Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu

1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

80



Theo Ahmad và cộng sự, trong số các bệnh nhi UNBT, tuổi trung bình là

11,08 tuổi, tuổi nhỏ nhất là 3 tuổi, tuổi lớn nhất là 16 tuổi. Nhóm tuổi từ 13

đến 16 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (50%), tiếp theo là nhóm tuổi từ 3 đến 7 tuổi

chiếm 20,9% và nhóm từ 8 đến 12 tuổi chiếm 29,1%. Theo Rodriguez và

cộng sự, tuổi trung bình của các trường hợp UNBT là 7,8 tuổi, nhỏ nhất là 3,6

tuổi, lớn nhất là 16 tuổi [64] .Trong nghiên cứu của chúng tơi, tuổi trung bình

của các trường hợp UNBT là 6,5 tuổi, nhỏ nhất là 2 tuổi, lớn nhất là 15 tuổi.

Kết quả của chúng tôi phù hợp với Koral nhưng thấp hơn so với kết quả của

Stephen do đối tượng nghiên cứu khác nhau [66],[67] .

Theo Rodriguez, tuổi trung bình của UMNT là 8,2 tuổi, nhỏ nhất là 1,1

tuổi, lớn nhất là 15,5 tuổi [64] . Theo Yuh và cộng sự, tuổi trung bình của

bệnh nhi bị UMNT là 6,2 tuổi [11] . Đối với các trường hợp UMNT trong

nghiên cứu của chúng tơi, tuổi trung bình là 4,7 tuổi, tuổi nhỏ nhất là 1 tuổi,

tuổi lớn nhất là 16 tuổi.

So sánh độ tuổi trung bình của 3 loại u hay gặp nhất là UNBT, USBL

và UMNT trong nghiên cứu, chúng tơi thấy sự khác biệt khơng có ý nghĩ

thống kê (p >0,05).

4.1.2 Giới

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ mắc u não hố sau ở trẻ

trai là 65% cao hơn so với trẻ gái. Tỷ lệ nam/nữ trong nhóm USBL là 1,5/1,

trong nhóm UNBT là 1,8/1 trong nhóm UMNT là 1,5/1.

Bilginer và cộng sự (2011) nghiên cứu hồi cứu 31 bệnh nhân USBL

nhận thấy tỷ lệ nam/nữ là 1,8/1 , tương đồng so với kết quả chúng tôi. Meyer

và cộng sự nghiên cứu hồi cứu 25 trường hợp UNBT có độ tuổi từ 1 đến 42

tuổi thấy tỷ lệ nam/nữ là 1,5/1. Donati và cộng sự hồi cứu 20 trường hợp

UNBT ở trẻ em từ 2 đến 13 tuổi nhận thấy tỷ lệ nam/nữ là 1/1 [-132]. Theo

80



81



kết quả nghiên cứu của Ahmed và cộng sự, trong nhóm UNBT, tỷ lệ trẻ trai là

59,1% cao hơn so với tỷ lệ trẻ gái là 40,9% [174] .Theo kết quả của Dawna và

cộng sự, tỷ lệ trẻ trai/trẻ gái trong nhóm UNBT là 1,5/1, nhóm USBL là

1,63/1 và nhóm UMNT là 8/1 [178].

Khi so sánh tỷ lệ nam/nữ trong từng nhóm u hố sau thường gặp ở trẻ

em cũng khơng có ý nghĩa thống kê. Như vậy có thể giúp loại bỏ yếu tố giới

trong dự báo loại u.

4.1.3 Đặc điểm lâm sàng

U não hố sau biểu hiện lâm sàng bởi hai hội chứng chính: Hội chứng

tăng áp lực nội sọ và hội chứng tiểu não [68] .

Theo kết quả nghiên cứu chúng tôi, triệu chứng đau đầu là hay gặp nhất

124 trường hợp chiếm tỷ lệ 94,6% tiếp theo là triệu chứng nôn với 93 trường

hợp chiếm tỷ lệ 70,9%.

