Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
5 Các phương pháp CĐHA trong chẩn đoán u não hố sau

5 Các phương pháp CĐHA trong chẩn đoán u não hố sau

Tải bản đầy đủ - 0trang

17



1.1.6. Cắt lớp vi tính (CLVT)

Là một trong các kỹ thuật CĐHA được chỉ định khi có nghi ngờ u não.

Cần được chụp ở thì trước tiêm và thì sau tiêm thuốc cản quang đường tĩnh

mạch [22],[23] .

CLVT có thể thực hiện các lát cắt ngang qua đại não và hố sau qua đó

thường dễ dàng đem lại chẩn đốn một khối u não dưới dạng một khối chốn

chơ, từ đó tiếp tục đánh giá kích thước và vị trí của u, mức độ phù não quanh

u và mức độ giãn não thất [22],[24] .

CLVT có khả năng phát hiện các tổn thương can xi hoá, các ổ xuất

huyết và bất thường ở xương liên quan đến khối u. Các bệnh nhân mang máy

tạo nhịp hoặc các dụng cụ cấy ghép bằng kim loại không thể chụp cộng

hưởng từ buộc phải sử dụng kỹ thuật chụp CLVT [25] .

1.1.7. Cộng hưởng từ (CHT)

1.5.4.1



CHT thường quy



CHT có nhiều ưu điểm hơn so với kỹ thuật chụp CLVT trong đánh giá

khối u não. Thứ nhất, CHT cho phép tạo ra các lát cắt trên 3 bình diện là

ngang, đứng ngang và đứng dọc. Ngồi ra, CHT còn cho hình ảnh với độ

phân giải cao hơn và chứa nhiều thơng tin chính xác hơn về khối u. Tuy nhiên

CHT cũng có một số hạn chế đó là: Thời gian chụp lâu, trẻ phải nằm bất động

kéo dài nên thường phải tiến hành gây mê tồn thân trước khi chụp [3]

CHT có thể đem lại các thơng tin như sau: Vị trí cũng như kích thước

khối u được đo theo 3 hướng trong khơng gian, mức độ lan tràn đặc biệt lan

vào thân não, tính chất đồng nhất hay khơng đồng nhất và phù quanh u [19] .

Phần lớn các khối u giảm tín hiệu so với chất xám bình thường trên ảnh

T1W và tăng tín hiệu trên ảnh T2W. Tín hiệu tăng trên ảnh T2W phản ánh mật

17



18



độ tế bào thấp và tỉ lệ nhân trong bào tương thấp. Tuy nhiên một số khối u

đồng hoặc giảm tín hiệu trên ảnh T2W chứng tỏ mật độ tế bào cao và tỉ lệ

nhân trong bào tương cao. Do mật độ tế bào và tỉ lệ nhân trong bào tương

thay đổi theo độ ác tính cuả khối u, một khối u có tín hiệu T2W đồng hoặc

giảm có thể tương ứng với u có độ ác cao, mặc dù đặc điểm hình ảnh chung

giống với u lành tính.

Phù não có thể xuất hiện với mức độ khác nhau nhưng thường không

tương ứng với mức độ ác tính của khối u.

U não có thể ngấm thuốc đối quang do hàng rào máu não bị tổn thương.

Ở người lớn, mức độ ngấm thuốc có thể tương ứng với độ ác của khối u não.

Tuy nhiên ở trẻ em có sự khác biệt. Một số u lành tính như USBL có thể

ngấm thuốc mạnh và đơi khi ngấm không đồng nhất.

Chuỗi xung Spin Echo: ảnh thu được bao gồm ảnh trọng T1, ảnh trọng

T2, ảnh trọng mật độ proton, ảnh trọng T1 sau khi tiêm thuốc đối quang từ.

Phần lớn các khối u não đề có thời gian T1 và T2 dài nên tương đối giảm tín

hiệu so với nhu mô não trên các ảnh T1W và tăng tín hiệu trên ảnh T2W. Trên

ảnh trọng proton, các khối u có tín hiệu trung gian. Tín hiệu khơng đồng nhất

trong khối u có thể là do các thành phần mỡ, xuất huyết, hoại tử và can xi hoá

bên trong khối u. Sử dụng thuốc đối quang từ tiêm tĩnh mạch giúp phân biệt

khối u với nhu mô làn xung quanh dễ dàng hơn [4]

Chuỗi xung Fast spin echo: Có thể thay thế chuỗi xung Spin echo do

thời gian chụp nhanh hơn nhưng mỡ vẫn sáng trên ảnh T2W.

