Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
18/20 bệnh nhân nổi hạch cổ có u tế bào B, có 2 bệnh nhân u tế bào T.

18/20 bệnh nhân nổi hạch cổ có u tế bào B, có 2 bệnh nhân u tế bào T.

Tải bản đầy đủ - 0trang

50



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

Qua nghiên cứu 32 bệnh nhân được chẩn đoán ULAKH vùng họng ở

bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương và bệnh viện K, chúng tơi có một số ý

kiến bàn luận sau.

4.1. Đặc điểm lâm sàng, nội soi của ULAKH vùng họng

4.1.1. Đặc điểm về tuổi và giới

Vể độ tuổi mắc bệnh, biểu đồ 3.1 cho thấy bệnh biểu hiện nhiều hơn ở

nhóm từ 50 tuổi trở lên, đặc biệt là trên 60 tuổi. Tính chung cho cả 2 nhóm

này là 23 bệnh nhân, chiếm 71,9%. Kết quả này cũng tương đồng với nghiên

cứu của Teh C.S [43], nhóm tuổi trên 50 chiếm 63,3%. Trong nghiên cứu của

chúng tơi, độ tuổi trung bình mắc bệnh là 53,3, còn của Teh C.S là 51,6 [43],

của Salplahta D. là 64 [44]. Điều này có thể giải thích do những người trên 50



tuổi không phải dành nhiều thời gian cho công việc so với trước đó nên quan

tâm tới sức khỏe nhiều hơn, hơn nữa con của những bệnh nhân này cũng đã

lớn, quan tâm đến sức khỏe của bố, mẹ nên thường đưa bố, mẹ đi khám ln

khi có biểu hiện bất thường. Theo chỉ số tiên lượng quốc tế, tuổi giữ vai trò

quan trọng bởi những bệnh nhân trên 60 tuổi tiên lượng xấu hơn do thể trạng

sức khỏe đáp ứng với hóa chất trong q trình điều trị so với nhóm bệnh nhân

trẻ tuổi.

Về giới, biểu đồ 3.2 trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỷ lệ

nam/nữ là 13/19 hay 0,7/1, tương đương với nghiên cứu của Teh C. S. là

0.88/1 [43], của Salplahta D. là 0,8/1 [44]. Tuy nhiên, sự khác biệt về giới

trong nghiên cứu của chúng tơi khơng có ý nghĩa thơng kê (p >0.05).



51

4.1.2. Thời gian khởi phát bệnh

Thời gian khởi phát bệnh được tính từ khi bệnh có biểu hiện đến lúc có

chẩn đốn xác định. Bảng 3.1 cho thấy có 24 bệnh nhân phát hiện bệnh trong

3 tháng, chiếm 75% (sớm nhất là 2 tuần), còn lại 8 bệnh nhân phát hiện bệnh

sau khi có biểu hiện từ trên 4 tháng. Điều này cho thấy tính chất tiến triển

nhanh của bệnh. Bên cạnh đó, họng là ngã tư giữa đường hơ hấp và tiêu hóa

nên những khó chịu vùng họng rất dễ cảm nhận, những bệnh nhân ý thức cao

về chăm sóc sức khỏe thường đi khám sớm nên cũng rút ngắn thời gian khởi

phát bệnh. Các nghiên cứu khác cũng ghi nhận phần lớn bệnh nhân phát hiện

bệnh trong 3 tháng. Tỷ lệ này trong nghiên cứu ULAKH vùng đầu cổ của

Nguyễn Trần Lâm là 25/50 bệnh nhân (50%) [14], của Trần Thị Mai là 29/40

bệnh nhân (72,5%), trong nghiên cứu 66 bệnh nhân ULAKH nói chung của

Lê Văn Long là 90,9% (60 bệnh nhân) [45].

Trường hợp bệnh nhân có thời gian phát hiện bệnh lâu nhất (10 tháng)

