yếu ở mũi và tai.

4.1.6. Triệu chứng thực thể

4.1.6.1. Vị trí U

Trong nghiên cứu của chúng tơi, bảng 3.5 đã ghi nhận số bệnh nhân biểu

hiện ULAKH tại Amidan khẩu cái chiếm tỷ lệ nhiều nhất 65,6% với 21 bệnh

nhân (trong đó có 2 bệnh nhân ULAKH cả 2 bên Amidan khẩu cái), tiếp theo

mới đến vòm (6 bệnh nhân), Amidan đáy lưỡi (4 bệnh nhân) và thành sau

họng (1 bệnh nhân). Tỷ lệ biểu hiện ULAKH tại Amidan khẩu cái: vòm:

Amidan đáy lưỡi trong nghiên cứu của Teh C. S. là 67% : 27% : 3% [43], của

Lee S. J. là 84,3%: 8,9%: 6,8% [39], của Salplahta D. là 73,7% : 21% : 5,3%.

Nghiên cứu trong nước của các tác giả Nguyễn Đình Phúc, Lê Minh Kỳ, Trần

Thị Mai, Nguyễn Trần Lâm cũng cho kết quả Amidan khẩu cái là vị trí hay

gặp nhất [49], [15], [11], [14].

Chúng tơi khơng gặp bệnh nhân nào có biểu hiện từ 2 vị trí trở lên tại

vùng họng. Tuy nhiên, điều này lại được ghi nhận trong nghiên cứu của Chen

L. [53], Trần Thị Mai [11], Nguyễn Trần Lâm [14], Nguyễn Đình Phúc [49].

Thực tế trong quá trình khám bệnh, chúng tôi gặp 2 bệnh nhân nghi ngờ

ULAKH 2 vị trí nhưng lại chỉ được sinh thiết 1 vị trí. Trường hợp thứ nhất là

1 bệnh nhân được sinh thiết Amidan khẩu cái cho chẩn đốn xác định, soi

vòm thấy có khối u quá phát. Trường hợp thứ 2 là 1 bệnh nhân chẩn đốn xác

định ULAKH tại vòm kèm theo Amidan phải quá phát. Tuy nhiên trong quá

trình điều trị, ngồi tổn thương đã chẩn đốn xác định thì tổn thương nghi ngờ

thứ 2 cũng đáp ứng với hóa chất, thu nhỏ dần về kích thước cùng với u

nguyên phát. Lý do khơng sinh thiết vị trí thứ 2 có thể do 2 nguyên nhân: một

là phác đồ điều trị khơng thay đổi, hai là tiết kiệm chi phí cho bệnh nhân. Tuy

nhiên, chúng tôi vẫn khuyến cáo nên sinh thiết vị trí nghi ngờ để bác sỹ khám



56

có thêm kinh nghiệm chẩn đoán, xác nhận nghi ngờ của mình là đúng hay sai,

bên cạnh đó cũng tăng tỷ lệ chẩn đoán bệnh, nhiều mẫu bệnh phẩm gửi xét

nghiệm sẽ có giá trị hơn 1 mẫu bệnh phẩm trong những trường hợp này.

ULAKH tại đáy lưỡi cũng ít gặp, chưa có báo cáo nào nói về hàng loạt ca

bệnh mà chỉ xuất hiện những nghiên cứu từng trường hợp [29], [32], [54], [55].

Về ULAKH thành sau họng, chúng tôi chỉ tìm được báo cáo đơn lẻ của

Yezdan F. [56], hay trong nghiên cứu ULAKH vùng đầu cổ của Nguyễn Đình

Phúc, Nguyễn Trần Lâm, Trần Thị Mai



[49], [14], [11]. Tương tự với



ULAKH tại xoang lê, chúng tôi chỉ phát hiện được 2 trường hợp trong nghiên

cứu của Thomson A. và Saraniti C. [57], [58]. Có 1 trường hợp ULAKH vùng

sau sụn phễu cũng được ghi nhận trong nghiên cứu của Yoshiki W. [34]. Như

vậy, có thể nói ULAKH tại những vị trí này là rất hiếm gặp.

4.1.6.2. Hình thái U qua nội soi

Biểu đồ 3.3 và bảng 3.6 cho thấy tỷ lệ xuất hiện của các hình thái tổn

thương kèm theo vị trí u ngun phát. Theo đó, tổn thương dạng quá phát là

hay gặp nhất (59,4%), tiếp theo mới là dạng sùi kết hợp loét và sùi đơn thuần.

