Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thể mô học phổ biến nhất của ULAKH vòng Waldayer là thể lan tỏa tế bào B lớn, tiếp theo là u lympho thể nang, u lympho vùng rìa ngoài hạch (typ MALT) và u lympho Burkitt [6].

Thể mô học phổ biến nhất của ULAKH vòng Waldayer là thể lan tỏa tế bào B lớn, tiếp theo là u lympho thể nang, u lympho vùng rìa ngoài hạch (typ MALT) và u lympho Burkitt [6].

Tải bản đầy đủ - 0trang

59

trong các nghiên cứu khác: của Teh C. S là 86,7%(83,3%) [43], của Lee S. J

là 85,7%(73,5%) [39], của Salplahta D. là 100% (76,3%) [44] .

Các phân typ khác của dòng tế bào B trong nghiên cứu có U lympho thể

nang (2 ca), U lympho vùng rìa ngồi hạch (2 ca) và U lympho Burkitt (1 ca).

U lympho Burkitt được xếp vào nhóm độ ác tính cao và hay gặp ở trẻ em.

Trong nghiên cứu về ULAKH ở trẻ em tại bệnh viện Nhi Trung Ương, tác giả

Đỗ Thị Thanh Thủy đã cho thấy tỷ lệ U lympho Burkitt và giống Burkitt là

hay gặp nhất, chiếm 56, 8% [60], trong nghiên cứu của Budiongo A.N là

66,7% [61], trong nghiên cứu của Guimaraes A. C. là 50% [47]. Lượng bệnh

nhân có thể mô bệnh học U lympho Burkitt trong nghiên cứu của chúng tơi

rất ít vì các bệnh nhi chủ yếu đến khám và điều trị tại các cơ sở u bưới chuyên

sâu về Nhi khoa như bệnh viện Nhi Trung Ương hay bệnh viện K.

Nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 2 bệnh nhân có khối u nguồn gốc từ tế

bào T, phân typ NK/T ngoài hạch thể mũi. Chúng tôi không gặp các phân typ

khác như U lympho tế bào T ngoại vi, U lympho T nguyên bào miễn dịch

mạch, U lympho tế bào T lớn kém biệt hóa trong nghiên cứu của Lee S. J. do

cỡ mẫu của nghiên cứu này lớn hơn nhiều (n=328) [39]. Trong nghiên cứu

của Nguyễn Đình Phúc, có 20 bệnh nhân ULAKH vùng họng nhưng cũng chỉ

gặp 1 bệnh nhân thể tế bào T người lớn. Điều này cho thấy sự ít gặp của tế

bào T trong ULAKH vùng họng. Trong khi đó, tỷ lệ tế bào T lại gặp nhiều

hơn trong các nghiên cứu về ULAKH vùng mũi xoang như nghiên cứu của

Nguyễn Xuân Quang đã cho thấy 33/46 trường hợp (71,7%) có nguồn gốc từ

tế bào T [16], nghiên cứu của Nguyễn Đình Phúc cũng ghi nhận 15/25 bệnh

nhân (60%) có u tế bào T [40]. Theo Judith A. F., u lympho tế bào NK/T

ngoài hạch thể mũi biểu hiện ở mũi xoang là nhiều nhất, sau đó đến đường hơ

hấp-tiêu hóa trên mà vòng Waldayer chiếm đa số, trong đó phổ biến nhất là ở

vòm rồi mới đến Amidan khẩu cái. Các vị trí ngồi hạch khác cũng hiếm gặp

như da, tinh hồn, đường tiêu hóa, mơ mềm. Nếu u tế bào NK/T ngồi hạch



60

thể mũi biểu hiện ở vòng Waldayer, khả năng hạch cổ xuất hiện nhiều hơn so

với biểu hiện ở mũi xoang [41]. Theo nghiên cứu của Li Y. X trên 91 bệnh

nhân ULAKH vòng Waldayer tế bào NK/T, biểu hiện ở vòm là đa số (57,1%)

sau đó là Amidan khẩu cái (38,5%), còn lại là Amidan đáy lưỡi, hạch cổ xuất

hiện ở 75 bệnh nhân (82,4%) [62].

