Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi gặp 1 bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng, tình cờ há miệng soi trước gương thấy Amidan khẩu cái to hơn ở 1 bên nên đi khám.

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi gặp 1 bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng, tình cờ há miệng soi trước gương thấy Amidan khẩu cái to hơn ở 1 bên nên đi khám.

Tải bản đầy đủ - 0trang

54

4.1.5. Triệu chứng cơ năng

Những triệu chứng cơ năng hay gặp được biểu thị rõ trong bảng 3.4. Các

triệu chứng này có mối liên quan mật thiết với vị trí biểu hiện u nguyên phát.

Nuốt vướng và đau họng (đặc biệt khi biểu hiện 1 bên) là những triệu chứng

hay gặp nhất ở bệnh nhân ULAKH tại Amidan khẩu cái và Amidan đáy lưỡi,

thành sau họng. Tuy không đặc hiệu cho bệnh nhưng đó cũng là những lý do

chủ yếu khiến bệnh nhân phải đi khám. Đây cũng là những kết quả được ghi

nhận trong các nghiên cứu của Trần Thị Mai [11], Lê Minh Kỳ [15], Nguyễn

Đình Phúc [49], và các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài khác [43], [44].

Những triệu chứng khác như thay đổi giọng nói, ngủ ngáy, khó thở xuất hiện

khi khối u to, cản trở đường hơ hấp. Có 2 bệnh nhân trong nghiên cứu phải

mở khí quản do khối u quá to. Nghiên cứu của Nguyễn Đình Phúc cũng chỉ gặp

2/20 bệnh nhân ULAKH vòng Waldayer có biểu hiện khó thở [49]. Ngồi ra,

chúng tơi khơng gặp trường hợp nào phát hiện ULAKH tại Amidan khẩu cái

dưới dạng Apxe quanh Amidan như báo cáo của Kallel [50]. Có lẽ đây là trường

hợp rất hiếm gặp nên chúng tơi chưa tìm thấy thêm báo cáo nào tương tự.

Trong số 6 bệnh nhân ULAKH tại vòm, các triệu chứng về mũi (ngạt,

chảy mũi) chúng tơi chỉ gặp ở 5 bệnh nhân (có 1 bệnh nhân chảy máu mũi).

Bên cạnh đó, ù tai và nghe kém cũng là những biêủ hiện hay gặp do khối u to

che lấp vòi Eustachi hoặc gây viêm tai giữa ứ dịch (có 2 bệnh nhân viêm tai

thanh dịch). Tương tự, nghiên cứu cũng của Teh C.S cũng cho thấy chỉ có 5/8

bệnh nhân ULAKH tại vòm có triệu chứng về mũi [43]. Nghiên cứu của

Laskar S. trên 113 bệnh nhân ULAKH tại vòm cũng chỉ ra những triệu chứng

hay gặp là ngạt chảy mũi (51%), đau đầu (32%), chảy máu mũi (19%), nghe

kém và đau tai (8%) [51]. Trong nghiên cứu 71 bệnh nhân ULAKH tại vòm,

tác giả Xie C. cũng cho thấy ngạt, chảy mũi là triệu chứng hay gặp nhất

(50,7% và 21,1%) cũng ghi nhận tỷ lệ biểu hiện nghe kém và ù tai lần lượt là



55

16,7% và 22,5%, nổi hạch cổ ở 32,4% số ca [52]. Như vậy, bệnh nhân

ULAKH tại vòm sẽ biểu hiện triệu chứng chủ yếu ở mũi và tai.

4.1.6. Triệu chứng thực thể

4.1.6.1. Vị trí U

Trong nghiên cứu của chúng tơi, bảng 3.5 đã ghi nhận số bệnh nhân biểu

hiện ULAKH tại Amidan khẩu cái chiếm tỷ lệ nhiều nhất 65,6% với 21 bệnh

nhân (trong đó có 2 bệnh nhân ULAKH cả 2 bên Amidan khẩu cái), tiếp theo

mới đến vòm (6 bệnh nhân), Amidan đáy lưỡi (4 bệnh nhân) và thành sau

họng (1 bệnh nhân). Tỷ lệ biểu hiện ULAKH tại Amidan khẩu cái: vòm:

Amidan đáy lưỡi trong nghiên cứu của Teh C. S. là 67% : 27% : 3% [43], của

Lee S. J. là 84,3%: 8,9%: 6,8% [39], của Salplahta D. là 73,7% : 21% : 5,3%.

