Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHÂN LOẠI VIÊM DẠ DÀY MẠN TÍNH

PHÂN LOẠI VIÊM DẠ DÀY MẠN TÍNH

Tải bản đầy đủ - 0trang

28

+Viêm teo: niêm mạc mỏng và thay đổi màu có thể nhìn thấy các mạch

máu khơng bình thường.

+Viêm phì đại: các nếp niêm mạc to, phì đại, khơng xẹp khi bơm hơi

căng [53].

7.2. Phân loại của Cheli và Dodero(1956)

Tác giả đã phân loại viêm mạn dạ dày thành: viêm nông, viêm kẽ, viêm

tiền teo và viêm teo dựa vào các thay đổi phần tuyến và sự thâm nhiễm mô

đệm niêm mạc [53] .

7.3. Phân loại của Whitehead và cộng sự(1985)

Đây là phân loại được các nhà nghiên cứu áp dụng nhiều nhất. Phân

loại này dựa trên 4 yếu tố cơ bản:

+ Các typ niêm mạc dạ dày, xác định rõ tổn thương ở hang vị hay thân vị.

+ Các mức độ: tổn thương giới hạn ở phần nông của niêm mạc dạ dày

hay tổn thương sâu đi kèm với mất các tuyến.

+ Mức độ hoạt động dựa vào sự thâm nhập bạch cầu đa nhân trong mô

đệm hay trong biểu mô.

+ Dị sản (dị sản ruột hay dị sản giả môn vị).

Những tổn thương cơ bản:

 Biểu mô bề mặt: tế bào biểu mô bề mặt thường bị tổn thương nhẹ.

Khi có sự phá hủy quá mức tế bào biểu mơ cùng với sự tái tạo thái q sẽ

hình thành những nhú lồi giữa các khe tuyến và trong một số trường hợp có

thể có hình thành polyp tăng sản.

 Biểu mơ phủ có thể bong từng chỗ, mở đầu cho sự hoại tử và những

tổn thương ăn mòn và trợt sước.

 Các khe tuyến: tế bào khe tuyến tăng sinh để bù đắp những tế bào

biểu mơ bị thối hóa và bong ra. Các tế bào ít nhiều kiềm tính, kém chế tiết, tế



29

bào từ trụ có thể trở nên vuông. Khe tuyến không thẳng, bị kéo dài khúc khủy

dạng xoắn nút chai. Nhân tế bào không đều, kiềm tính hơn, số lượng tế bào

nhân chia tăng lên, tế bào tuyến có thể bị dị sản thành tế bào ruột, tế bào mâm

khía và những tế bào hình chén. Hiện tượng dị sản này có thể kèm theo sự có

mặt của tế bào Paneth và tạo nên ở bề mặt những nhung mao thực sự.

 Tuyến: Tổn thương cơ bản ở vùng thân vị và hang vị không giống

nhau.

 Niêm mạc thân vị: bình thường, chiều cao tuyến thân vị bằng 4/5

chiều cao niêm mạc. Trong viêm teo, các tuyến thân vị số lượng tế bào thành

và tế bào chính giảm, đặc biệt với tế bào thành là những tế bào kém bền vững.

Thay thế tế bào thành và tế bào chính là những tế bào kém biệt hóa hoặc tế

bào vng, thấp dẹt có thể hình thành những mảng nhỏ. Ở thân vị có thể có dị

sản hang vị và như vậy vùng hang vị được mở rộng hơn.

 Niêm mạc hang vị: số lượng tuyến hang vị giảm, tế bào tuyến được

thay thế bằng những tế bào kém biệt hóa hoặc bằng dị sản ruột. Dị sản ruột

vùng hang vị hay gặp hơn so với thân vị.

 Lớp đệm: lớp đệm tăng thể tích rõ do sự xâm nhập các thành phần tế

bào. Trong đó chủ yếu là lympho – tương bào, phấn bố lan tỏa hoặc đôi khi

tập trung thành đám hay nang cùng với sự tăng lên của các nang lympho.