4.2.3. Chẩn đoán giai đoạn bệnh theo Ann-Arbor

Bảng 3.10 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân phát hiện bệnh ở giai đoạn khu trú

(giai đoạn I, II) và giai đoạn lan tràn (giai đoạn III) là 96,9% và 3,1%. Tỷ lệ

này trong nghiên cứu của Teh C. S là 76,7% và 23,3% [43], của Lee S. J. là

64,9% và 35,1% [39]. Mở rộng phạm vi nghiên cứu ULAKH vùng đầu cổ, tỷ

lệ bệnh ở giai đoạn khu trú trong nghiên cứu của Nguyễn Trần Lâm là 46/50

bệnh nhân (92%)[14], của Trần Thị Mai là 39/40 bệnh nhân (97,5%) [11], của

Lê Minh Kỳ là 39/39 bệnh nhân (100%) [15]. Khi nghiên cứu về ULAKH nói

chung, tác giả Đỗ Huyền Nga cũng ghi nhận tỷ lệ bệnh nhân ở giai đoạn khu

trú là 61,1% [59]. Như vậy, phần lớn bệnh nhân đều phát hiện bệnh ở giai

đoạn khu trú, ở giai đoạn này tổn thương đủ gây nên những triệu chứng lâm

sàng khiến bệnh nhân phải đi khám. Phát hiện bệnh ở giai đoạn lan tràn (III,

IV) khi bệnh nhân được làm thêm các xét nghiệm toàn thân (nội soi tai mũi

họng, siêu âm ổ bụng, hạch bẹn, chụp cắt lớp vi tính ngực - ổ bụng…) để có

đánh giá chính xác trước khi điều trị. Giai đoạn bệnh III, IV cũng là 1 trong 5

yếu tố tiên lượng mức độ nặng của bệnh, do đó trước khi bắt đầu điều trị,

bệnh nhân cần được làm đầy đủ xét nghiệm cần thiết để đánh giá giai đoạn

bệnh chính xác.

4.2.4. Đối chiếu đặc điểm tuổi, giới với mơ bệnh học

Theo bảng 3.11, có sự khác biệt giữa các đặc điểm lâm sàng về tuổi, giới

giữa nhóm tế bào B và tế bào T. Tuy nhiên, sự khác biệt này không mang ý

nghĩa thống kê. Tương tự, nghiên cứu của tác giả Wu R. Y. cũng ghi nhận có



61

sự khác biệt về tuổi (tuổi măc bệnh trung bình của u tế bào B là 51, của tế bào

NK/T là 37), giới (u tế bào B có 70 nam và 52 nữ, tỷ lệ nam/nữ là 1,3/1; u

tế bào NK/T có 30 nam và 14 nữ, tỷ lệ 2,1/1 ) nhưng khơng có ý nghĩa

[48]. Nghiên cứu 91 bệnh nhân ULAKH tế bào NK/T vòng Waldayer, tác

giả Li Y. X. cũng ghi nhận tuổi mắc bệnh trung bình là 37, tỷ lệ nam/nữ là

2,64/1 [62]. Bệnh biểu hiện ở người trẻ tuổi, nam nhiều hơn nữ cũng là kết

luận của Judith A. F. [41].

4.2.5. Đối chiếu triệu chứng tồn thân, giai đoạn bệnh với mơ bệnh học

Bảng 3.12 cho thấy khơng có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa

triệu chứng toàn thân và giai đoạn bệnh của 2 nhóm tê bào. Theo Wu R. Y., có

sự khác biệt vê giai đoạn giữa 2 nhóm (u tế bào B có 101 ca giai đoạn khu trú

và 21 ca giai đoạn lan tràn, u tế bào NK/T có 38 ca giai đoạn khu trú và 6 ca

giai đoạn lan tràn) nhưng sự khác biệt này cũng khơng có ý nghĩa thống kê.

Nghiên cứu này chỉ ghi nhận có sự khác biệt về triệu chứng tồn thân: nhóm u

có nguồn gốc tế bào NK/T thường biểu hiện triệu chứng toàn thân hơn (22

bệnh nhân) so với u có nguồn gốc tế bào B (11 bệnh nhân) (p<0,001) [48]. Có

lẽ tác giả Wu R. Y. nghiên cứu trên cỡ mẫu rộng hơn (166 bệnh nhân trong đó

122 bệnh nhân u nguồn gốc tế bào B và 44 nguồn gốc tế bào NK/T) nên mới thấy

được sự khác biệt. Tỷ lệ xuất hiện triệu chứng toàn thân trong nghiên cứu 91 bệnh

nhân ULAKH tế bào NK/T của Li Y. X. là 33% (30 ca)[62], cao hơn so với

ULAKH tế bào B của Teh C.S, Lee S. J. lần lượt là 13,3% và 14% [43], [39].