Nghiên cứu của các tác giả Trần Thị Mai, Lê Minh Kỳ, Nguyễn Đình Phúc

cũng cho kết quả tương tự [11],[15] ,[49].

Về mô học, các cấu trúc lympho trong họng được phủ bởi lớp biểu mơ

trụ giả tầng có lơng chuyển (vòm) hay biểu mơ lát tầng khơng sừng hóa

(những vùng còn lại). Khi những tế bào u phát triển, lớn lên về mặt kích

thước, sẽ đẩy phồng lớp biểu mơ bình thường, do đó tổn thương thường gặp

dưới dạng q phát (khơng có sự biến đổi niêm mạc). Khối u phát triển mạnh

hơn, phá vỡ lớp biểu mô phủ mới gây ra những hình thái tổn thương tiếp theo.

4.1.7. Hạch cổ

Biểu đồ 3.4 cho thấy tỷ lệ gặp hạch cổ to trong nghiên cứu của chúng tơi

là 62,5% (có 20/32 bệnh nhân). Tỷ lệ này trong nghiên cứu của Nguyễn Đình

Phúc là 65% (13/20 trường hợp ULAKH vòng Waldayer có hạch cổ) [49], của



57

Chen L. là 69.4% (25/36 ca) [53]. Như vậy, có sự tương đồng giữa các nghiên

cứu này.

Mối liên quan giữa hạch cổ và vị trí u nguyên phát được thể hiện rõ

trong bảng 3.7. Theo đó, đối với ULAKH Amidan khẩu cái 1 bên, hạch cổ

chủ yếu cùng bên với tổn thương (66,7%), còn lại có thể đối bên hoặc cả 2

bên. Hạch cổ to ở những bệnh nhân ULAKH tại vòm, đáy lưỡi có thể cùng

bên, đối bên hay cả 2 bên cổ so với vị trí tổn thương. Theo Jonas T. J. , hạch

cổ trong ULAKH vòng Waldayer thường cùng bên với tổn thương [8].

4.2. Đối chiếu đặc điểm lâm sàng, nội soi với mô bệnh học.

4.2.1. Phân loại mô bệnh học theo WF

4.2.1.1. Số lần sinh thiết

Sinh thiết lấy bệnh phẩm gửi giải phẫu bệnh đóng vai trò rất quan trọng

trong việc chẩn đốn bệnh. Trong nghiên cứu của chúng tôi, biểu đồ 3.5 có 18

bệnh nhân được chẩn đốn bệnh qua 1 lần sinh thiết. Tuy nhiên, có 3 bệnh

nhân phải sinh thiết trên 4 lần, đặc biệt có bệnh nhân phải sinh thiết 6 lần mới

cho kết quả dương tính. Trong số bệnh nhân nghiên cứu, có 7 bệnh nhân phải

phẫu thuật để sinh thiết (5 bệnh nhân phẫu thuật cắt Amidan khẩu cái, 1 bệnh

nhân phẫu thuật lấy khối u vòm, 1 bệnh nhân sinh thiết Amidan đáy lưỡi) mới

cho chẩn đoán xác định. Như vậy, một trong những yếu tố rút ngắn thời gian

chẩn đốn bệnh chính là kỹ thuật sinh thiết. Do cấu trúc của các mô lympho

vùng họng được phủ lên trên bởi lớp biểu mô nên muốn sinh thiết được tổn

thương phải đưa dụng cụ sinh thiết vào sâu bên dưới: đưa pince đâm xuyên

qua lớp biểu mô rồi mới mở pince lấy bệnh phẩm. Đối với những tổn thương

sùi kết hợp loét thì lau sạch giả mạc rồi mới sinh thiết. Tuy nhiên, nếu kết quả

sinh thiết âm tính mà lâm sàng vẫn nghi ngờ thì phải sinh thiết lại hoặc phẫu

thuật lấy bệnh phẩm gửi giải phẫu bệnh chẩn đốn.



58

4.2.1.2. Phân loại mơ bệnh học theo WF

Bảng WF chia các thể mô bệnh học thành các nhóm độ ác tính thấp,

trung gian và cao. Tỷ lệ các loại mô bệnh học trong nghiên cứu của chúng tơi

được thể hiện rõ trong bảng 3.8. Có 31 bệnh nhân thuộc nhóm có độ ác tính

trung gian, chiếm 96,9%, trong đó chủ yếu là WF6 (53,1%) và WF7 (34,4%).