Sự có mặt hay khơng của bạch cầu đa nhân sẽ cho phép đánh giá tình

trạng hoạt động của VDD mạn. Ở thể viêm hoạt động, số lượng bạch cầu đa

nhân tăng, có thể khu trú đơn thuần trong lớp đệm, giữa các khe tuyến hoặc cả

lớp biểu mơ hay lan rộng tồn bộ chiều cao của niêm mạc. Ở giai đoạn cuối

của viêm teo, sự xâm nhập bạch cầu đa nhân có xu hướng giảm đi và có biểu

hiện xơ hóa nhẹ, đặc biệt xuất hiện khá nhiều sợi cơ trơn bắt nguồn từ cơ

niêm.

Các typ mô bệnh học (teo nhẹ, teo vừa, teo nặng)



30

- Viêm mạn nông: tế bào biểu mô bề mặt có thể có những thay đổi loạn

dưỡng hoặc có thế bị bong từng chỗ. Đặc biệt, các khe tuyến bị kéo dài,

chứng tỏ có sự phá hủy và sửa chữa tế bào. Ở giai đoạn này, các tuyến không

thay đổi về cấu trúc và số lượng. Tế bào viêm xâm nhập ở 1/3 trên của niêm

mạc không vượt quá vùng khe tuyến, gồm tế bào lympho, tương bào. Hình

ảnh trên có thể thối triển hoặc trong một số ít trường hợp đây là giai đoạn mở

đầu của viêm mạn teo.

- Viêm mạn teo nhẹ: hình ảnh gần giống viêm mạn nơng, có tổn

thương tế bào tuyến, có giảm thể tích tuyến nhưng ít rõ ràng. Tế bào chính, tế

bào thành có thể bị hốc hóa, hoại tử hoặc bị tiêu. Mô đệm xâm nhập lympho,

tương bào. Tổn thương viêm teo nhẹ còn được gọi là viêm kẽ và khi phối hợp

với xâm nhập viêm dưới dạng những nang lympho lại có tên là viêm dạ dày

thể nang.

- Viêm mạn teo vừa: bao gồm hình ảnh trung gian giữa viêm teo nhẹ

và viêm teo nặng. Niêm mạc trở nên mỏng do teo tuyến, số lượng tuyến giảm.

Mô liên kết tăng sinh ở nơi tuyến bị teo làm cho khoảng cách các tuyến trở

nên xa nhau xâm nhập nhiều lympho, tương bào, mô bào.

- Viêm mạn teo nặng: thể này được xác định do giảm hoặc mất hẳn tổ

chức tuyến. Mô đệm phát triển mạnh, các tuyến còn lại phân bố theo nhóm.

Có nơi tế bào tuyến biệt hóa kém. Chiều dày niêm mạc giảm rõ. Trong các thể

viêm mạn teo đều có xâm nhập tế bào viêm tồn bộ chiều dày niêm mạc và

đều có BCĐNTT. Bạch cầu đa nhân có thể phân tán trong mô đệm, xâm nhập

vào giữa các tế bào biểu mô, vào trong các khe và trong lòng tuyến. Mơ đệm

phù nề và sung huyết [53].



31

7.4. Phân loại viêm dạ dày theo “Sydney System”

Hội nghị tiêu hóa thế giới tổ chức tại Sydney năm 1990 đã đưa ra bảng

phân loại viêm dạ dày, đến tháng 9/1994 có sửa đổi và bổ xung, đến 2000 cải

tiến với mục đích thống nhất các phân loại viêm dạ dày đang sử dụng ở nhiều

quốc gia. Hệ thống này có 2 phần gồm hệ thống phân loại dựa trên nội soi và

hệ thống phân loại MBH, trong đó hệ thống phân loại MBH được chú trọng

hơn.

Nhìn chung, khơng có mối tương quan giữa hình ảnh nội soi với giai

đoạn mơ bệnh học. Hình ảnh nội soi có vẻ phì đại hoặc biểu hiện bằng những

nếp nhăn lớn nhưng hình ảnh mơ học lại là viêm dạ dày teo. Ngược lại hình

ảnh nội soi niêm mạc có vẻ teo với sự mất nếp nhăn nhưng cấu trúc mơ học

lại bình thường. Tương tự, khơng có mối tương quan giữa mức độ teo với

chiều cao của niêm mạc về mặt mô học.