4.2.6. Đối chiếu thời gian khởi phát với mô bệnh học

Bảng 3.13 cho thấy chưa phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa về thời gian

khởi phát giữa 2 nhóm bệnh nhân có u nguồn gốc tế bào B và tế bào T. Thời

gian khởi phát bệnh được tính từ khi bệnh nhân có triệu chứng đến khi có

chẩn đốn xác định, do đó phụ thuộc nhiều yếu tố cả về phía bệnh nhân (thời



62

điểm đi khám, tự điều trị…) và thầy thuốc (nhận định tổn thương, socinh

thiết…) mà không phụ thuôc vào bản chất tế bào u.

4.2.7. Đối chiếu triệu chứng cơ năng với mô bệnh học.

Mối liên hệ giữa triệu chứng cơ năng và mô bệnh học được thể hiện rõ

tại bảng 3.14, theo đó chưa phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa về triệu chứng

cơ năng giữa 2 nhóm tế bào B và T. Triệu chứng cơ năng là những triệu chứng

bệnh nhân cảm nhận được, do đó liên quan tới vị trí u nguyên phát, mối liên

hệ giải phẫu giữa u nguyên phát với các cơ quan xung quanh hơn là loại tế

bào u. Tuy nhiên, khi nghiên cứu sâu vào mơ bệnh học theo độ ác tính, phần

lớn bệnh nhân nhóm độ ác tính thấp thường ban đầu khơng có triệu chứng

lâm sàng và chủ yếu phát hiện bệnh ở giai đoạn tiến triển [8].

4.2.8. Đối chiếu vị trí u nguyên phát với mô bệnh học

Theo bảng 3.15, chỉ có 2 bệnh nhân u tế bào T đều biểu hiện ở Amidan

khẩu cái, còn lại 30 bệnh nhân u tế bào B thì nhiều nhất cũng tại Amidan khẩu

cái, còn lại là các vị trí khác. Tuy nhiên, sự khác biệt này không mang ý nghĩa

thống kê. Nghiên cứu của Wu R. Y. đã cho thấy với u tế bào B thì Amidan

khẩu cái là vị trí hay gặp nhất (70%), còn u tế bào NK/T thì vòm là vị trí hay

gặp nhất (66%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,001) [48]. Nghiên

cứu của Li Y. X. cũng cho thấy có 52/91 bệnh nhân ULAKH vòng Waldayer

tế bào NK/T biểu hiện ở vòm, chiếm 57,1% [62].

4.2.9. Đối chiếu hình thái nội soi với mơ bệnh học

Bảng 3.16 cho thấy u tế bào B gặp cả 3 dạng hình thái nội soi là quá phát, sùi

kết hợp loét và sùi đơn thuần. Trong khi đó, u tế bào T chỉ gặp ở dạng sùi kết hợp

loét. Sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê (p > 0.05). Như vậy, khơng

có mối liên hệ ý nghĩa giữa hình thái nội soi và nguồn gốc khối u.



63

4.2.10. Đối chiếu hạch cổ với mô bệnh học

Theo bảng 3.17, tuy có sự khác biệt về tần xuất bệnh nhân nổi hạch cổ

tương ứng với u nguồn gốc tế bào B và T lần lượt là 18/20 và 2/20 nhưng

không mang ý nghĩa thống kê. Theo Judith A. F., nếu u tế bào NK/T ngoài

hạch thể mũi biểu hiện ở vòng Waldayer, khả năng hạch cổ xuất hiện nhiều

hơn so với biểu hiện ở mũi xoang [41]. Theo nghiên cứu của Li Y. X trên 91

bệnh nhân ULAKH vòng Waldayer tế bào NK/T, hạch cổ xuất hiện ở 75 bệnh

nhân (82,4%) [62]. Trong nghiên cứu của Staplahta D. về 38 bệnh nhân biểu

hiện ULAKH vòng Waldayer nguồn gốc tế bào B, tỷ lệ phát hiện hạch cổ liên

quan chỉ là 31,6% (12 bệnh nhân). Tuy nhiên, nghiên cứu của Wu R. Y. cho

thấy tỷ lệ xuất hiện hạch cổ ở nhóm u có nguồn gốc tế bào B có xu hướng

cao hơn so với nhóm tế bào T (79% so với 58%) [48]. Điều này cho thấy mối

liên quan giữa hạch cổ và mô bệnh học của ULAKH vùng họng vẫn còn đang

được nghiên cứu, bàn luận.