Mở rộng phạm vi hơn khi nghiên cứu ULAKH vùng đầu cổ, tỷ lệ độ ác tính

trung bình trong nghiên cứu của Nguyễn Đình Phúc là 96% (WF6 và WF7

chiếm 88%) [40], của Lê Minh Kỳ là 95% (WF6 và WF7 chiếm 87,5%) [15].

Nghiên cứu ULAKH tại hạch, tác giả Nguyễn Phi Hùng cũng cho kết quả tỷ

lệ độ ác tính trung gian là 55,7% (WF6 và WF7 chiếm 47,1%) [13]. Tỷ lệ này

trong nghiên cứu về ULAKH nói chung của tác giả Đỗ Huyền Nga là 61,1%

(WF6 và WF7 chiếm 53,7%) [59], của Lê Văn Long là 76,7% (WF6 và WF7

chiếm 54,5%) [45]. Như vậy, với ULAKH vùng họng nói riêng hay ULAKH

vùng đầu cổ, ULAKH tại hạch hay ULAKH nói chung thì loại mơ bệnh học

chủ yếu là độ ác tính trung gian với phần lớn là WF6 và WF7.

Nghiên cứu của chúng tơi chỉ có 1 bệnh nhân có mơ bệnh học thuộc độ

ác tính cao (WF10) là U lympho Burkitt, chủ yếu gặp ở trẻ em.

4.2.2. Phân loại theo WHO 2008

Thể mô học phổ biến nhất của ULAKH vòng Waldayer là thể lan tỏa tế

bào B lớn, tiếp theo là u lympho thể nang, u lympho vùng rìa ngồi hạch (typ

MALT) và u lympho Burkitt [6].

Biểu đồ 3.5 và bảng 3.9 đã thể hiện rõ tỷ lệ u có nguồn gốc tế bào B hay

T và phân typ của từng nhóm. Có thể thấy rõ tỷ lệ u từ tế bào B chiếm gần

như tuyệt đối với 94%, chỉ còn 6% có nguồn gốc từ tế bào T. Trong các phân

typ của tế bào B, thể lan tỏa tế bào B lớn chiếm phần lớn 78,1%, còn lại là các

phân typ khác. Tỷ lệ u từ tế bào B và tỷ lệ thể lan tỏa tế bào B lớn cũng cao



59

trong các nghiên cứu khác: của Teh C. S là 86,7%(83,3%) [43], của Lee S. J

là 85,7%(73,5%) [39], của Salplahta D. là 100% (76,3%) [44] .

Các phân typ khác của dòng tế bào B trong nghiên cứu có U lympho thể

nang (2 ca), U lympho vùng rìa ngồi hạch (2 ca) và U lympho Burkitt (1 ca).

U lympho Burkitt được xếp vào nhóm độ ác tính cao và hay gặp ở trẻ em.

Trong nghiên cứu về ULAKH ở trẻ em tại bệnh viện Nhi Trung Ương, tác giả

Đỗ Thị Thanh Thủy đã cho thấy tỷ lệ U lympho Burkitt và giống Burkitt là

hay gặp nhất, chiếm 56, 8% [60], trong nghiên cứu của Budiongo A.N là

66,7% [61], trong nghiên cứu của Guimaraes A. C. là 50% [47]. Lượng bệnh

nhân có thể mơ bệnh học U lympho Burkitt trong nghiên cứu của chúng tơi

rất ít vì các bệnh nhi chủ yếu đến khám và điều trị tại các cơ sở u bưới chuyên

sâu về Nhi khoa như bệnh viện Nhi Trung Ương hay bệnh viện K.