mà chúng tôi ghi nhận được là một bệnh nhân nữ nổi hạch cổ phải to dần, đã

được chọc tế bào hạch cổ phải và chẩn đoán lao hạch tại bệnh viện tỉnh, điều

trị phác đồ chống lao hơn 2 tháng nhưng không hiệu quả, hạch to dần, chuyển

viện Lao và các bệnh phổi Trung Ương. Tại đây, bệnh nhân được làm các xét

nghiệm chẩn đoán, nội soi tai mũi họng thấy nghi ngờ u vòm. Sau khi kết quả

sinh thiết vòm xác định ULAKH, bệnh nhân được chuyển viện K điều trị hóa

chất theo phác đồ, hạch cổ thu nhỏ lại nhiều. Trường hợp thứ 2 cũng là một

bệnh nhân đau họng kéo dài, tự ý điều trị và đã khám nhiều lần đều được chẩn

đốn Viêm Amidan mạn tính, dùng nhiều đợt kháng sinh nhưng không đỡ,

đến khám tại viện Tai Mũi Họng Trung Ương thấy Amidan khẩu cái phải quá

phát hơn, nghi ngờ ULAKH nên được sinh thiết, kết quả trả lời Amidan viêm

mạn tính. Sau đó, bệnh nhân được phẫu thuật cắt Amidan gửi giải phẫu bệnh,

lần này kết quả mới xác định là ULAKH.



52

Như vậy, có thể thấy việc tìm ra chẩn đốn xác định phụ thuộc vào nhiều

yếu tố. Về phía bệnh nhân, khi triệu chứng mới xuất hiện thường tự điều trị,

không đỡ mới đi khám bác sĩ. Về phía thầy thuốc, kỹ năng thăm khám lâm

sàng một cách tồn diện, tránh bỏ sót tổn thương, sinh thiết lấy bệnh phẩm xét

nghiệm, chỉ định các xét nghiệm cần thiết, hội chẩn chuyên khoa khi cần đóng

vai trò rất quan trọng. Việc phát hiện bệnh sớm để điều trị kịp thời giúp bệnh

nhân không diễn biến sang giai đoạn nặng hơn, không chỉ tránh những rối

loạn tâm lý do phải khám và sinh thiết nhiều lần mà còn tiết kiệm được chi

phí điều trị.

4.1.3. Lý do vào viện

Lý do vào viện có mối liên hệ mật thiết với vị trí u nguyên phát Bảng 3.2

cho thấy lý do vào viện phổ biến nhất là nuốt vướng, đau họng.. Những bệnh

nhân ULAKH tại Amidan khẩu cái, đáy lưỡi đều đến khám vì những lý do này.

Tuy nhiên, những bệnh nhân ULAKH tại vòm lại khó chịu chủ yếu là ngạt, chảy

mũi hay ù tai. Như vậy, khối u khi phát triển đến kích thước nhất định mới gây

nên những cản trở cơ học, gây khó chịu khiến bệnh nhân phải đi khám.

Có 3 bệnh nhân đi khám vì nổi hạch cổ, khi nội soi tai mũi họng phát

hiện có nghi ngờ u, kết quả bấm sinh thiết tổn thương nghi ngờ xác nhận

ULAKH. Do đó, trước một bệnh nhân nổi hạch cổ, người thầy thuốc phải

khám lâm sàng một cách tồn diện, đặc biệt phải có nội soi tai mũi họng để

xác định xem có u nguyên phát hay khơng.

Có 2 bệnh nhân đi khám vì ngủ ngáy đều là trẻ em và biểu hiện bệnh ở

Amidan khẩu cái, do khối u to chẹn vào đường thở khiến luồng khơng khí

trong q trình hít thở đi qua chỗ hẹp gây nên tiếng ngáy. Ngủ ngáy, cơn

ngừng thở khi ngủ là dấu hiệu khiến trẻ đi khám phát hiện bệnh cũng được

trình bày trong một vài báo cáo [30], [46]. Trong nghiên cứu về ULAKH

Amidan khẩu cái ở 66 trẻ em, tác giả Guimaraes A. C. ghi nhận có 16 bệnh



53

nhân (24,2%) biểu hiện ngủ ngáy, có cơn ngừng thở lúc ngủ [47]. Do đó, cả

gia đình và thầy thuốc không nên chủ quan trước một em bé bất thường ngủ

ngáy hoặc ngủ ngáy to hơn, có cơn ngừng thở khi ngủ.

Trong q trình nghiên cứu, chúng tơi gặp 1 bệnh nhân khơng có triệu

chứng lâm sàng, tình cờ há miệng soi trước gương thấy Amidan khẩu cái to

hơn ở 1 bên nên đi khám.

4.1.4 Triệu chứng toàn thân

Triệu chứng toàn thân trong ULAKH gồm sốt, gầy sút cân và đổ mồ hôi

về đêm. Gần đây, triệu chứng toàn thân được coi là một yếu tố dự báo độc lập

về mức độ tăng độc tính từ việc điều trị hóa chất trên những bệnh nhân

ULAKH [8], do đó cần khai thác kỹ bệnh sử để có tiên lượng chính xác hiệu

quả điều trị. Những bệnh nhân có triệu chứng tồn thân tiên lượng xấu hơn so

với khơng có.

