Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bng 3.15: Mt s c im ca 3 bnh nhõn c chn oỏn FH theo tiờu chun MEDPED

Bng 3.15: Mt s c im ca 3 bnh nhõn c chn oỏn FH theo tiờu chun MEDPED

Tải bản đầy đủ - 0trang

60



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.1.1. Phân bố theo giới tính

Nghiên cứu của chúng tơi gồm 819 bệnh nhân NMCT cấp có ST chênh

lên tại Viện Tim mạch Việt Nam từ năm 2015 đến năm 2017, trong đó có 191

bệnh nhân là nữ (chiếm 23,3%) và 628 bệnh nhân là nam (chiếm 76,7%), tỷ lệ

nam/nữ là 3,3/1.

Kết quả này tương đồng với hầu hết các nghiên cứu trên thế giới cũng

như trong nước trên đối tượng bệnh nhân NMCT cấp có ST chênh lên.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Cẩm Bình trên hơn 1200 bệnh nhân NMCT

cấp có ST chênh lên tại Viện Tim mạch Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2014,

tỷ lệ nam/nữ là 3,18/1 [24]. Tỷ lệ này trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Tân

tại Bệnh viện Thống Nhất – thành phố Hồ Chí Minh từ 2009 đến 2012 là 2,13

[25]; trong nghiên cứu của Cao Ngọc Thanh ở bệnh viện Chợ Rẫy năm 2005

– 2006 là 2,64 [26].

Tỷ lệ nam/nữ trong các nghiên cứu về nhồi máu cơ tim cấp trên thế giới:

trong nghiên cứu của Kuch B ở Đức, tỷ lệ này là 2,81 [27], trong nghiên cứu

của Sheeren Khaled là 2,72 [28].

Nhìn chung qua các nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân NMCT cấp nam giới

thường gấp 2 – 3 lần nữ giới.



61



4.1.2. Tuổi

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình của đối tượng nghiên

cứu là 67,4 ± 12,8; tuổi thấp nhất là 28, cao nhất là 97; tuổi trung bình của

nam giới là 65,6 ± 12,9; tuổi trung bình của nữ giới là 73,6 ± 10,6. Nữ giới có

tuổi trung bình cao hơn nam giới, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với

p<0,05. So sánh tỷ lệ giữa các nhóm tuổi, chúng ta thấy nhóm tuổi trên 60

chiếm đến 72,16% số bệnh nhân.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi khá tương đồng với kết quả nghiên

cứu của Nguyễn Thị Cẩm Bình, tuổi trung bình là 64 ± 12, tuổi trung bình của

nam giới là 62,76 ± 11,57; nữ giới là 70,75 ± 11,12; tỷ lệ bệnh nhân NMCT

trên 65 tuổi chiếm chủ yếu (53%) [24]. Cũng như trong nghiên cứu của

Nguyễn Văn Tân: tuổi trung bình là 69,18±13,28; tuổi trung bình của nam

giới là 66,9 ± 13,58; tuổi trung bình của nữ giới là 74,04 ± 11,2; tỷ lệ bệnh

nhân trên 65 tuổi chiếm 66,38% [25].

Trong nghiên cứu gộp của Knot và cộng sự trên hơn 6600 bệnh nhân

NMCT cấp, trong đó có hơn 3000 bệnh nhân NMCT cấp có ST chênh lên,

tuổi trung bình của nhóm NMCT cấp có ST chênh lên là 64,5 ± 12,4, tương tự

với nghiên cứu của chúng tôi [29].

Về sự khác nhau về tuổi giữa 2 giới, chúng tôi thấy rằng tuổi trung bình

của nữ giới cao hơn nam giới, đồng thời tỷ lệ NMCT ở nữ giới ở nhóm trên

60 tuổi cao hơn ở nam giới, còn tỷ lệ NMCT ở nam giới nhóm dưới 60 tuổi

lại cao hơn nữ giới. Điều này cho thấy tuổi bị NMCT ở nữ giới có xu hướng

cao hơn nam giới.