Nghiên cứu trong nước của các tác giả Nguyễn Đình Phúc, Lê Minh Kỳ, Trần

Thị Mai, Nguyễn Trần Lâm cũng cho kết quả Amidan khẩu cái là vị trí hay

gặp nhất [49], [15], [11], [14].

Chúng tơi khơng gặp bệnh nhân nào có biểu hiện từ 2 vị trí trở lên tại

vùng họng. Tuy nhiên, điều này lại được ghi nhận trong nghiên cứu của Chen

L. [53], Trần Thị Mai [11], Nguyễn Trần Lâm [14], Nguyễn Đình Phúc [49].

Thực tế trong quá trình khám bệnh, chúng tôi gặp 2 bệnh nhân nghi ngờ

ULAKH 2 vị trí nhưng lại chỉ được sinh thiết 1 vị trí. Trường hợp thứ nhất là

1 bệnh nhân được sinh thiết Amidan khẩu cái cho chẩn đốn xác định, soi

vòm thấy có khối u quá phát. Trường hợp thứ 2 là 1 bệnh nhân chẩn đốn xác

định ULAKH tại vòm kèm theo Amidan phải quá phát. Tuy nhiên trong quá

trình điều trị, ngồi tổn thương đã chẩn đốn xác định thì tổn thương nghi ngờ

thứ 2 cũng đáp ứng với hóa chất, thu nhỏ dần về kích thước cùng với u

nguyên phát. Lý do khơng sinh thiết vị trí thứ 2 có thể do 2 nguyên nhân: một

là phác đồ điều trị khơng thay đổi, hai là tiết kiệm chi phí cho bệnh nhân. Tuy

nhiên, chúng tôi vẫn khuyến cáo nên sinh thiết vị trí nghi ngờ để bác sỹ khám



56

có thêm kinh nghiệm chẩn đoán, xác nhận nghi ngờ của mình là đúng hay sai,

bên cạnh đó cũng tăng tỷ lệ chẩn đoán bệnh, nhiều mẫu bệnh phẩm gửi xét

nghiệm sẽ có giá trị hơn 1 mẫu bệnh phẩm trong những trường hợp này.

ULAKH tại đáy lưỡi cũng ít gặp, chưa có báo cáo nào nói về hàng loạt ca

bệnh mà chỉ xuất hiện những nghiên cứu từng trường hợp [29], [32], [54], [55].

Về ULAKH thành sau họng, chúng tôi chỉ tìm được báo cáo đơn lẻ của

Yezdan F. [56], hay trong nghiên cứu ULAKH vùng đầu cổ của Nguyễn Đình

Phúc, Nguyễn Trần Lâm, Trần Thị Mai



[49], [14], [11]. Tương tự với



ULAKH tại xoang lê, chúng tôi chỉ phát hiện được 2 trường hợp trong nghiên

cứu của Thomson A. và Saraniti C. [57], [58]. Có 1 trường hợp ULAKH vùng

sau sụn phễu cũng được ghi nhận trong nghiên cứu của Yoshiki W. [34]. Như

vậy, có thể nói ULAKH tại những vị trí này là rất hiếm gặp.

4.1.6.2. Hình thái U qua nội soi

Biểu đồ 3.3 và bảng 3.6 cho thấy tỷ lệ xuất hiện của các hình thái tổn

thương kèm theo vị trí u ngun phát. Theo đó, tổn thương dạng quá phát là

hay gặp nhất (59,4%), tiếp theo mới là dạng sùi kết hợp loét và sùi đơn thuần.