Chuỗi xung inversion recovery (IR): tuỳ vào thời gian T1 mà ta có 2

loại xung:

Short inversion recovery (STIR): dùng để xố mỡ

18



19



Fluid attenuated inversion recovery (FLAIR): xố được tín hiệu của

dịch não tuỷ.

Chuỗi xung Gradient echo (GE): Thời gian chụp rất ngắn, thu được ảnh

T1W, T2*W và tỷ trọng proton. Tuy nhiên tín hiệu yếu hơn chuỗi xung Spin

echo [4] .

1.5.4.2



Cộng hưởng từ khuyếch tán



Hình ảnh CHT khuếch tán là một trong các kỹ thuật mới của CHT, hiện

đang được sử dụng phổ biến đối với các bệnh lý sọ não. Tương phản hình ảnh

ở CHT khuyếch tán chủ yếu do sự dịch chuyển các phân tử nước, được khảo

sát nhờ các chuỗi xung nhanh. Kỹ thuật được áp dụng lâm sàng vào khoảng

thập niên 1990, chủ yếu khảo sát bệnh lý thần kinh sọ não. CHT khuyếch tán

rất có giá trị trong chẩn đốn nhồi máu cấp tính, phân biệt nhồi máu và các

q trình bệnh lý khác. Ngồi ra CHT khuyếch tán còn cung cấp nhiều thơng

tin trong bệnh lý u, chấn thương, nhiễm trùng, bệnh lý myelin. CHT khuyếch

tán sử dụng chuỗi xung T2SE kết hợp hai xung GRE cùng độ lớn nhưng

ngược hướng. Điều này cho phép đo được chuyển động phân tử nước theo

hướng nào đó trong khoảng thời gian nhất định. Các phân tử nước di chuyển

giữa hai vị trí khảo sát sẽ khác nhau về cường độ do đó khơng bị triệt tiêu.

Các phân tử nước khơng di chuyển sẽ bị mất tín hiệu do triệt tiêu lẫn nhau.

Các phân tử nước di chuyển càng nhanh, các proton càng mất pha nhanh. Sự

mất pha do di chuyển liên quan với tốc độ khuếch tán của proton. Do đó,

cường độ tín hiệu của khối thể tích mơ chứa các proton di chuyển bằng cường

độ tín hiệu trên T2W đã bị suy giảm do tốc độ khuếch tán. Cường độ tín hiệu

của mơ có chứa proton di chuyển được tính theo cơng thức: SI=SIo X e(bxD). Trong đó, SIo là cường độ tín hiệu trên T2W, b là thừa số về độ nhạy

khuếch tán, D là hệ số khuếch tán. Theo định luật Fick, sự khuếch tán của các

19



20



phân tử là do độ chênh nồng độ. Tuy nhiên trên cộng hưởng từ, không thể

phân biệt giữa các chuyển động phân tử do độ chênh nồng độ hay độ chênh áp

lực, nhiệt và tương tác giữa các i-on. Cộng hưởng từ cũng khó hiệu chỉnh

khác biệt các phần thể tích cũng như chuyển động ngoằn ngoèo của các

proton. Do đó, trên CHT khuyếch tán thật sự chỉ có hệ số khuếch tán biểu

kiến (ADC) là được tính tốn. Cường độ tín hiệu của CHT khuyếch tán được

thể hiện bằng phương trình sau: SI = SIo X e-(bxADC). Các chuỗi xung khảo

sát CHT khuyếch tán là echo planar SET2W, single shot GRE-SE, single shot

fast GRE-SE. Các chuỗi xung này giảm thời gian khảo sát CHT khuyếch tán

rất nhiều, giúp CHT khuyếch tán thực hiện dễ dàng hơn [26],[27],[28],[29] .