- Phần nội soi:

Theo phân loại Sydney khi nội soi cần xác định vị trí tổn thương (hang vị,

thân vị, tồn bộ dạ dày), đánh giá các tổn thương cơ bản với các mức độ (nhẹ,

vừa, nặng), xác định các dạng tổn thương dựa trên các tổn thương qua sát được

trong khi soi trên cơ sở đó người ta phân biệt 7 typ viêm dạ dày sau [2]:

 Viêm dạ dày sung huyết: niêm mạc dạ dày mất tính nhẵn bóng, hơi

lần sần, có từng mảng sung huyết, dễ chảy máu khi chạm đèn soi.

 Viêm dạ dày trợt phẳng: Trên niêm mạc dạ dày có nhiều trợt nơng

trên có giả mạc bám, hoặc có các trợt nơng chạy dài trên các nếp niêm mạc.

 Viêm dạ dày trợt lồi: khi có các nếp nổi gồ trên bề mặt niêm mạc dạ

dày, ở đỉnh hơi lõm xuống hoặc có các nếp niêm mạc phù nề phì đại trên có

trợt nơng.



32

 Viêm dạ dày teo: nhìn thấy các nếp niêm mạc mỏng và các mạch

máu khi bơm hơi căng. Có thể nhìn thấy hình ảnh dị sản ruột (DSR) dưới

dạng những đốm trắng.

 Viêm dạ dày xuất huyết: Có những đốm xuất huyết hoặc những đám

bầm tím do chảy máu trong niêm mạc, hoặc có thể chảy máu vào lòng dạ dày.

 Viêm dạ dày phì đại: niêm mạc mất tính nhẵn bóng và các nếp niêm

mạc nổi to, không xẹp khi bơm căng hơi (nếp niêm mạc dày > 5mm) trên có

các đốm giả mạc bám.

 Viêm dạ dày trào ngược dịch mật: niêm mạc phù nề sung huyết các

nếp niêm mạc phù nề phì đại và có dịch mật trong dạ dày.

- Phần mơ bệnh học như mơ tả trong hình dưới đây:



Hình 7.1. Phân loại mơ bệnh học theo Sydney [54].

Thông thường, cách đánh giá mô bệnh học vẫn dựa chủ yếu vào phân

loại của Whitehead. Đây là phân loại hình thái học được sử dụng phổ biến

nhất bao gồm hai loại chính[54], [55]:



33

 Viêm mạn nơng: hình ảnh thâm nhiễm nhiều các bào tương đơn nhân

và bạch cầu mono chủ yếu ở phần ba trên vùng khe của niêm mạc dạ dày, các

tuyến dạ dày phía dưới bình thường.

 Viêm mạn tính teo: Là thương tổn có sự phối hợp biểu mô tuyến và

mô đệm. Tế bào viêm xâm nhập tồn bộ chiều dày niêm mạc làm giảm thể

tích và mật độ tuyến. Về mức độ viêm teo, dựa vào mức độ giảm của các

tuyến mà chia các loại viêm teo nhẹ, vừa, nặng:

+ Viêm teo nhẹ: Có tổn thương tế bào tuyến, giảm nhẹ thể tích tuyến.

+ Viêm teo vừa: Hình ảnh trung gian giữa viêm teo nhẹ và viêm teo

nặng. Niêm mạc trở nên mỏng hơn do teo tuyến, do giảm số lượng tuyến,

khoảng cách giữa các tuyến trở nên xa nhau, có dị sản ruột xuất hiện.

+ Viêm teo nặng: số lượng tuyến giảm nhiều hoặc mất hẳn, các tuyến

còn lại phân bố theo nhóm, có nơi tế bào tuyến kém biệt hóa, chiều dày niêm

mạc giảm rõ. Dị sản ruột thường gặp và lan rộng.