Nghiên cứu của các tác giả Trần Thị Mai, Lê Minh Kỳ, Nguyễn Đình Phúc

cũng cho kết quả tương tự [11],[15] ,[49].

Về mô học, các cấu trúc lympho trong họng được phủ bởi lớp biểu mơ

trụ giả tầng có lơng chuyển (vòm) hay biểu mơ lát tầng khơng sừng hóa

(những vùng còn lại). Khi những tế bào u phát triển, lớn lên về mặt kích

thước, sẽ đẩy phồng lớp biểu mơ bình thường, do đó tổn thương thường gặp

dưới dạng q phát (khơng có sự biến đổi niêm mạc). Khối u phát triển mạnh

hơn, phá vỡ lớp biểu mô phủ mới gây ra những hình thái tổn thương tiếp theo.

4.1.7. Hạch cổ

Biểu đồ 3.4 cho thấy tỷ lệ gặp hạch cổ to trong nghiên cứu của chúng tơi

là 62,5% (có 20/32 bệnh nhân). Tỷ lệ này trong nghiên cứu của Nguyễn Đình

Phúc là 65% (13/20 trường hợp ULAKH vòng Waldayer có hạch cổ) [49], của



57

Chen L. là 69.4% (25/36 ca) [53]. Như vậy, có sự tương đồng giữa các nghiên

cứu này.

Mối liên quan giữa hạch cổ và vị trí u nguyên phát được thể hiện rõ

trong bảng 3.7. Theo đó, đối với ULAKH Amidan khẩu cái 1 bên, hạch cổ

chủ yếu cùng bên với tổn thương (66,7%), còn lại có thể đối bên hoặc cả 2

bên. Hạch cổ to ở những bệnh nhân ULAKH tại vòm, đáy lưỡi có thể cùng

bên, đối bên hay cả 2 bên cổ so với vị trí tổn thương. Theo Jonas T. J. , hạch

cổ trong ULAKH vòng Waldayer thường cùng bên với tổn thương [8].

4.2. Đối chiếu đặc điểm lâm sàng, nội soi với mô bệnh học.

4.2.1. Phân loại mô bệnh học theo WF

4.2.1.1. Số lần sinh thiết

Sinh thiết lấy bệnh phẩm gửi giải phẫu bệnh đóng vai trò rất quan trọng

trong việc chẩn đốn bệnh. Trong nghiên cứu của chúng tôi, biểu đồ 3.5 có 18

bệnh nhân được chẩn đốn bệnh qua 1 lần sinh thiết. Tuy nhiên, có 3 bệnh

nhân phải sinh thiết trên 4 lần, đặc biệt có bệnh nhân phải sinh thiết 6 lần mới

cho kết quả dương tính. Trong số bệnh nhân nghiên cứu, có 7 bệnh nhân phải

phẫu thuật để sinh thiết (5 bệnh nhân phẫu thuật cắt Amidan khẩu cái, 1 bệnh

nhân phẫu thuật lấy khối u vòm, 1 bệnh nhân sinh thiết Amidan đáy lưỡi) mới

cho chẩn đoán xác định. Như vậy, một trong những yếu tố rút ngắn thời gian

chẩn đốn bệnh chính là kỹ thuật sinh thiết. Do cấu trúc của các mô lympho

vùng họng được phủ lên trên bởi lớp biểu mô nên muốn sinh thiết được tổn

thương phải đưa dụng cụ sinh thiết vào sâu bên dưới: đưa pince đâm xuyên

qua lớp biểu mô rồi mới mở pince lấy bệnh phẩm. Đối với những tổn thương

sùi kết hợp loét thì lau sạch giả mạc rồi mới sinh thiết. Tuy nhiên, nếu kết quả

sinh thiết âm tính mà lâm sàng vẫn nghi ngờ thì phải sinh thiết lại hoặc phẫu

thuật lấy bệnh phẩm gửi giải phẫu bệnh chẩn đoán.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi gặp 1 bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng, tình cờ há miệng soi trước gương thấy Amidan khẩu cái to hơn ở 1 bên nên đi khám.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×