Biểu đồ 3.3 và bảng 3.3 cho thấy có 15 bệnh nhân (46,9%) có triệu

chứng tồn thân, trong đó sút cân là biểu hiện hay gặp nhất. Tỷ lệ gặp hội

chứng B theo nghiên cứu của Teh C.S, Lee S. J. và Wu R. Y. lần lượt là

13,3% (4/30 bệnh nhân), 14% (14/328 bệnh nhân) 19,9% (33/166 bệnh nhân)

[43], [39], [48]. Nghiên cứu ULAKH vùng đầu cổ, tác giả Nguyễn Đình Phúc

cũng cho kết quả tỷ lệ có triệu chứng tồn thân là 12% (6/50 bệnh nhân).

Triệu chứng gầy sút cân trong hội chứng B được tính là giảm trên 10%

trọng lượng cơ thể trong vòng 6 tháng. Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tơi

có những bệnh nhân có biểu hiện gầy sút cân nhưng chưa đủ 10% trọng lượng

cơ thể và thời gian tính chưa đủ 6 tháng (75% phát hiện bệnh trong 3 tháng)

và những bệnh nhân này đều được tính là có triệu chứng B. Có lẽ đó là

ngun nhân giải thích vì sao tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng B trong nghiên

cứu này lại cao hơn so với các nghiên cứu khác.



54

4.1.5. Triệu chứng cơ năng

Những triệu chứng cơ năng hay gặp được biểu thị rõ trong bảng 3.4. Các

triệu chứng này có mối liên quan mật thiết với vị trí biểu hiện u nguyên phát.

Nuốt vướng và đau họng (đặc biệt khi biểu hiện 1 bên) là những triệu chứng

hay gặp nhất ở bệnh nhân ULAKH tại Amidan khẩu cái và Amidan đáy lưỡi,

thành sau họng. Tuy khơng đặc hiệu cho bệnh nhưng đó cũng là những lý do

chủ yếu khiến bệnh nhân phải đi khám. Đây cũng là những kết quả được ghi

nhận trong các nghiên cứu của Trần Thị Mai [11], Lê Minh Kỳ [15], Nguyễn

Đình Phúc [49], và các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài khác [43], [44].

Những triệu chứng khác như thay đổi giọng nói, ngủ ngáy, khó thở xuất hiện

khi khối u to, cản trở đường hô hấp. Có 2 bệnh nhân trong nghiên cứu phải

mở khí quản do khối u quá to. Nghiên cứu của Nguyễn Đình Phúc cũng chỉ gặp

2/20 bệnh nhân ULAKH vòng Waldayer có biểu hiện khó thở [49]. Ngồi ra,

chúng tơi khơng gặp trường hợp nào phát hiện ULAKH tại Amidan khẩu cái

dưới dạng Apxe quanh Amidan như báo cáo của Kallel [50]. Có lẽ đây là trường

hợp rất hiếm gặp nên chúng tơi chưa tìm thấy thêm báo cáo nào tương tự.

Trong số 6 bệnh nhân ULAKH tại vòm, các triệu chứng về mũi (ngạt,

chảy mũi) chúng tôi chỉ gặp ở 5 bệnh nhân (có 1 bệnh nhân chảy máu mũi).

Bên cạnh đó, ù tai và nghe kém cũng là những biêủ hiện hay gặp do khối u to

che lấp vòi Eustachi hoặc gây viêm tai giữa ứ dịch (có 2 bệnh nhân viêm tai

thanh dịch). Tương tự, nghiên cứu cũng của Teh C.S cũng cho thấy chỉ có 5/8

bệnh nhân ULAKH tại vòm có triệu chứng về mũi [43]. Nghiên cứu của

Laskar S. trên 113 bệnh nhân ULAKH tại vòm cũng chỉ ra những triệu chứng

hay gặp là ngạt chảy mũi (51%), đau đầu (32%), chảy máu mũi (19%), nghe

kém và đau tai (8%) [51]. Trong nghiên cứu 71 bệnh nhân ULAKH tại vòm,

tác giả Xie C. cũng cho thấy ngạt, chảy mũi là triệu chứng hay gặp nhất

(50,7% và 21,1%) cũng ghi nhận tỷ lệ biểu hiện nghe kém và ù tai lần lượt là



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

18/20 bệnh nhân nổi hạch cổ có u tế bào B, có 2 bệnh nhân u tế bào T.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×