Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PGS. TS Nguyễn Duy Huề

PGS. TS Nguyễn Duy Huề

Tải bản đầy đủ - 0trang

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT



CHT



: Cộng hưởng từ



CLVT



: Cắt lớp vi tính



ĐM



: Động mạch



ĐMC



: Động mạch chủ



IRAD (International Registry of Acute Aortic Dissection):

Trung tâm dữ liệu quốc tế về lóc động mạch chủ cấp tính.

LTT



: Loét trong thành



LXVT



: Loét xơ vữa thủng



MTTT



: Máu tụ trong thành



SAT



: Siêu âm tim



TĐMC



: Tách động mạch chủ



DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1. Phân bố bệnh nhân theo tuổi....................................................35

Biểu đồ 3.2. Phân bố theo giới tính...............................................................36

Biểu đồ 3.3. Phân loại theo Svensson...........................................................43



1



ĐẶT VẤN ĐỀ

Tách động mạch chủ (TĐMC) là bệnh lý tim mạch nguy hiểm, thường

gặp ở người cao tuổi và ngày càng có xu hướng gia tăng. Tách động mạch

chủ (aortic dissection) được định nghĩa là sự tổn thương lớp áo giữa của

động mạch chủ (ĐMC) kèm theo chảy máu bên trong và lan dọc theo thành

động mạch làm cho các lớp áo của động mạch chủ tách rời nhau [1]. Rách

lớp áo trong làm cho máu đi vào lớp áo giữa từ lòng mạch và hình thành

lòng thật và lòng giả với lòng giả có áp lực lớn hơn hoặc bằng lòng thật.

Chẩn đốn tách động mạch chủ có nhiều phương pháp như siêu âm qua

thực quản, chụp cộng hưởng từ, chụp mạch, trong đó chụp cắt lớp vi tính đặc

biệt là cắt lớp vi tính đa dãy được coi là tiêu chuẩn vàng độ nhạy lên tới 100%

và độ đặc hiệu là 98-99% [2-5]. Chụp cắt lớp vi tính được áp dụng nhiều nhất

vì có thể làm ngay trong điều kiện cấp cứu, cho phép chẩn đốn nhanh, ít phụ

thuộc vào người làm, giúp ích cho điều trị, tiên lượng và theo dõi lâu dài cho

bệnh nhân. Chụp cắt lớp vi tính với trường thăm khám rộng từ ngực xuống

bụng, không chỉ nhanh chóng chẩn đốn xác định tách động mạch chủ mà xác

định vị trí tổn thương, kiểu và độ lan của tổn thương từ đó phân loại theo các

tác giả De Bakey, Stanford giúp lâm sàng quyết định phương thức điều trị

thích hợp, đánh giá các biến chứng phối hợp tiên lượng cho điều trị.

Tách ĐMC có nhiều hệ thống phân loại như De Bakey, Stanford,

Svensson, tuy nhiên phân loại theo Stanford là cách được áp dụng nhiều nhất

trong chẩn đốn hình ảnh, lâm sàng và quyết định phương pháp điều trị. Tách

động mạch chủ Stanford type A là tổn thương bắt đầu từ đoạn ĐMC lên và có

thể lan đến động mạch chủ xuống; type B là tổn thương động mạch chủ xuống

bắt đầu từ sau chỗ xuất phát của động mạch dưới đòn trái [6]. Tách ĐMC type

A chiếm 60-70% trường hợp [7] và thường phải đòi hỏi can thiệp phẫu thuật



2



khẩn cấp để ngăn ngừa lan vào gốc động mạch chủ, màng tim hoặc động

mạch vành [8]. Nếu khơng điều trị, tách ĐMC type A có tỷ lệ tử vong đến

50% trong vòng 48 giờ đầu. Tách ĐMC type B chiếm khoảng 30-40% trường

hợp [7], điều trị chủ yếu là nội khoa kiểm soát huyết áp, ngoại trừ có biến

chứng lan rộng của tách (chẳng hạn như thiếu máu cơ quan đích hoặc đau

ngực dai dẳng) có thể cần can thiệp.

Ở Việt Nam, nhờ sự phát triển các phương tiện chẩn đốn hình ảnh đặc

biệt là máy chụp cắt lớp vi tính thế hệ mới đa lát cắt, bệnh nhân tách động

mạch chủ được phát hiện sớm, chẩn đoán nhanh, điều trị hiệu quả ở nhiều

trung tâm lớn trong đó có bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Hiện nay đã có một

số nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng tách động mạch chủ nhưng

chưa có nghiên cứu nào chỉ riêng về đặc điểm hình ảnh trên chụp cắt lớp và từ

đó phân loại giúp tìm phương thức điều trị thích hợp. Chính vì vậy chúng tơi

thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và phân loại của tách

động mạch chủ trên chụp cắt lớp vi tính đa dãy” với 02 mục tiêu:

1. Mơ tả đặc điểm hình ảnh của tách động mạch chủ trên chụp cắt lớp

2.



vi tính đa dãy.