64



KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 32 bệnh nhân được chẩn đoán ULAKH vùng họng ở

bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương và bệnh viện K, chúng tơi có một số kết

luận sau:

1. Đặc điểm lâm sàng, nội soi ULAKH vùng họng

- Về tuổi, bệnh gặp nhiều ở nhóm tuổi trên 50, chiếm 71,9% (với nhóm

trên 60 tuổi là 53,1%).

- Bệnh gặp ở nam ít hơn ở nữ, tỷ lệ nam/nữ là 0,68/1.

- Bệnh được phát hiện nhiều nhất trong 1-3 tháng tính từ khi có triệu

chứng (75%)

- Lý do vào viện chủ yếu là nuốt vướng (46,9%) và đau họng (21,9%).

Các lý do khác(ngạt chảy mũi, nổi hạch cổ, ngủ ngáy, tình cờ phát hiện bệnh)

ít gặp hơn.

- Triệu chứng tồn thân ít gặp, chủ yếu là gầy sút cân.

- Triệu chứng cơ năng liên quan mật thiết với vị trí biểu hiện bệnh.

ULAKH tại Amidan khẩu cái, đáy lưỡi, thành sau họng chủ yếu là nuốt vướng

(81,2%) và đau họng (53,1%), có thể gặp ngủ ngáy, thay đổi giọng nói, khó

thở. ULAKH tại vòm biểu hiện ngạt chảy mũi, ù tai, nghe kém.

- Vị trí u hay gặp nhất là Amidan khẩu cái (21 bệnh nhân, trong đó có 2

bệnh nhân Amidan khẩu cái 2 bên), tiếp theo là vòm (6 bệnh nhân), Amidan

đáy lưỡi (4 bệnh nhân) và thành sau họng (1 bệnh nhân).

- Hình thái khối u hay gặp nhất là dạng quá phát (59,4%), dạng sùi kết

hợp loét và sùi đơn thuần ít gặp hơn.

- Số bệnh nhân có hạch cổ to gặp ở 66,7% , chủ yếu là cùng bên với tổn

thương (66,7%).

2. Đối chiếu đặc điểm lâm sàng, nội soi với mô bệnh học ULAKH

vùng họng

- Theo phân loại WF, nhóm mơ bệnh học hay gặp nhất là độ ác tính trung

gian (96,9%), trong đó chủ yếu là WF6 (53,1%) và WF7 (34,4%).



65

- Theo phân loại WHO 2008, thể mơ bệnh học hay gặp nhất có nguồn

gốc từ tế bào B (93,8%) trong đó thể lan tỏa tế bào B lớn chiếm 78,1%. Các

thể khác và u tế bào T ít gặp hơn.

- Bệnh được phát hiện chủ yếu ở giai đoạn khu trú (96,9%).

- Chưa thấy được sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về các đặc điểm tuổi,

giới, triệu chứng toàn thân, giai đoạn bệnh, thời gian khởi phát, triệu chứng cơ

năng, vị trí u, hình thái nội soi khối u, hạch cổ giữa 2 nhóm bệnh nhân có u

nguồn gốc tế bào B và tế bào T.



KIẾN NGHỊ



66

Qua nghiên cứu trên 32 bệnh nhân được chẩn đoán ULAKH vùng họng,

điều trị tại viện Tai Mũi Họng Trung Ương và bệnh viện K, chúng tơi có một

số kiến nghị sau:

1. Trước 1 bệnh nhân nổi hạch cổ to đến khám, phải nội soi tai mũi

họng tìm tổn thương u nguyên phát, nếu có nghi ngờ phải sinh thiết.

2. Kỹ thuật sinh thiết u lympho vùng họng: đưa pince xun qua lớp

biểu mơ phủ, sau đó mở pince và bấm lấy bệnh phẩm. Nếu kết quả

sinh thiết âm tính mà tổn thương lâm sàng vẫn nghi ngờ thì sinh

thiết thêm hoặc phẫu thuật lấy u gửi giải phẫu bệnh.

3. Khi vùng họng có 2 tổn thương nghi ngờ phải sinh thiết cả 2 vị trí.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.



Nguyễn Bá Đức (2007), "U lympho ác tính khơng Hodgkin", Chẩn

đoán và điều trị bệnh ung thư, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 408-416.



2.