Theo kết quả của Bilginer và cộng sự (2011) trên 31 đối tượng u hố sau

độ tuổi từ 3 đến 23 tuổi nhận thấy triệu chứng lâm sàng hay gặp nhất là đau

đầu (67,7%). Các triệu chứng khác khi phát hiện bệnh bao gồm nôn (64,5%),

rối loạn tư thế (48,3%), cứng gáy (16,1%), lác mắt (6,4%), rối loạn thị giác

(3,2%) và chậm phát triển tinh thần vận động (3,2%). Các dấu hiệu thần kinh

khi thăm khám lâm sàng bao gồm phù gai thị (70,9%), thất điều (54,8%) rung

giật nhãn cầu (22,5%) [23].

Theo kết quả nghiên cứu của Zimmerman và cộng sự, trong số các u

não hố sau ở trẻ em, các triệu chứng rối loạn tiểu não hay gặp nhất xuất hiện

trong 54% các trường hợp, tiếp theo là đau đầu (45,9%) và nơn (37,8%).

Ngồi ra tác giả còn thấy có 7 trường hợp mất thị lực (20%) do phát hiện bệnh

muộn. Triệu chứng cứng gáy chỉ gặp trên 3 bệnh nhi [14] .

81



82



Tất cả bệnh nhi đều có biểu hiện lâm sàng gợi ý u não tuy nhiên các

triệu chứng khá đa dạng và không đặc hiệu. Chúng tôi nhận thấy các dấu hiệu

dễ gây nhầm lẫn khi trẻ càng nhỏ do các đường khớp sọ chưa liền như đầu to,

thóp phồng, bỏ bú…

Đơi khi một số khối u não đặc biệt có thể xuất hiện trong một số hội

chứng như NF2 với u màng não và UMNT, hội chứng Gorlin hoặc Li

Fraumeni với UNBT [13],[69] tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tơi

khơng có bệnh nhân nào thuộc nhóm này.

4.1.4 Đặc điểm giải phẫu bệnh các u hố sau trong nghiên cứu.

Trong số 116 u não hố sau có kết quả giải phẫu bệnh trong nghiên cứu

của chúng tôi, UNBT hay gặp nhất 48/116 trường hợp chiếm 48,4%, tiếp

theo là USBL 42/116 trường hợp chiếm 42,4% và UMNT 15,13%. Trong

nghiên cứu chúng tơi có 11 trường hợp u hiếm gặp (chiếm tỷ lệ 3,3%) bao

gồm u qi dạng cơ vân khơng điển hình, u ngun bào thần kinh đệm, u thần

kinh đệm ít nhánh, u ngun bào mạch, u túi nỗn hồng, u nhú đám rối mạch

mạc. Trong đó trừ u quái dạng cơ vân khơng điển hình có 5 trường hợp còn

lại mỗi loại chỉ có 1 đến 2 trường hợp.

Phần lớn các nghiên cứu trên y văn đều cho thấy ngoài u thân não thì

UNBT, USBL, và UMNT loại 3 u hay gặp nhất vùng hố sau ở trẻ em [6],[68]

. Theo kết quả nghiên cứu của Mohamed và cộng sự (2012) trên đối tượng 30

u não hố sau ở trẻ em cho thấy tỷ lệ UNBT là 23%, USBL là 46% và UMNT

là 30% [70] . Theo kết quả nghiên cứu của Tao Y và cộng sự, trong số các u

não vùng hố sau thì UNBT và USBL là hay gặp nhất cùng chiếm tỷ lệ 37,9%,

tiếp theo là UMNT chiếm 10,3% và các u còn lại chiếm 13,8% [71] . Kết quả

các nghiên cứu trên y văn đều cho thấy trong số u não vùng hố sau ở trẻ em



82



83



thì UNBT chiếm tỷ lệ 28,9 đến 40,3%, USBL chiếm tỷ lệ 13 đến 27,7%. Các

UMNT ít gặp hơn chiếm tỷ lệ 6,5 đến 12,4% [60],[72],[73] .

Trần Văn Học và cộng sự nghiên cứu lâm sàng và phân loại mô bệnh

học của 81 bệnh nhân u não hố sau tại Bệnh viện Nhi trung ương năm 2010

nhận thấy UNBT chiếm 52,2%, USBL chiếm 34,8% còn lại là các u khác

chiếm 13% [16] . Các kết quả trên phù hợp với kết quả trong nghiên cứu của

chúng tôi.

Trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 1 trường hợp u ngồi trục là u nhú

đám rối mạch mạc và khơng có trường hợp u di căn [68] .

4.2

1



Đặc điểm hình ảnh u hố sau

Vị trí u

Theo kết quả nghiên cứu của chúng tơi, trong tổng số 116 trường hợp u



hố sau, các u nằm ở vị trí trên đường giữa là 66 trường hợp chiếm tỷ lệ 59,9%

cao hơn so với các trường hợp u nằm lệch khỏi đường giữa là 50 trường hợp

chiếm tỷ lệ 43,1% . Tỷ lệ UNBT nằm trên đường giữa là 85,4%, của USBL là

35,7% và của UMNT là 73,3%.

Bilginer và cộng sự (2011) nghiên cứu 31 trường hợp USBL nhận thấy

USBL nằm ở đường giữa là 55% trong khi ở bán cầu tiểu não là 45%. Tỷ lệ

USBL nằm trên đường giữa trong nghiên cứu của Bilginer cao hơn của chúng tơi

có thể là do phạm vi tuổi đối tượng nghiên cứu của tác giả rộng hơn (từ 3 đến 23

tuổi) trong khi đối tượng nghiên cứu của chúng tôi chỉ giới hạn từ sơ sinh đến

dưới 16 tuổi. Trong một nghiên cứu với 132 bệnh nhân, Poretti nhận thấy 16%

USBL xuất phát từ thuỳ nhộng, 53% từ bán cầu tiểu não, 26% ở cả hai vị trí

và 34% nằm ở thân não [21] . Trong khi một nghiên cứu khác của Plaza với



83



84



cỡ mẫu 168 bệnh nhân nhận thấy có 71% USBL xuất phát từ thuỳ nhộng và

29% xuất phát từ bán cầu tiểu não [74] .

USBL ở vị trí góc cầu tiểu não rất hiếm gặp. Trong nghiên cứu của

chúng tôi không ghi nhận trường hợp nào USBL ở vị trí góc cầu tiểu não.

Mirone là người đầu tiên mơ tả USBL ở góc cầu tiểu não trên trẻ trai 12 tuổi.

Hình ảnh CHT lần đầu chẩn đoán nhầm là u bao dây thần kinh [75]

Phân tích đơn biến thấy u hố sau nằm ở trong bán cầu tiểu não thuộc

nhóm USBL cao gấp 14 lần so với nhóm u khơng phải USBL (p < 0,01). Mối

liên quan này tồn tại trong phân tích hồi quy logistic (OR = 19,5 [5,3-35,2], p

<0,01)

Donati và cộng sự nghiên cứu hồi cứu 20 trường hợp UNBT có độ tuổi

từ 2 đến 13 tuổi nhận thấy 17/20 trường hợp UNBT nằm ở đường giữa (85%)

trong khi chỉ có 3/20 trường hợp nằm lệch khỏi đường giữa (15%), 1 trường

hợp trong số đó nằm ở góc cầu tiểu não [132]. Theo kết quả của T Chang và

cộng sự, phần lớn UNBT nằm trên đường giữa, chỉ có 8% nằm lệch khỏi

đường giữa [76] . Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, UNBT nằm trên

đường giữa chiếm 85,4%. Một số nghiên cứu cho thấy UNBT thuộc nhóm

tăng sinh xơ có xu hướng nằm lệch sang bán cầu tiểu não nhiều hơn [24] .

Tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi mặc dù nhóm tăng sinh xơ chiếm

ưu thế nhưng tỷ lệ u nằm trên đường giữa vẫn cao hơn.

Vị trí UNBT vùng hố sau ở người lớn có khác biệt với trẻ em. Koci và

cộng sự nghiên cứu hồi cứu 12 trường hợp UNBT vùng hố sau ở người lớn

nhận thấy có 8/12 trường hợp nằm ở bán cầu tiểu não và chỉ có 4/12 trường

hợp nằm ở thuỳ nhộng [7]. Sự khác biệt này là do sự di trú của các tế bào

khơng biệt hố của màn tuỷ sau theo hướng từ trung tâm ra phía ngoại vi và

lên trên [77] .

84



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×