62



4.1.3. Một số yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành

- Hút thuốc lá: Trong nghiên cứu của chúng tơi, ở nam giới có tới 49,%

bệnh nhân có tiền sử hút thuốc lá, trong khi đó chỉ có 3,66% bệnh nhân nhóm

nữ giới có hút thuốc. Điều này hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu thống

kê gần đây tại Việt Nam cũng cho thấy tỉ lệ hút thuốc vẫn còn cao, và đặc biệt

là ở nhóm nam giới (45,3% ở nam giới so với 18,2% ở nữ giới) [30]. Tỷ lệ nữ

giới hút thuốc lá của chúng tôi thấp hơn so với giá trị thu được trong cộng

đồng có thể do cỡ mẫu còn chưa thực sự đủ lớn, tuy nhiên vẫn khá chính xác

về mặt tương quan giữa hai giới nam và nữ.

- Tăng huyết áp và đái tháo đường: trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ

nữ giới bị tăng huyết áp cao hơn so với nam giới (46,9% ở nam và 57,1% ở

nữ, p<0,05), tỷ lệ đái tháo đường ở nữ giới cũng cao hơn so với nam giới

(19,9% so với 14%, p< 0,05). Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu

của Berger và cộng sự, trong đó tỷ lệ nữ giới mắc tăng huyết áp là 55%, nam

giới 36%, tỉ lệ đái tháo đường cũng tương ứng là 21% và 13% [31]. Điều này

cũng cho thấy nhóm đối tượng là nữ giới khơng chỉ có xu hướng mắc bệnh ở

lứa tuổi cao hơn, đồng thời lại mắc nhiều bệnh phối hợp, chính vì vậy nguy cơ

của nhóm bệnh nhân nữ cũng rất cao, đòi hỏi cần có sự quan tâm đánh giá

chính xác tình trạng bệnh.

- Về tiền sử rối loạn lipid máu: tỷ lệ rối loạn lipid máu thì ở nam giới là

1,4% và nữ giới là 1,6%, khơng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Kết quả

này khác biệt với nghiên cứu của Berger và cộng sự, trong đó tỷ lệ rối loạn

lipid máu là 36% ở nữ giới và 31% ở nam giới [31]. Có sự khác biệt này có

thể là do nước ta là một nước đang phát triển, vì vậy mơ hình bệnh tật có thể

còn khác so với các nước phát triển, cũng có thể do bệnh nhân Việt Nam chưa



63



có thói quen đi khám định kỳ dẫn đến tỷ lệ phát hiện các rối loạn chuyển hóa

sớm thấp hơn các nước phát triển.

4.1.4. Một số đặc điểm lâm sàng

- Tần số tim lúc nhập viện: trong nghiên cứu của chúng tơi, tần số tim

trung bình của bệnh nhân khi nhập viên là 88,3 ± 18,8, trong đó 72,4% bệnh

nhân có nhịp tim trong giới hạn bình thường, chỉ có 3,3% bệnh nhân có nhịp

tim dưới 60 lần/phút và 24,3% bệnh nhân có nhịp tim trên 100 chu kì/phút.

Như chúng ta đều biết nhịp tim và huyết áp là hai yếu tố được dùng để đánh

giá tiên lượng của các bệnh nhân nhập viện vì nhồi máu cơ tim cấp có ST

chênh lên, trong đó nhịp tim trên 100 được chấm 2 điểm và với mỗi điểm tăng

lên trong thang điểm TIMI tỉ lệ tử vong của bệnh nhân đều tăng lên đáng kể,

trong đó với nhịp tim nhanh trên 100 chu kì/phút bệnh nhân có nguy cơ tử

vong tăng gấp 2,84 lần so với các bệnh nhân khác (OR 2,84, p< 0,0001) [32].