Phân loại tách động mạch chủ trên chụp cắt lớp vi tính đa dãy.



CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU



3



1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TÁCH ĐỘNG MẠCH CHỦ



1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngồi

Bệnh nhân TĐMC đầu tiên được mô tả chi tiết trong y văn bởi tác giả

Nicholls vào năm 1760, và sau đó được Morgani nhận xét chi tiết về giải phẫu

bệnh năm 1761 [9].

Năm 1954, De Bakey, Cooley và Creech là người đầu tiên phẫu thuật

thành công tách động mạch chủ xuống.

Năm 1964, theo nghiên cứu của De Bakey dựa vào vị trí rách áo trong

và mức độ lan rộng của tổn thương đã đưa ra bảng phân loại tách động mạch

chủ thành 3 loại. [10].

Năm 1970, Daily tại đại học Stanford nghiên cứu dựa theo chiều dài

của tổn thương tách động mạch chủ đưa ra cách phân loại mới chia tách động

mạch chủ thành 2 loại là type A và type B, cách phân loại này đơn giản hơn

dễ áp dụng trong thực hành lâm sàng hơn [6].

Năm 1999, Svensson trên nghiên cứu trên 181 bệnh nhân được làm các

kỹ thuật siêu âm tim, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ có đối chiếu

với phẫu thuật và mơ học, đưa ra bảng phân loại gồm 5 loại [11].

Vê hình ảnh, nghiên cứu của LePage năm 2001 trên 50 bệnh nhân tách

ĐMC có chụp cắt lớp vi tính, dấu hiệu mỏ chim quan trọng nhất phân biệt

lòng thật và lòng giả , lòng giả lớn hơn lòng thật (94% trường hợp cấp tính và

96% trường hợp mạn tính) [12].

1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

Năm 2012, nghiên cứu của Hoàng Thị Phương Nhung và Đinh Thu

Hương về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng và điều trị nội khoa bệnh nhân

tách động mạch chủ cấp trên 71 đối tượng thấy tuổi trung bình là 62,3 ± 11,5,

trẻ nhất là 37 tuổi, già nhất 87 tuổi. Tỷ lệ nam/nữ =1,84. Yếu tố nguy cơ cao nhất

là tăng huyết áp (78,9%). Đau ngực là triệu chứng lâm sàng quan trọng nhất



4



(95,8%). Trên siêu âm qua thành ngực phát hiện thấy có 80,3% có rách nội mạc.

Tỷ lệ tách type A gấp 3 lần type B [13].

Nghiên cứu của Hồ Thị Thu, Nguyễn Thị Hồng Hạnh năm 2013 trên 43

đối tượng tách động mạch chủ cấp, tuổi trung bình là 65,2 ± 12,7, nhóm bệnh

nhân tuổi cao nhất là trên 60 tuổi. Về giới tỷ lệ nam/nữ =1/1,9. Tiền sử tăng

huyết áp là cao nhất (72%). Trên chụp cắt lớp vi tính, tỷ lệ tách ĐMC theo

phân loại của De Bakey type I là 34,9%; type II là 18,6% và 46,5% type III.

Với phân loại của Stanford tỷ lệ tách ĐMC type A và B gần bằng nhau là

53,5% và 46,5% [14].

Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tân về kết quả sớm sau phẫu thuật tách

động mạch chủ Stanford A trên 30 bệnh nhân tại Viện Tim mạch Quốc gia –

Bệnh viện Bạch Mai, đau ngực và tăng huyết áp là triệu chứng lâm sàng

chính. So sánh với phẫu thuật, chụp cắt lớp vi tính có độ nhạy lên tới 100%,

siêu âm tim là 93,3%. Phẫu thuật thay ĐMC lên, có hoặc khơng có can thiệp

vùng quai với tỷ lệ tử vong sau phẫu thuật 20%. Hút thuốc lá làm tăng tỷ lệ tử

vong lên 7,6 lần [15].

Nghiên cứu của Vũ Ngọc Tú trên 81 bệnh nhân tách động mạch chủ

type A cấp tính tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức với tỷ lệ nam/nữ =2,3/1, tuổi

trung bình của nhóm nghiên cứu là 51,7 ± 11,4; nhóm tuổi hay gặp nhất 51-60,

trong đó kiểu hình Marfan gặp 12,3%. Tuyệt đại đa số tách ĐMC type I theo

phân loại của De Bakey (95,1%). Với phân loại của Svensson, nghiên cứu của

tác giả chỉ gặp 2 loại là loại kinh điển có vách nội mạc (79%) và loại máu tụ

trong thành (21%). Có nhiều biến chứng nặng, tràn máu màng tim (88,9%) và

chèn ép tim cấp (3,7%). Phẫu thuật thay ĐMC lên, sau đó tách ĐMC có thể thối

triển hồn tồn, ĐMC có hình thái như bình thường, thường gặp ở thể máu tụ

trong thành hơn tách ĐMC thể kinh điển [16].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PGS. TS Nguyễn Duy Huề

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×