Nghiên cứu của chúng tơi chỉ có 2 bệnh nhân có khối u nguồn gốc từ tế

bào T, phân typ NK/T ngoài hạch thể mũi. Chúng tôi không gặp các phân typ

khác như U lympho tế bào T ngoại vi, U lympho T nguyên bào miễn dịch

mạch, U lympho tế bào T lớn kém biệt hóa trong nghiên cứu của Lee S. J. do

cỡ mẫu của nghiên cứu này lớn hơn nhiều (n=328) [39]. Trong nghiên cứu

của Nguyễn Đình Phúc, có 20 bệnh nhân ULAKH vùng họng nhưng cũng chỉ

gặp 1 bệnh nhân thể tế bào T người lớn. Điều này cho thấy sự ít gặp của tế

bào T trong ULAKH vùng họng. Trong khi đó, tỷ lệ tế bào T lại gặp nhiều

hơn trong các nghiên cứu về ULAKH vùng mũi xoang như nghiên cứu của

Nguyễn Xuân Quang đã cho thấy 33/46 trường hợp (71,7%) có nguồn gốc từ

tế bào T [16], nghiên cứu của Nguyễn Đình Phúc cũng ghi nhận 15/25 bệnh

nhân (60%) có u tế bào T [40]. Theo Judith A. F., u lympho tế bào NK/T

ngoài hạch thể mũi biểu hiện ở mũi xoang là nhiều nhất, sau đó đến đường hơ

hấp-tiêu hóa trên mà vòng Waldayer chiếm đa số, trong đó phổ biến nhất là ở

vòm rồi mới đến Amidan khẩu cái. Các vị trí ngồi hạch khác cũng hiếm gặp

như da, tinh hồn, đường tiêu hóa, mơ mềm. Nếu u tế bào NK/T ngồi hạch



60

thể mũi biểu hiện ở vòng Waldayer, khả năng hạch cổ xuất hiện nhiều hơn so

với biểu hiện ở mũi xoang [41]. Theo nghiên cứu của Li Y. X trên 91 bệnh

nhân ULAKH vòng Waldayer tế bào NK/T, biểu hiện ở vòm là đa số (57,1%)

sau đó là Amidan khẩu cái (38,5%), còn lại là Amidan đáy lưỡi, hạch cổ xuất

hiện ở 75 bệnh nhân (82,4%) [62].

4.2.3. Chẩn đoán giai đoạn bệnh theo Ann-Arbor

Bảng 3.10 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân phát hiện bệnh ở giai đoạn khu trú

(giai đoạn I, II) và giai đoạn lan tràn (giai đoạn III) là 96,9% và 3,1%. Tỷ lệ

này trong nghiên cứu của Teh C. S là 76,7% và 23,3% [43], của Lee S. J. là

64,9% và 35,1% [39]. Mở rộng phạm vi nghiên cứu ULAKH vùng đầu cổ, tỷ

lệ bệnh ở giai đoạn khu trú trong nghiên cứu của Nguyễn Trần Lâm là 46/50

bệnh nhân (92%)[14], của Trần Thị Mai là 39/40 bệnh nhân (97,5%) [11], của

Lê Minh Kỳ là 39/39 bệnh nhân (100%) [15]. Khi nghiên cứu về ULAKH nói

chung, tác giả Đỗ Huyền Nga cũng ghi nhận tỷ lệ bệnh nhân ở giai đoạn khu

trú là 61,1% [59]. Như vậy, phần lớn bệnh nhân đều phát hiện bệnh ở giai

đoạn khu trú, ở giai đoạn này tổn thương đủ gây nên những triệu chứng lâm

sàng khiến bệnh nhân phải đi khám. Phát hiện bệnh ở giai đoạn lan tràn (III,

IV) khi bệnh nhân được làm thêm các xét nghiệm toàn thân (nội soi tai mũi

họng, siêu âm ổ bụng, hạch bẹn, chụp cắt lớp vi tính ngực - ổ bụng…) để có

đánh giá chính xác trước khi điều trị. Giai đoạn bệnh III, IV cũng là 1 trong 5

yếu tố tiên lượng mức độ nặng của bệnh, do đó trước khi bắt đầu điều trị,

bệnh nhân cần được làm đầy đủ xét nghiệm cần thiết để đánh giá giai đoạn

bệnh chính xác.

4.2.4. Đối chiếu đặc điểm tuổi, giới với mô bệnh học

Theo bảng 3.11, có sự khác biệt giữa các đặc điểm lâm sàng về tuổi, giới

giữa nhóm tế bào B và tế bào T. Tuy nhiên, sự khác biệt này không mang ý

nghĩa thống kê. Tương tự, nghiên cứu của tác giả Wu R. Y. cũng ghi nhận có



61

sự khác biệt về tuổi (tuổi măc bệnh trung bình của u tế bào B là 51, của tế bào

NK/T là 37), giới (u tế bào B có 70 nam và 52 nữ, tỷ lệ nam/nữ là 1,3/1; u

tế bào NK/T có 30 nam và 14 nữ, tỷ lệ 2,1/1 ) nhưng không có ý nghĩa

[48]. Nghiên cứu 91 bệnh nhân ULAKH tế bào NK/T vòng Waldayer, tác

giả Li Y. X. cũng ghi nhận tuổi mắc bệnh trung bình là 37, tỷ lệ nam/nữ là

2,64/1 [62]. Bệnh biểu hiện ở người trẻ tuổi, nam nhiều hơn nữ cũng là kết

luận của Judith A. F. [41].