- Huyết áp lúc vào viện: trong nghiên cứu của chúng tơi, huyết áp tối đa

trung bình là 123,1 ± 24,1mmHg và huyết áp tối thiểu là 74,9 ± 13, mmHg,

HA trung bình là 91,6 ± 16,1mmHg, trong đó 69,7% bệnh nhân có huyết áp

tối đa lúc vào viện nằm trong giới hạn bình thường, 26,8% bệnh nhân có

huyết áp tối đa trên 140 mmHg, và chỉ có 3,5% bệnh nhân có huyết áp tối đa

dưới 90 mmHg, một trong những biểu hiện của sốc tim – một trong những

biến cố nặng nề và là một trong những yếu tố tiên lượng tử vong rất cao cho

bệnh nhân. Cũng trong nghiên cứu ExTRACT‐TIMI 25 và TRITON –

TIMI38 đã cho thấy huyết áp tâm thu dưới 100mmHg là một trong những yếu

tố tiên lượng nặng của bệnh nhân, các bệnh nhân này có tỉ lệ tử vong cao hơn

1,76 lần so với các bệnh nhân có huyết áp tâm thu trên 100mmHg (OR=1,76,

p<0,001) [32].



64



Qua đây chúng ta thấy về đặc điểm lâm sàng khi vào viện của bệnh nhân

tại Viện Tim mạch Việt Nam- bệnh viện Bạch Mai có các chỉ số huyết động

tương đối tương đồng với các bệnh nhân trong nghiên cứu của các trung

tâm lớn khác trên thế giới, điều này có thể được giải thích do cơng tác chẩn

đốn và vận chuyển ngày cành nhanh và chính xác hơn, giúp cải thiện thời

gian đến viện của bệnh nhân, qua đó cải thiện các chỉ số tiên lượng sống

còn cho bệnh nhân.

- Chỉ số khối cơ thể (BMI): trong nghiên cứu của chúng tơi, BMI trung

bình của bệnh nhân là 22,3 ± 2,7; trong đó nhóm thừa cân với BMI>23 chiếm

tỷ lệ khá cao 49,6%. Chúng ta đã biết tình trạng béo phì liên quan chặt chẽ với

tăng Cholesterol, tăng LDL-C, giảm HDL – C, đồng thời làm tăng nguy cơ xơ

vữa động mạch, và là một trong những yếu tố nguy cơ của bệnh lý tim mạch

[33]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng với kết quả nghiên

cứu của Nguyễn Văn Tân tại Bệnh viện Thống Nhất, với BMI trung bình là

23,06 ± 3,23; tỷ lệ bệnh nhân có BMI > 23 là 45,6% [25]. So sánh với kết quả

nghiên cứu của Khaled, tỷ lệ bệnh nhân có BMI > 25 là 62,4% [28], cao hơn

so với nghiên cứu của chúng tôi. Điều này có thể lý giải là do tỷ lệ béo phì ở

các nước phát triển cao hơn ở Việt Nam.

4.1.5. Một số đặc điểm cận lâm sàng

4.1.5.1. Điện tâm đồ

Định khu vị trí NMCT trên điện tâm đồ 12 chuyển đạo:

Trong nghiên cứu của chúng tôi, NMCT thành trước chiếm phần lớn trong

đối tượng nghiên cứu (68,4%). NMCT thành dưới có tỷ lệ ít hơn (28,9%).



65



Kết quả này tương đối tương đồng với kết quả nghiên cứu của Nguyễn

Thị Cẩm Bình với 60,22% bệnh nhân bị NMCT thành trước [24]. Tỷ lệ này

là 58% trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Tân [25], thấp hơn so với kết quả

nghiên cứu của chúng tôi.

Nghiên cứu của Celik trên 307 bệnh nhân, NMCT có ST chênh ở thành

trước chiếm 54% [34], thấp hơn trong nghiên cứu của chúng tôi, tuy nhiên

vẫn thể hiện sự ưu thế trong NMCT thành trước. NMCT thành trước là yếu tố

dự báo tỷ lệ tử vong cao, do NMCT thành trước thường có vùng bị nhồi máu

rộng hơn, chức năng tâm thu thất trái giảm nhiều hơn. Động mạch liên thất

trước hầu như là nhánh động mạch vành lớn nhất, cấp máu cho thành trước,

thành bên, vùng vách và còn cấp máu cho vùng đáy dưới của thất trái. Như

vậy NMCT trước rộng có diện tích vùng cơ tim bị nhồi máu lớn do đó ảnh

hưởng nhiều đến chức năng tống máu của thất trái.