Hình 7.2. Hình ảnh viêm dạ dày mạn teo với các mức độ, HEx100 [32], [57].

A: Viêm dạ dày teo nhẹ, B: Viêm dạ dày teo vừa, C: viêm dạ dày teo nặng

 Mức độ viêm mạn: xác định mức độ viêm mạn dựa vào sự xâm nhập

tế bào đơn nhân (lympho, tương bào, mơ bào).



34

+ Viêm mạn tính nhẹ: Số lượng bạch cầu đơn nhân rải rác trong mô đệm.

+ Viêm mạn tính vừa: Số lượng bạch cầu đơn nhân tương đối nhiều

phân bố rộng, quan sát thấy ở trên các vi trường.

+ Viêm mạn tính nặng: rất nhiều lympho, mô bào, tương bào, phân bố

đều hoặc tập trung thành đám trong mơ đệm.



Hình ảnh 7.3. Hình ảnh viêm mạn tính các mức độ [58], [59], [60].

A: Viêm mạn tính nhẹ, HEx200.

B: Viêm mạn tính trung bình, HEx200.

C: Viêm mạn tính nặng, HEx100.

 Mức độ viêm hoạt động: Xác định mức độ viêm hoạt động dựa vào

sự có mặt với các mức độ khác nhau của BCĐNTT trong mô đệm, trong các

khe và trong lớp biểu mô phủ bề mặt, biểu mô tuyến.

+ Hoạt động nhẹ: Khi BCĐNTT chỉ rải rác ở 1/3 trên của khe và biểu

mô phủ.

+ Hoạt động vừa: Khi BCĐNTT với mức độ vừa phải, phân bố ở mô

đệm và ở 1/3 đến 2/3 độ sâu của khe tuyến.



35

+ Hoạt động nặng: Khi BCĐNTT với số lượng nhiều, phân bố ở mô

đệm, các khe tuyến, xâm nhập vào giữa các tế bào biểu mô vách tuyến hoặc

tập trung thành các đám, ổ thâm nhiễm >2/3 độ sâu của khe tuyến.

+ Khơng hoạt động: khi khơng có xâm nhập BCĐNTT.



B



A



CC



Hình 7.4. Viêm dạ dày mạn tính với các mức độ hoạt động, HEx200[32].

Hình A. Hoạt động nhẹ, hình B. Hoạt động trung bình, hình C. Hoạt động

mạnh .



36

 Dị sản ruột (DSR): là sự biến đổi một phần hay tồn bộ cấu trúc của

biểu mơ niêm mạc dạ dày sang biểu mô niêm mạc ruột.

+ DSR typ I (DSR hoàn toàn): Niêm mạc dạ dày biến đổi hoàn toàn

sang niêm mạc ruột với các tế bào hấp thu có riềm bàn chải và các tế bào hình

đài tiết sialomucin, các khe tuyến tương đối thẳng cấu trúc đều.

+ DSR typ II (DSR khơng hồn tồn): Niêm mạc vùng DSR vẫn còn

giữ một phần tính chất của niêm mạc dạ dày gồm các tế hình đài tiết

sialomucin và các tế bào hình trụ (tế bào trung gian) tiết mucin trung tính và

mucin acid, có ít hoặc khơng có tế bào hấp thu. Cấu trúc của tuyến bị biến đổi

với mức độ khác nhau.

+ DSR typ III: gần giống DSR typ II nhưng sulfomucin nhiều hơn, có

tế bào trung gian tiết sulfomucin và các tế bào hình đài tiết sialomucin hoặc

sulfomucin. Cả 3 typ DSR này đều có thể phối hợp trên cùng một bệnh nhân.



Hình 7.5. Dị sản ruột được phân biệt bởi mucin: sialomucins (màu xanh

sáng) (loại I ),loại II, III thể hiện sialomucins (màu xanh sáng) và

sulfomucins (đen) [54].