4.2.5. Đối chiếu triệu chứng toàn thân, giai đoạn bệnh với mơ bệnh học

Bảng 3.12 cho thấy khơng có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa

triệu chứng tồn thân và giai đoạn bệnh của 2 nhóm tê bào. Theo Wu R. Y., có

sự khác biệt vê giai đoạn giữa 2 nhóm (u tế bào B có 101 ca giai đoạn khu trú

và 21 ca giai đoạn lan tràn, u tế bào NK/T có 38 ca giai đoạn khu trú và 6 ca

giai đoạn lan tràn) nhưng sự khác biệt này cũng khơng có ý nghĩa thống kê.

Nghiên cứu này chỉ ghi nhận có sự khác biệt về triệu chứng tồn thân: nhóm u

có nguồn gốc tế bào NK/T thường biểu hiện triệu chứng toàn thân hơn (22

bệnh nhân) so với u có nguồn gốc tế bào B (11 bệnh nhân) (p<0,001) [48]. Có

lẽ tác giả Wu R. Y. nghiên cứu trên cỡ mẫu rộng hơn (166 bệnh nhân trong đó

122 bệnh nhân u nguồn gốc tế bào B và 44 nguồn gốc tế bào NK/T) nên mới thấy

được sự khác biệt. Tỷ lệ xuất hiện triệu chứng toàn thân trong nghiên cứu 91 bệnh

nhân ULAKH tế bào NK/T của Li Y. X. là 33% (30 ca)[62], cao hơn so với

ULAKH tế bào B của Teh C.S, Lee S. J. lần lượt là 13,3% và 14% [43], [39].

4.2.6. Đối chiếu thời gian khởi phát với mô bệnh học

Bảng 3.13 cho thấy chưa phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa về thời gian

khởi phát giữa 2 nhóm bệnh nhân có u nguồn gốc tế bào B và tế bào T. Thời

gian khởi phát bệnh được tính từ khi bệnh nhân có triệu chứng đến khi có

chẩn đốn xác định, do đó phụ thuộc nhiều yếu tố cả về phía bệnh nhân (thời



62

điểm đi khám, tự điều trị…) và thầy thuốc (nhận định tổn thương, socinh

thiết…) mà không phụ thuôc vào bản chất tế bào u.

4.2.7. Đối chiếu triệu chứng cơ năng với mô bệnh học.

Mối liên hệ giữa triệu chứng cơ năng và mô bệnh học được thể hiện rõ

tại bảng 3.14, theo đó chưa phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa về triệu chứng

cơ năng giữa 2 nhóm tế bào B và T. Triệu chứng cơ năng là những triệu chứng

bệnh nhân cảm nhận được, do đó liên quan tới vị trí u ngun phát, mối liên

hệ giải phẫu giữa u nguyên phát với các cơ quan xung quanh hơn là loại tế

bào u. Tuy nhiên, khi nghiên cứu sâu vào mô bệnh học theo độ ác tính, phần

lớn bệnh nhân nhóm độ ác tính thấp thường ban đầu khơng có triệu chứng

lâm sàng và chủ yếu phát hiện bệnh ở giai đoạn tiến triển [8].

4.2.8. Đối chiếu vị trí u ngun phát với mơ bệnh học

Theo bảng 3.15, chỉ có 2 bệnh nhân u tế bào T đều biểu hiện ở Amidan

khẩu cái, còn lại 30 bệnh nhân u tế bào B thì nhiều nhất cũng tại Amidan khẩu

cái, còn lại là các vị trí khác. Tuy nhiên, sự khác biệt này không mang ý nghĩa

thống kê. Nghiên cứu của Wu R. Y. đã cho thấy với u tế bào B thì Amidan

khẩu cái là vị trí hay gặp nhất (70%), còn u tế bào NK/T thì vòm là vị trí hay

gặp nhất (66%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,001) [48]. Nghiên

cứu của Li Y. X. cũng cho thấy có 52/91 bệnh nhân ULAKH vòng Waldayer

tế bào NK/T biểu hiện ở vòm, chiếm 57,1% [62].

4.2.9. Đối chiếu hình thái nội soi với mô bệnh học

Bảng 3.16 cho thấy u tế bào B gặp cả 3 dạng hình thái nội soi là quá phát, sùi

kết hợp loét và sùi đơn thuần. Trong khi đó, u tế bào T chỉ gặp ở dạng sùi kết hợp

loét. Sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê (p > 0.05). Như vậy, khơng

có mối liên hệ ý nghĩa giữa hình thái nội soi và nguồn gốc khối u.



