Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
4 Giá trị dự báo loại mô học u hố sau của các dấu hiệu CHT bằng phân tích hồi quy đa biến.

4 Giá trị dự báo loại mô học u hố sau của các dấu hiệu CHT bằng phân tích hồi quy đa biến.

Tải bản đầy đủ - 0trang

76



Di căn màng não tuỷ



6,5



2,5 – 30,1



0,005



Nhận xét:

Các dấu hiệu trên CHT thường quy có giá trị chẩn đốn phân biệt

UNBT với các u hố sau khác bao gồm: đồng tín hiệu trên ảnh T2W, tăng tín

hiệu trên ảnh khuyếch tán và di căn màng não tuỷ.

Tỷ lệ UNBT đồng tín hiệu trên ảnh T2W cao gấp 3,2 lần các u hố sau

khác không phải UNBT ( OR = 3,2 ,P<0,01).

Tỷ lệ UNBT đồng tín hiệu trên ảnh khuyếch tán cao gấp 7,6 lần các u

hố sau khác không phải UNBT (OR = 7,6, p<0,05).

Các trường hợp u hố sau có di căn màng não tuỷ có khả năng thuộc

nhóm UNBT cao hơn các u hố sau khác 6,5 lần (OR = 6,5, p<0,01).

Tỷ lệ UNBT nằm ở trên đường giữa cao gấp 6,3 lần các nhóm u hố sau

khác, tuy nhiên sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê (OR =6,2; p>0,05).

Bảng 3.42: Mơ hình hồi quy logistic các dấu hiệu CHT chẩn đoán USBL.

Các dấu hiệu CHT



OR



95%CI



p



Vị trí u ở bán cầu tiểu não



5,5



2,3 – 25,2



0,001



U dạng nang



7,1



2,4 - 27,1



0,001



Tăng tín hiệu trên ảnh 2,5

T2W



0,7 – 9,9



0,051



Giảm tín hiệu trên ảnh 4,9

khuyếch tán



2,7 – 11,1



0,067



Xuất huyết trong u



0,2



0,05 -1,3



0,084



Hoại tử trong u



1,1



0,5 -2,5



0,44



Phù quanh u



0,9



0,4 – 2,0



0,52



0,07 -0,56



0,55



Xâm lấn lỗ Luschka hoặc 0,19

Magendie

76



77



Nhận xét:

Các dấu hiệu có liên quan tới chẩn đốn USBL là vị trí u trong bán cầu

tiểu não và u dạng nang.

U hố sau nằm ở bán cầu tiểu não có khả năng thuộc nhóm USBL cao

gấp 5,5 lần các loại u hố sau khác (OR=5,5, p<0,01)

Tỷ lệ USBL dạng nang cao gấp 7,1 lần các u hố sau khác không phải

USBL (OR = 7,1; p<0,05).

Tỷ lệ USBL tăng tín hiệu trên ảnh T2W cao gấp 2,5 lần các loại u hố

sau khác tuy nhiên sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê với p>0,05.

Bảng 3.43. Mơ hình hồi quy logistic đa biến liên quan giữa chẩn đoán UMNT

với các dấu hiệu CHT.

Các dấu hiệu



OR



95%CI



p



Vị trí đường giữa



1,8



0,5 -11,2



0,45



Cấu trúc u đặc



1,9



1,5 – 8,1



0,07



Tăng tín hiệu trên ảnh T2W



1,1



0,5 – 5,4



0,87



ảnh 1,2



0,7 – 8,4



0,61



Xuất huyết trong u



3,7



1,9 – 8,5



0,02



Hoại tử trong u



2,1



1,2 - 15



0,03



Phù quanh u



1,5



0,4 – 9,1



0,06



Xâm lấn lỗ Luschka hoặc 5,1

Magendie



1,5 - 25



0,002



Di căn màng não tuỷ



0,03 – 2,3



0,19



Tăng tín hiệu

khuyếch tán



Nhận xét:



77



trên



0,42



78



Qua phân tích hồi quy logistic chỉ có 3 dấu hiệu trên CHT thường quy

là: xuất huyết trong u, hoại tử trong u và xâm lấn lỗ Luschka hoặc Magendie

là có liên quan tới chẩn đốn UMNT.

U hố sau xâm lấn lỗ Luschka hoặc Magendie có khả năng thuộc nhóm

UMNT cao gấp 5,1 lần các u hố sau khác (OR = 5,1; p<0,01).

UMNT có tỷ lệ xuất huyết trong u cao gấp 3,7 lần các loại u hố sau

khác (OR = 3,7; p<0,05).

Tỷ lệ hoại tử trong các UMNT cao hơn các nhóm u hố sau khác (OR =

2,1; p< 0,05).