4.1.5.2. Siêu âm tim

Chức năng tâm thu thất trái là yếu tố tiên lượng quan trọng về hoạt động

chức năng cũng như tỷ lệ tử vong của bệnh nhân NMCT [35].

Trong nghiên cứu của chúng tơi, tỷ lệ bệnh nhân NMCT có phân suất

tống máu thất trái (EF) dưới 50% rất cao, chiếm 67,3%. Trong đó, bệnh nhân

có EF giảm nặng (EF 30 – 40%) và rất nặng (EF <30%) chiếm tỷ lệ khá cao

(19,7% và 7,7%).

Kết quả này khá tương đồng với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị

Cẩm Bình, EF<50% chiếm 67,6% [24], cũng như kết quả nghiên cứu của

Nguyễn Văn Tân 76% [25].



66



Ở Mỹ, trong nghiên cứu của Miller, trên một số lượng lớn bệnh nhân, tỷ

lệ EF<50% trong nhóm NMCT cấp ST chênh lên là 50,5%, trong nhóm

NMCT cấp không ST chênh lên là 42.3% [36].

4.2. Đặc điểm rối loạn lipid máu ở bệnh nhân NMCT cấp có ST chênh lên

4.2.1. Tỷ lệ rối loạn lipid máu

Trong nghiên cứu này chúng tơi áp dụng tiêu chuẩn chẩn đốn rối loạn

lipid máu theo NCEP – ATP III. Đối tượng nghiên cứu của chúng tơi, tỷ lệ bệnh

nhân có ít nhất một trong các loại rối loạn lipid máu là rất cao, chiếm 79,39% số

bệnh nhân. Trong đó, tỷ lệ bệnh nhân giảm HDL – C là cao nhất (66,83%). Tỷ lệ

bệnh nhân có tăng Cholesterol tồn phần, LDL – C, Triglycerid cũng ở mức khá

cao, theo thứ tự tương ứng 20,77%, 16,91%, 19,65%.

Nghiên cứu của Marko Mornar Jelavic và cộng sự năm 2016 về vai trò

của hội chứng chuyển hóa và tình trạng béo phì trong tiên lượng bệnh nhân

NMCT có ST chênh lên, tỷ lệ bệnh nhân có rối loạn lipid máu theo tiêu chuẩn

NCEP – ATP III là 76%, nghiên cứu gồm 250 bệnh nhân NMCT cấp có ST

chênh lên tại Croatia, kết quả tương đồng với nghiên cứu của chúng tôi [37].

Nghiên cứu của Sheeren Khaled và cộng sự trên 299 bệnh nhân NMCT

cấp ở Ấn Độ năm 2015, tỷ lệ có rối loạn lipid máu là 50%, thấp hơn so với

nghiên cứu của chúng tôi, tuy nhiên cũng ở ngưỡng rất cao [28].

Nghiên cứu của Seung Hun Lee và cộng sự trên 5281 bệnh nhân Hàn

Quốc bị NMCT cấp có ST chênh lên từ năm 2005 – 2010 cũng cho thấy tỷ lệ

rối loạn lipid máu ở những bệnh nhân này rất cao, khoảng 67,6% [38].



67



Về tỷ lệ rối loạn theo từng thành phần lipid máu, trong nghiên cứu của

Hector Gonzalez và cộng sự trên hơn 3000 bệnh nhân hội chứng vành cấp ở

Mexico cho thấy: tỷ lệ rối loạn lipid máu chung gặp 85,1%; tỷ lệ tăng

Cholesterol toàn phần là 24,1%; tỷ lệ tăng LDL – C là 20,3%; tỷ lệ giảm

HDL–C là 68,6%; tỷ lệ tăng Triglycerid là 50,3% [39]. Kết quả của nghiên

cứu này khá tương đồng với kết quả nghiên cứu của chúng tôi về tỷ lệ rối loạn

lipid chung, tỷ lệ tăng Cholesterol toàn phần, tăng LDL – C, giảm HDL – C;

tuy nhiên tỷ lệ tăng Triglycerid cao hơn hẳn nghiên cứu của chúng tôi (50,3%

so với 19,65%.

