Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Động mạch chủ bụng: từ lỗ cơ hoành ĐMC chạy trong ổ bụng đến ngang đĩa gian đốt sống thắt lưng IV-V chia hai nhánh động mạch chậu chung phải và động mạch chậu chung trái. Trên đường đi cho các nhánh lớn là động mạch thân tạng, động mạch mạc treo tràng t

- Động mạch chủ bụng: từ lỗ cơ hoành ĐMC chạy trong ổ bụng đến ngang đĩa gian đốt sống thắt lưng IV-V chia hai nhánh động mạch chậu chung phải và động mạch chậu chung trái. Trên đường đi cho các nhánh lớn là động mạch thân tạng, động mạch mạc treo tràng t

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



Hình 1.1. Giải phẫu động mạch chủ trên CLVT [1]

1-2.Vùng xoang van ĐMC, 3. Động mạch chủ lên. 4-6: quai ĐMC.

7: ĐMC xuống. 8-9: Động mạch chủ bụng

1.2.2. Cấu trúc mô học động mạch chủ

Thành động mạch bao gồm mô liên kết tạo thành từ các tế bào và các

sợi chất nền được sắp xếp thành 3 lớp áo: trong, giữa và ngoài.

- Lớp áo trong (intima)

Đây là lớp áo trong cùng của thành động mạch bao gồm các lớp: lớp nội

mạc, dưới nội mạc, màng đáy và màng chun trong. Bề mặt lớp áo trong được

phủ lớp tế bào nội mạc. Lớp áo trong rất mỏng bao gồm chủ yếu các tế bào

bạch cầu rải rác, các tế bào cơ trơn và sợi đàn hồi. Chính vì vậy mà lớp áo

trong dễ bị tổn thương dưới tác dụng của áp lực dòng máu, đặc biệt khi chúng

bị xơ vữa tạo thành lỗ rách áo trong, điểm khởi phát của tách động mạch chủ.



7



- Lớp giữa (media)

Cấu trúc lớp áo giữa gồm 4 thành phần cơ bản: các sợi elastin, các sợi

collagen và các tế bào cơ trơn mạch máu, chất nền vơ định hình. Tổn thương

cơ bản trong TĐMC là thối hóa lớp áo giữa, bao gồm đứt gãy và thối hóa

sợi chun, mất các tế bào cơ trơn và lắng đọng nhày ở khoảng kẽ [1]. Các

nghiên cứu cho thấy khơng có sự khác biệt về định tính mà chỉ có sự khác biệt

về định lượng của thối hóa lớp áp giữa các mẫu ĐMC bị tách và những

ĐMC thối hóa bình thường. Thối hóa lớp áo giữa của phồng và tách ĐMC

còn kết hợp với các hội chứng di truyền, đặc biệt Marfan [17].

- Lớp ngoài (adventitia)

Áo ngồi chứa lớp mạch ni mạch và thần kinh, là cấu trúc ni dưỡng

và tạo ra khả năng điều hòa chức năng các tế bào cơ trơn của lớp áo giữa. Lớp

áo ngồi chỉ có những ĐM rất nhỏ, từ ngồi lòng mạch xun qua lớp áo

ngồi đi vào áo giữa. Lớp áo giữa được nuôi dưỡng bởi hai nguồn, các lớp

phía bên trong lớp áo giữa được ni dưỡng từ máu trong lòng mạch, các lớp

phía bên ngồi lớp áo giữa được nuôi dưỡng bởi lớp mạch nuôi mạch.

1.3. CƠ CHẾ HÌNH THÀNH TÁCH ĐỘNG MẠCH CHỦ

A



B



Hình 1.2. Cơ chế hình thành tách ĐMC [18]

A: Khởi phát từ lỗ rách áo trong;

B: Khởi phát từ thương tổn mạch nuôi lớp áo giữa.



8



Hiện nay có hai cơ chế chính giải thích hình thành TĐMC. Trong phần

lớn các trường hợp, khoảng 90% TĐMC được khởi phát bằng một lỗ rách áo

trong, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để hình thành luồng máu xuyên vào thành

mạch, tạo ra diện lóc bên trong lớp áo giữa. Một số ít trường hợp còn lại cho

là bắt đầu bởi sự rách lớp mạch nuôi mạch, là hệ thống mạch nhỏ đi từ ngoài

xuyên qua phần ngồi lớp áo giữa để cấp máu ni thành ĐMC. Do đó máu tụ

lan truyền dọc theo lớp áo giữa của ĐMC. Thương tổn giải phẫu bệnh chủ yếu

là huyết khối chiếm tồn bộ lòng giả mà khơng có lỗ rách áo trong [1].

Trong trường hợp có rách lớp áo trongcho phép máu đi vào lớp áo giữa

từ lòng mạch hình thành hai lòng thật và giả với áp suất lòng giả lớn hơn hoặc

bằng lòng thật [19]. Trong một nghiên cứu in vitro, William và cộng sự [20]

đã chứng minh rằng lòng thật xẹp do mất áp lực xuyên thành ngang qua vành

bóc tách bị bong khỏi chỗ bám mơ liên kết của nó. Làm giảm sự đàn hồi. Lớp

áp trong bị tách ra khỏi thành mạch, co rút khơng đáp ứng với áp lực động

mạch. Sự phình to của lòng giả do giảm tính đàn hồi trong thành ngoài (thành

ngoài chỉ chứa 1/3 chất eslatin cơ bản), thành ngoài giãn ra để cân bằng với

huyết áp của động mạch, cuối cùng dẫn đến vỡ của lòng giả. Mức độ giãn phụ

thuộc vào huyết áp, độ dày thành còn lại và tỉ lệ phần trăm của chu vi lòng

mạch bị tách. Tách có thể di chuyển thuận chiều hoặc ngược chiều. Vì sự

khác biệt về áp suất, lòng giả có thể chèn ép hoặc làm tắc lòng thật. Nói

chung, tách có thể giữ ngun lòng giả, huyết khối, tái thơng với lòng thật

thơng qua chỗ vào của tách hoặc vỡ vào các khoang như màng tim, màng

phổi hoặc trung thất. Các động mạch được cấp máu bởi lòng giả hiếm khi bị

tổn thương.