 Loạn sản: Loạn sản là hình ảnh quá sản tế bào, thay đổi trật tự cấu

trúc mô, biến đổi hình dạng nhân, nguyên sinh chất, thay đổi tỷ lệ nhân trên chất

nguyên sinh. Theo tổ chức Y tế thế giới loạn sản được chia làm ba mức độ:



37

+ Loạn sản nhẹ: trên mô học thấy thay đổi ít, tế bào biểu mơ phủ và

tuyến hình trụ tăng ưa kiềm nhưng nhân tế bào còn tương đối đồng dạng, thon

dài và sắp xếp ở phía màng đáy. Tỷ lệ nhân trên chất nguyên sinh tăng nhẹ.

+ Loạn sản vừa: Biểu hiện bằng tính mất biệt hóa hồn tồn của tế bào

biểu mô. Nhân tế bào lớn trở lên tròn hơn, tỷ lệ nhân trên chất nguyên sinh

tăng rõ, tăng chỉ số nhân chia. Cấu trúc của tuyến không còn bình thường.

+ Loạn sản nặng: Có những biến đổi khơng điển hình về tế bào và cấu

trúc của tuyến. Đa hình thái tế bào và nhân, tế bào sắp xếp giả hàng hoặc

nhiều hàng ở các tuyến khơng bình thường. Xuất hiện nhiều nhân chia và có

nhân chia khơng điển hình.



Hình 7.6. Loạn sản rt. HE x 400 [60].

A: Loạn sản nhẹ, B: Loạn sản nặng

 Về mật độ vi khuẩn

Bảng 7.1. Mật độ vi khuẩn HP trong viêm dạ dày[53].

Độ



Kí hiệu



0



HP âm tính



1



HP (+)



Trên tồn bộ vi trường

Khơng tìm thấy HP

Rải rác vi khuẩn

Các nhóm vi khuẩn khơng liên tục, khoảng cách xa



2



HP(++)



3



HP(+++)



gần khác nhau

Các nhóm vi khuẩn liên tục trên bề mặt



38



Để chẩn đoán VDD mạn theo phân loại Sydney cải tiến cần ít nhất 3

mẫu sinh thiết các vị trí:

-1 mẫu hang vị cách mơn vị từ 2-3 cm.

-1 mẫu thân vị.

-1 mẫu ở góc bờ cong nhỏ [53].

7.5. Phân loại OLGA (Operative Link for Gastritis Assessment)

Mặc dù hệ thống phân loại Sydney và phiên bản Houston 1996 là hoàn

toàn phù hợp, nhưng thuật ngữ chung cho VDD vẫn còn bất đồng. Nhiều nhà

thực hành khơng nhận thức được nguy cơ ung thư gắn liền với “viêm teo dạ

dày ở nhiều điểm”, “viêm chủ yếu ở thân vị dạ dày” hoặc “viêm mạn tính

nặng ở hang vị dạ dày nhiễm Helicobacter pylori” và ngay các chuyên gia

được nắm bắt được thông tin cũng thường bối rối với các ngôn ngữ, do vậy,

việc xác định bệnh một cách chính xác khi nội soi cũng trở thành khó khăn.

Dựa trên các hiểu biết về tiến triển tự nhiên của viêm dạ dày và nguy

cơ ung thư dạ dày, với các kinh nghiệm thu nhận khắp thế giới qua 15 năm áp

dụng hệ thống Sydney, một số các nhà khoa học quốc tế vừa đề nghị một hệ

thống có tên gọi OLGA xác định các giai đoạn của VDD. Hệ thống này xếp

đặt các tổn thương niêm mạc dạ dày theo bậc thang tăng dần nguy cơ mắc ung

thư: từ mức độ thấp nhất là giai đoạn 0 (giai đoạn OLGA 0) và cao nhất là

giai đoạn IV (giai đoạn OLGA IV). Phù hợp với chỉ dẫn của hệ thống Sydney,

hệ thống OLGA cũng bao gồm các thông tin về nguyên nhân của bệnh viêm

nhiễm (do HP, do tự miễn…).

Sử dụng hệ thống OLGA để xác định giai đoạn tiến triển của VDD:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHÂN LOẠI VIÊM DẠ DÀY MẠN TÍNH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×