Tại Việt Nam, cũng đã có một số nghiên cứu về tình trạng rối loạn lipid

máu ở bệnh nhân hội chứng vành cấp nói chung. Trong nghiên cứu của Giao

Thị Thoa và cộng sự trên 161 bệnh nhân hội chứng vành cấp tại Bệnh viện Đà

Nẵng năm 2014, tỷ lệ rối loạn lipid máu rất cao 76,39%; trong đó tỷ tăng

Cholesterol tồn phần, tăng LDL – C, giảm HDL – C, tăng Triglycerid lần

lượt là 54,04%, 51,55%, 9,32%, 36,02% [40]. Một nghiên cứu tương tự trên

43 bệnh nhân hội chứng vành cấp tại Bệnh viện Đắc Lắc năm 2010 cũng cho

kết quả gần tương tự với tỷ lệ rối loạn lipid máu, tỷ lệ tăng Cholesterol toàn

phần tăng LDL – C, giảm HDL – C, tăng Triglycerid lần lượt là 65,12%,

37,21%, 41,86%, 37,21%, 16,28% [41].

Nhìn chung, các nghiên cứu trong và ngồi nước đều cho thấy tỷ lệ rối

loạn lipid rất cao ở đối tượng bệnh nhân hội chứng vành cấp nói chung, đặc

biệt ở nhóm NMCT cấp có ST chênh lên. Tỷ lệ rối loạn từng thành phần lipid

máu có sự khác biệt giữa các nghiên cứu, có thể do một vài nghiên cứu có cỡ

mẫu nhỏ, đối tượng nghiên cứu khơng thuần nhất chỉ có bệnh nhân NMCT

cấp ST chênh lên mà gồm cả những bệnh nhân NMCT không ST chênh lên và



68



đau thắt ngực khơng ổn định; ngưỡng chẩn đốn rối loạn lipid có sự chênh

lệch; hoặc do địa dư từng khu vực khác nhau. Tuy nhiên chúng ta đều thấy tỷ

lệ tăng Cholesterol toàn phần, LDL – C - là các thành phần lipid “xấu” gây xơ

vữa động mạch - trong các nghiên cứu đều khá cao.

4.2.2. Phân loại rối loạn lipid máu theo De Gennes

Áp dụng phân loại rối loạn lipid máu theo



De Gennes, trong nghiên



cứu này chúng tôi thấy phần lớn bệnh nhân rối loạn lipid máu thuộc type tăng

Cholesterol máu đơn thuần (56,19%), tức là tăng chủ yếu Cholesterol, tỷ lệ

TC/TG > 2,5. Chỉ có 1 bệnh nhân (0,2%) có tăng Triglycerid đơn thuần, tức là

tăng chủ yếu Triglycerid, tỷ lệ TG/TC >2,5. Tăng lipid máu hỗn hợp (tăng cả

Triglycerid và Cholesterol tồn phần) cũng có tỷ lệ lớn 43,61%.

Kết quả này phù hợp với thực tế là cholesterol đóng vai trò chủ yếu trong

các bệnh lý liên quan đến xơ vữa động mạch [42], [43].

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự với các nghiên cứu

trong nước. Nghiên cứu của Giao Thị Thoa tại Bệnh viện Đà Nẵng năm 2014

cho thấy có 55,28% bệnh nhân có tăng Cholesterol đơn thuần; 35,77% số

bệnh nhân tăng lipid máu hỗn hợp [40]. Còn trong nghiên cứu của Phạm Thị

Thu Hồng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắc Lắc năm 2010 trên bệnh nhân hội

chứng vành cấp, tỷ lệ tăng Cholesterol đơn thuần là 50%, tỷ lệ tăng lipid máu

hỗn hợp là 35,71% [41].