9



1.4. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG TÁCH ĐỘNG MẠCH CHỦ



- Tách ĐMC là bệnh lý tim mạch ít gặp, tỷ lệ mắc khoảng 5-30 ca/triệu

người/năm. Tần suất thay đổi tùy theo từng quần thể với các yếu tố nguy cơ

khác nhau [21].

- Bệnh gặp ở nam nhiều hơn ở nữ. Tỷ lệ mắc nam/nữ là 2/1. Tỷ lệ mắc

tăng dần theo tuổi, độ tuổi hay gặp nhất là từ 60-70 tuổi [22].

- Tăng huyết áp và tiền sử tăng huyết áp là nguyên nhân hay gặp nhất

của bệnh lý tách động mạch chủ, đôi khi cũng là hậu quả do tách động mạch

chủ lan vào động mạch thận gây thiếu máu thận. Ngồi ra, còn các ngun

nhân và yếu tố nguy cơ khác: chấn thương, u tủy thượng thận, các rối loạn mô

liên kết như hội chứng Marfan, động mạch chủ hai lá van, viêm mạch

Takayasu, mang thai…

- Đau ngực: là triệu chứng hay gặp nhất chiềm 90% tách động mạch chủ

[22], đau ở trước hoặc sau phụ thuộc vào vị trí tách (tách động mạch chủ lên

thường gây đau phía trước ngực, tách động mạch chủ xuống thường gây đau

ngực phía sau đau lan xuống lưng, đau bụng). Cảm giác đau chói dữ dội như

dao đâm và nhanh chóng đạt mức tối đa. Một số ít bệnh nhân khơng đau hoặc

có thời gian khơng đau rồi đau trở lại. Đây là dấu hiệu báo động cho nguy cơ

vỡ của tách động mạch chủ.

- Các triệu chứng ít gặp khác có thể đi kèm với đau ngực là suy tim ứ

huyết, ngất, tai biến mạch máu não, thiếu máu thần kinh ngoại biên, liệt hai

chân và ngừng tim hay đột tử.

- Tăng huyêt áp gặp trong 70% các trường hợp tách ĐMC đoạn xa nhưng

chỉ 36% đoạn gần. Tụt huyết áp xuất hiện nhiều hơn trong tách ĐMC đoạn

gần. Tràn dịch khoang màng phổi trái, tràn dịch khoang màng tim.

- Khám lâm sàng có thể nghe thấy tiếng thổi tâm trương ở ổ van ĐMC

do hở van ĐMC hay gặp trong 40-50% tách động mạch chủ đoạn gần [22].

Chênh lệch về độ nảy của mạch hoặc huyết áp động mạch giữa hai tay hoặc

mất mạch đột ngột [23],[21].



10



1.5. ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH TÁCH ĐỘNG MẠCH CHỦ TRÊN CẮT LỚP VI

TÍNH ĐA DÃY



Chụp cắt lớp vi tính đặc biệt là cắt lớp vi tính đa dãy ngày càng được sử

dụng rộng rãi do có ưu điểm thời gian chụp ngắn hơn, sẵn có ở nhiều cơ sở y

tế, độ nhạy và độ đặc hiệu rất cao, không chỉ chẩn đốn xác định TĐMC mà

còn chẩn đốn chính xác các thể TĐMC theo phân loại De Bakey, Stanford và

các thể đặc biệt (máu tụ trong thành, loét xơ vữa thủng) cũng như các biến

chứng của TĐMC.

1.5.1. Tách động mạch chủ thể kinh điển

Tách động mạch chủ thể kinh điển có vách nội mạc phân chia lòng thật

và lòng giả. Đây là dấu hiệu chính của tách động mạch chủ thể kinh điển

chiếm khoảng 70% các trường hợp TĐMC [8]. Vách nội mạc được quan sát

thấy ở thì trước tiêm thuốc và sau khi tiêm thuốc cản quang. Ở thì trước tiêm,

dấu hiệu vách nội mạc là đường tăng tỷ trọng nằm trong lòng mạch phân chia

ĐMC thành lòng thật và lòng giả (hình 1.3), sau khi tiêm thuốc đó là đường

giảm tỷ trọng.



Hình 1.3A: Vách nội mạc tăng tỷ trọng trên phim



Hình 1.3B:Dấu hiệu vách nội mạc ở ĐMC lên và ĐMC xuống



chụp CLVT không tiêm thuốc cản quang chia ĐMC



trên phim chụp CLVT có tiêm thuốc cản quang [24]



thành lòng thật và lòng giả [8]



Một dạng khác của vách nội mạc, gọi là hình “lồng nội mạc – nội mạc”

(intimointimal intusssusception) được quan sát thấy ở quai ĐMC trên các lớp



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Động mạch chủ bụng: từ lỗ cơ hoành ĐMC chạy trong ổ bụng đến ngang đĩa gian đốt sống thắt lưng IV-V chia hai nhánh động mạch chậu chung phải và động mạch chậu chung trái. Trên đường đi cho các nhánh lớn là động mạch thân tạng, động mạch mạc treo tràng t

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×