78



79



CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1Đặc điểm mẫu nghiên cứu

4.1.1 Tuổi

Trong kết qủa nghiên cứu của chúng tôi, trẻ nhỏ nhất phát hiện u não

hố sau là 0,5 tuổi, lớn nhất là 15 tuổi. Tuổi trung bình mắc bệnh là 7,1 ± 3,4

tuổi. Nhóm tuổi nhiều nhất là từ 5 đến 10 tuổi (49,6%). Kết quả nghiên cứu

của chúng tôi phù hợp với kết qủa của Jurkiewicz và cộng sự (2010) nghiên

cứu trên 50 bệnh nhân u não hố sau có độ tuổi mắc bệnh từ 0,5 tuổi đến 16

tuổi, trung bình là 6,5 tuổi [63] . Theo Rodriguez và cộng sự, tuổi trung bình

các trường hợp u hố sau là 8,4 tuổi, tuổi nhỏ nhất là 1,1 tuổi, tuổi lớn nhất là

18,4 tuổi [64] . Kết quả này khác với kết quả nghiên cứu của Ahmed và cộng

sự. Có thể giải thích sự khác biệt là do mẫu nghiên cứu của Ahmed có mẫu

nhỏ hơn chỉ có 81 bệnh nhân [65] . Theo Dawna và cộng sự (2007), u hố sau

ở trẻ dưới 5 tuổi chiếm 50% trong đó nhóm trẻ dưới 3 tuổi chiếm 30%, nhóm

11 đến 15 tuổi chiếm 15% [17] .

Theo Rodriguez và cộng sự, tuổi trung bình của các trường hợp USBL

là 9,4 tuổi, nhỏ nhất là 2,6 tuổi, lớn nhất là 18,4 tuổi [64] . Trong nghiên cứu

của chúng tơi, các trường hợp USBL có tuổi nhỏ nhất là 2 tuổi, tuổi lớn nhất

là 15 tuổi, trung bình 7,3 tuổi. Bilginer và cộng sự (2011) hồi cứu 31 bệnh

nhân USBL thấy tuổi phát hiện bệnh là từ 3 đến 23 tuổi, trung bình là 12,16 ±

5,26 tuổi [23]. Tuổi trung bình các trường hợp USBL trong kết quả chúng tôi

thấp hơn của Bilginer do bệnh nhân chúng tôi được hạn chế đến 16 tuổi.

Donati và cộng sự nghiên cứu hồi cứu 20 trường hợp UNBT trên các

đối tượng trẻ em thấy tuổi trung bình phát hiện bệnh là 6,9 tuổi, nhỏ nhất là 2

tuổi, lớn nhất là 13 tuổi, trong đó có 50% các trường hợp nhỏ hơn 5 tuổi .

79



80



Theo Ahmad và cộng sự, trong số các bệnh nhi UNBT, tuổi trung bình là

11,08 tuổi, tuổi nhỏ nhất là 3 tuổi, tuổi lớn nhất là 16 tuổi. Nhóm tuổi từ 13

đến 16 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (50%), tiếp theo là nhóm tuổi từ 3 đến 7 tuổi

chiếm 20,9% và nhóm từ 8 đến 12 tuổi chiếm 29,1%. Theo Rodriguez và

cộng sự, tuổi trung bình của các trường hợp UNBT là 7,8 tuổi, nhỏ nhất là 3,6

tuổi, lớn nhất là 16 tuổi [64] .Trong nghiên cứu của chúng tơi, tuổi trung bình

của các trường hợp UNBT là 6,5 tuổi, nhỏ nhất là 2 tuổi, lớn nhất là 15 tuổi.

Kết quả của chúng tôi phù hợp với Koral nhưng thấp hơn so với kết quả của

Stephen do đối tượng nghiên cứu khác nhau [66],[67] .

Theo Rodriguez, tuổi trung bình của UMNT là 8,2 tuổi, nhỏ nhất là 1,1

tuổi, lớn nhất là 15,5 tuổi [64] . Theo Yuh và cộng sự, tuổi trung bình của

bệnh nhi bị UMNT là 6,2 tuổi [11] . Đối với các trường hợp UMNT trong

nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình là 4,7 tuổi, tuổi nhỏ nhất là 1 tuổi,

tuổi lớn nhất là 16 tuổi.

So sánh độ tuổi trung bình của 3 loại u hay gặp nhất là UNBT, USBL

và UMNT trong nghiên cứu, chúng tôi thấy sự khác biệt khơng có ý nghĩ

thống kê (p >0,05).

4.1.2 Giới

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ mắc u não hố sau ở trẻ

trai là 65% cao hơn so với trẻ gái. Tỷ lệ nam/nữ trong nhóm USBL là 1,5/1,

trong nhóm UNBT là 1,8/1 trong nhóm UMNT là 1,5/1.

Bilginer và cộng sự (2011) nghiên cứu hồi cứu 31 bệnh nhân USBL

nhận thấy tỷ lệ nam/nữ là 1,8/1 , tương đồng so với kết quả chúng tôi. Meyer

và cộng sự nghiên cứu hồi cứu 25 trường hợp UNBT có độ tuổi từ 1 đến 42

tuổi thấy tỷ lệ nam/nữ là 1,5/1. Donati và cộng sự hồi cứu 20 trường hợp

UNBT ở trẻ em từ 2 đến 13 tuổi nhận thấy tỷ lệ nam/nữ là 1/1 [-132]. Theo

80



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

4 Giá trị dự báo loại mô học u hố sau của các dấu hiệu CHT bằng phân tích hồi quy đa biến.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×