Nguyễn Bá Đức (1995), Nghiên cứu chẩn đốn và điều trị U lympho ác

tính khơng Hodgkin tại bệnh viện K Hà Nội từ 1982 đến 1993, Luận án

Phó tiến sỹ khoa học y dược, Trường Đại học Y Hà Nội.



3.



Cummings. C. W, Flint. P. W và Haughey. B. H et al (2015),

"Lymphomas of the head and neck", Otolaryngology: Head and Neck

Surgery, Elsevier Mosby pub, 1805-1815.



4.



Duong Anh Vuong và các cộng sự (2009), "Temporal trends of Cancer

Incidence in Vietnam, 1993-2007", Asian Pacific Journal of Cancer

Prevention. 10, 739-745.



5.



Bộ Y Tế (2014), "Điều trị U lympho ác tính khơng Hodgkin bằng

kháng thể đơn dòng gắn đồng vị phóng xạ", Hướng dẫn chẩn đoán và

điều trị bệnh bằng Y học hạt nhân, Nhà xuất bản Y học, 103-108.



6.



Cummings. C. W, Flint. P. W và Haughey. B. H et al (2005),

"Lymphoma presenting in the head and neck", Otolaryngology: Head

and Neck Surgery, Elsevier Mosby pub, 2577-2590.



7.



Bailey. B. J, Johnson. J. T và Kohut. R. I et al (1993), "Lymphoma of

the Head and Neck", Head and Neck Surgery-Otolaryngology, Elsevier

Lapincott, 1221-1228.



8.



Jonas. T. J và các cộng sự (2014), "Lymphomas of the Head and Neck",

Bailey's Head and Neck Surgery Otolaryngology, Lippincott Williams

and Wilkins, 2032-2043.



9.



Swerdlow S. H. và các cộng sự (2016), "The 2016 revision of the

World Health Organization classification of lymphoid neoplasms",

Blood Journal. 120(70), 2375-2390.



10.



Lê Đình Hòe (1996), Nghiên cứu áp dụng phân loại mơ bệnh học u

lympho khơng Hodgkin, Luận án phó tiến sỹ khoa học y dược, Trường

Đại học Y Hà Nội.



11.



Trần Thị Mai (2006), Nghiên cứu chẩn đốn U lympho khơng Hodgkin

ngun phát ngoài hạch vùng đầu cổ, Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ Nội

trú, Trường Đại học Y Hà Nội.



12.



Đỗ Anh Tú, Nguyễn Bá Đức và Nguyễn Tuyết Mai (2006), "Nghiên

cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị bước đầu điều trị U lympho

ác tính khơng Hodgkin ngồi hạch vùng đầu cổ tại bệnh viện K", Tạp

chí Y học Việt Nam. 3, 54-60.



13.



Nguyễn Phi Hùng (2006), Nghiên cứu mô bệnh học và hóa mơ miễn

dịch U lympho Non-Hodgkin tại hạch, Luận án Tiến sỹ y học, Trường

Đại học Y Hà Nội.



14.



Nguyễn Trần Lâm (2008), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, mô bệnh

học và đánh giá kết quả điều trị U lympho ác tính khơng Hodgkin

ngun phát ngồi hạch vùng đầu cổ, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội

trú, trường Đại học Y Hà Nội.



15.



Lê Minh Kỳ (2012), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, mơ bệnh học của

ULAKH ngồi hạch vùng đầu cổ", Tạp chí Y học Việt Nam. 2(2), 1226.



16.



Nguyễn Xuân Quang (2012), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số

đặc điểm cận lâm sàng của ULAKH vùng mũi xoang, Luận văn tốt

nghiệp bác sỹ nội trú, Trường Đại học Y Hà Nội.



17.



Phạm Xuân Dũng (2012), Đánh giá kết quả điều trị Lymphom không

Hodgkin ở người lớn, Trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh.



18.



Văn Đình Hoa và Nguyễn Ngọc Lanh (2007), Sinh lý bệnh và miễn

dịch học - phần Miễn dịch, Nhà xuất bản Y học.



19.



Ngô Ngọc Liễn (2016), Bệnh học tai mũi họng, Nhà xuất bản y học.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thể mô học phổ biến nhất của ULAKH vòng Waldayer là thể lan tỏa tế bào B lớn, tiếp theo là u lympho thể nang, u lympho vùng rìa ngoài hạch (typ MALT) và u lympho Burkitt [6].

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×