63

4.2.10. Đối chiếu hạch cổ với mô bệnh học

Theo bảng 3.17, tuy có sự khác biệt về tần xuất bệnh nhân nổi hạch cổ

tương ứng với u nguồn gốc tế bào B và T lần lượt là 18/20 và 2/20 nhưng

không mang ý nghĩa thống kê. Theo Judith A. F., nếu u tế bào NK/T ngoài

hạch thể mũi biểu hiện ở vòng Waldayer, khả năng hạch cổ xuất hiện nhiều

hơn so với biểu hiện ở mũi xoang [41]. Theo nghiên cứu của Li Y. X trên 91

bệnh nhân ULAKH vòng Waldayer tế bào NK/T, hạch cổ xuất hiện ở 75 bệnh

nhân (82,4%) [62]. Trong nghiên cứu của Staplahta D. về 38 bệnh nhân biểu

hiện ULAKH vòng Waldayer nguồn gốc tế bào B, tỷ lệ phát hiện hạch cổ liên

quan chỉ là 31,6% (12 bệnh nhân). Tuy nhiên, nghiên cứu của Wu R. Y. cho

thấy tỷ lệ xuất hiện hạch cổ ở nhóm u có nguồn gốc tế bào B có xu hướng

cao hơn so với nhóm tế bào T (79% so với 58%) [48]. Điều này cho thấy mối

liên quan giữa hạch cổ và mô bệnh học của ULAKH vùng họng vẫn còn đang

được nghiên cứu, bàn luận.



64



KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 32 bệnh nhân được chẩn đoán ULAKH vùng họng ở

bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương và bệnh viện K, chúng tơi có một số kết

luận sau:

1. Đặc điểm lâm sàng, nội soi ULAKH vùng họng

- Về tuổi, bệnh gặp nhiều ở nhóm tuổi trên 50, chiếm 71,9% (với nhóm

trên 60 tuổi là 53,1%).

- Bệnh gặp ở nam ít hơn ở nữ, tỷ lệ nam/nữ là 0,68/1.

- Bệnh được phát hiện nhiều nhất trong 1-3 tháng tính từ khi có triệu

chứng (75%)

- Lý do vào viện chủ yếu là nuốt vướng (46,9%) và đau họng (21,9%).

Các lý do khác(ngạt chảy mũi, nổi hạch cổ, ngủ ngáy, tình cờ phát hiện bệnh)

ít gặp hơn.

- Triệu chứng tồn thân ít gặp, chủ yếu là gầy sút cân.

- Triệu chứng cơ năng liên quan mật thiết với vị trí biểu hiện bệnh.

ULAKH tại Amidan khẩu cái, đáy lưỡi, thành sau họng chủ yếu là nuốt vướng

(81,2%) và đau họng (53,1%), có thể gặp ngủ ngáy, thay đổi giọng nói, khó

thở. ULAKH tại vòm biểu hiện ngạt chảy mũi, ù tai, nghe kém.

- Vị trí u hay gặp nhất là Amidan khẩu cái (21 bệnh nhân, trong đó có 2

bệnh nhân Amidan khẩu cái 2 bên), tiếp theo là vòm (6 bệnh nhân), Amidan

đáy lưỡi (4 bệnh nhân) và thành sau họng (1 bệnh nhân).

- Hình thái khối u hay gặp nhất là dạng quá phát (59,4%), dạng sùi kết

hợp loét và sùi đơn thuần ít gặp hơn.

- Số bệnh nhân có hạch cổ to gặp ở 66,7% , chủ yếu là cùng bên với tổn

thương (66,7%).

2. Đối chiếu đặc điểm lâm sàng, nội soi với mô bệnh học ULAKH

vùng họng

- Theo phân loại WF, nhóm mơ bệnh học hay gặp nhất là độ ác tính trung

gian (96,9%), trong đó chủ yếu là WF6 (53,1%) và WF7 (34,4%).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Triệu chứng toàn thân trong ULAKH gồm sốt, gầy sút cân và đổ mồ hôi về đêm. Gần đây, triệu chứng toàn thân được coi là một yếu tố dự báo độc lập về mức độ tăng độc tính từ việc điều trị hóa chất trên những bệnh nhân ULAKH [8], do đó cần khai thác kỹ bện

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×