Sự khuếch tán của các phân tử nước ở não là hiện tượng khơng đồng

hướng, nghĩa là có sự khác nhau giữa các hướng. Sự không đồng hướng này

do nhiều nguyên nhân như cấu trúc não, sự myelin hóa, hướng và dòng chảy

theo sợi trục, dòng chảy nội hoặc ngoại bào, dòng chảy mao mạch…Tính chất

khuếch tán khơng đẳng hướng của proton ở não có thể đánh giá được bằng

cách so sánh các hình ảnh khuếch tán ở ba hướng vng góc nhau. Các thành

phần ở ba hướng vng góc nhau này cho thông tin về độ lớn của hệ số

khuếch tán. Các thành phần không nằm trên các hướng vuông góc cho các

thơng tin về tương tác giữa các hướng. Để tạo hình ảnh chỉ biểu hiện ADC

cần kết hợp ít nhất ba hình ảnh. Cách đơn giản là kết hợp ba hình ở các hướng

vng góc nhau để tạo hình khuếch tán. Hình khuếch tán này bao gồm tính

chất hình T2W và khác biệt do ADC. Loại trừ tính chất T2W trên hình khuếch

tán bằng cách tách hình với b=0 giây/mm2, để có hình trung gian, hình này

dùng tạo ra bản đồ ADC. Các hình T2W, khuếch tán, ADC đều dùng để phân

tích hình ảnh trong CHT khuyếch tán [30],[31],[32] .



20



21



1.5.4.3



Cộng hưởng từ phổ



Là phương pháp cho phép đánh giá nồng độ các chất chuyển hố trong

mơ u một cách khơng xâm nhập. Trong nhiều q trình bệnh lý, sự thay đổi về

mặt hoá học xảy ra trước khi có sự thay đổi về hình thái, do đó cộng hưởng từ

phổ giúp chẩn đoán bệnh sớm hơn cộng hưởng từ thường quy [33] . Nói

chung các u thần kinh đệm thường tăng Cho và giảm NAA so với nhu mơ não

bình thường. Tỷ lệ Cho/Cre và Cho/NAA có mối tương quan dương tính với

độ ác của các khối u não [31],[32],[34],[35],[36],[37],[38]

3.6Hình ảnh CHT thường quy một số u não hố sau ở trẻ em

1.1.8. USBL

Vị trí: USBL thường nằm ở trong bán cầu tiểu não (chiếm khoảng 60%

các trường hợp). Một số trường hợp u nằm ở thuỳ nhộng [8] .

USBL vùng hố sau có 3 dạng chính: Dạng nang có nốt đặc ở thành

nang ngấm thuốc mạnh (chiếm khoảng 50%), dạng đặc (chiếm 10%) và dạng

nang đơn thuần (chiếm khoảng 40-50%) [8] .

Ảnh T1W: Nốt đặc ở thành nang giảm hoặc đồng tín hiệu so với nhu

mơ tiểu não. Dịch trong nang đồng hoặc tăng nhẹ tín hiệu so với dịch não tuỷ.

Sau khi tiêm thuốc đối quang từ, phần nốt đặc của u ngấm thuốc mạnh và

đống nhất (46%). Thành nang thường không ngấm thuốc. Khi thành nang

ngấm thuốc có thể đã có xâm lấn của tế bào u [8] .

Ảnh T2W: Nốt đặc của u tăng tín hiệu so với tiểu não. Dịch trong nang

đồng hoặc tăng nhẹ tín hiệu so với dịch não tuỷ [8] .

Can xi hố trong u khá ít gặp, chỉ chiếm khoảng 11-21% [39] . Phù

quanh u: chiếm khoảng 5-37% các trường hợp [39] .



21



22



Hình 1.5. Hình ảnh cộng hưởng từ USBL

(A) Hình ảnh T1W thì trước tiêm, (B) Hình ảnh T2W trên cùng bệnh nhân

(Nguồn: Imaging modalities in Brain Tumors)

Phần đặc của khối u không hạn chế khuyếch tán (đồng tín hiệu với chất

xám) [32]



22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

5 Các phương pháp CĐHA trong chẩn đoán u não hố sau

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×