4.2.3. Rối loạn lipid máu và một số đặc điểm liên quan:

4.2.3.1. Liên quan đến giới tính



69



Trong nghiên cứu này, chúng tơi thấy rằng tỷ lệ bệnh nhân tăng Cholesterol

toàn phần, tăng LDL – C ở nữ giới cao hơn nam giới. Nồng độ trung bình

Cholesterol tồn phần và LDL – C ở nữ giới cũng cao hơn nam giới.

Trong nghiên cứu của Hector Gonzalez và cộng sự trên hơn 3000 bệnh

nhân hội chứng vành cấp ở Mexico cũng cho thấy tỷ lệ nữ giới có tăng

Cholesterol tồn phần cao hơn ở nam giới (28% so với 23,1%) [39].

Nghiên cứu VIRGO được đăng trên tạp chí JACC (Journal of the

American College of Cardiology) năm 2015 là nghiên cứu rất lớn về sự khác

nhau giữa hai giới về các yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân NMCT, trong

đó có so sánh tình trạng rối loạn lipid máu giữa hai giới. Nghiên cứu được

tiến hành trên hơn 3500 bệnh nhân NMCT cấp ở Mỹ và Tây Ban Nha từ năm

2008 đến 2012. Kết quả cho thấy có sự tăng nhẹ nồng đồ Cholesterol tồn

phần cũng như LDL – C ở nữ giới so với nam giới [44].

Trong các nghiên cứu không phải trên đối tượng bệnh nhân hội chứng

vành cấp cũng thấy có sự khác biệt về lipid máu giữa hai giới. Trong nghiên

cứu của Kolovou và cộng sự trên 1385 bệnh nhân rối loạn lipid máu cũng

thấy nồng độ Cholesterol toàn phần và LDL – C ở nữ giới cao hơn nam giới

[45]. Các kết quả này cũng tương tự như kết quả nghiên cứu của Xin Huang

và cộng sự ở Trung Quốc năm 2011 [31], và nghiên cứu của Manabe ở Nhật

Bản [32].

Sự khác biệt về tình trạng rối loạn lipid máu ở hai giới hiện tại vẫn chưa

được lý giải đầy đủ, có thể liên quan đến tình trạng suy giảm Estrogen ở nữ

giới sau mãn kinh. Đã có các bằng chứng chứng minh Estrogen có tác dụng

làm tăng nồng độ HDL – C và giảm nồng đồ LDL – C, vì vậy sự suy giảm



70



nồng độ Estrogen sau mãn kinh có thể gây tác dụng ngược lại [47]. Chúng ta

cũng biết rằng phụ nữ sau mãn kinh có nguy cơ mắc các bệnh lý liên quan đến

xơ vữa mạch cao hơn [47].

4.2.3.2. Liên quan đến tuổi

Trong nghiên cứu này, chúng tơi thấy các chỉ số Cholesterol tồn phần

và Triglycerid có xu hướng giảm dần khi tuổi càng cao, mặc dù mức độ tương

quan yếu. Khơng thấy có sự tương quan giữa nồng độ LDL – C và HDL – C

với tuổi.

Yong Moon Park và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu lớn nhằm

đánh giá ảnh hưởng của mức độ tập luyện và tuổi đến lipid và lipoprotein

máu. Nghiên cứu tiến hành trên hơn 11428 nam giới độ tuổi từ 20 đến 90. Kết

quả cho thấy nồng độ Cholesterol toàn phần, LDL – C, Triglycerid, non HDLC có tương quan với tuổi theo hình chữ U ngược, nghĩa là lipid và lipoprotein

máu có xu hướng tăng dần đến độ tuổi 40 – 50 đạt đỉnh, sau đó sẽ có xu

hướng giảm dần [48]



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bng 3.15: Mt s c im ca 3 bnh nhõn c chn oỏn FH theo tiờu chun MEDPED

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×