Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NHỮNG THAY ĐỔI VỀ GIẢI PHẪU BỆNH

NHỮNG THAY ĐỔI VỀ GIẢI PHẪU BỆNH

Tải bản đầy đủ - 0trang

25

này có nhiều khả năng xuất hiện viêm dạ dày teo. Tổn thương mạn tính của dạ

dày do nhiễm HP được đặc trưng bởi sự tích lũy các loại bạch cầu ở vùng đáy

của niêm mạc. Các sản phẩm do HP tiết ra có thể tiêu diệt tế bào gốc, ức chế

q trình đổi mới của tế bào biểu mơ tuyến, dẫn đến hiện tượng niêm mạc bị

thiếu hụt (teo) tuyến.

- Dị sản ruột: Dị sản ruột được định nghĩa là một sự thay đổi có khả

năng hồi phục, trong đó, một loại tế bào của biểu mơ dạ dày được thay thế bởi

một loại tế bào có khả năng chịu được mơi trường bất lợi. Do đó, dị sản ruột

được cho là một sự thay đổi từ một kiểu hình biểu mơ dạ dày chuyển thành

kiểu hình biểu mơ ruột non hoặc ruột già. Dị sản ruột luôn gắn liền với một số

kích thích bất thường về sự phát triển niêm mạc dạ dày, chẳng hạn, dị sản ruột

thường xuất hiện trong khoảng thời gian niêm mạc tái tạo sau tổn thương.

Đồng thời, chính sự tồn tại lâu dài của dị sản ruột là bằng chứng cho thấy có

sự thay đổi ở tế bào gốc, tức là có đột biến soma.



Hình 6.2. Hình ảnh dị sản ruột trên nhuộm HE x 400 [50].

Dị sản ruột thường thấy ở viêm dạ dày mạn tính do nhiều nguyên nhân

gây ra. Mức độ của nó thường thường tỷ lệ thuận với mức viêm teo của dạ



26

dày. Dị sản ruột thường xuất hiện hơn trong trường hợp HP dương tính và có

mối tương quan đáng kể với độ tuổi người bệnh.

Trong nhiều trường hợp, dị sản ruột thường gặp ở hang vị và thường

gắn liền với những vết loét dạ dày hơn so với lt mơn vị - tá tràng. Ngồi ra

dị sản ruột còn liên quan đáng kể với trào ngược mật và viêm dạ dày tự miễn

[50]. Dị sản ruột được coi là phản ứng tự bảo vệ chống lại nhiễm trùng HP.

- Loạn sản: khi tổn thương viêm kéo dài, biểu mơ niêm mạc có hiện

tượng tái tạo lại và có thể xuất hiện những thay đổi về mặt tế bào như kích

thước, hình dạng và cách sắp xếp chúng.



Hình 6.3. Loạn sản, HE x 200 [51].

- Một biến chứng của viêm teo dạ dày do HP là sự phát triển của ung

thư dạ dày, đặc biệt là ở viêm dạ dày teo nặng và dị sản ruột. Như vậy, tình

trạng viêm mạn tính của niêm mạc dạ dày tiến triển đến viêm dạ dày mãn tính

teo, dị sản ruột, loạn sản, và cuối cùng có thể dẫn đến ung thư dạ dày. Mặc dù

mối liên quan giữa nhiễm HP và viêm dạ dày là khá giống nhau ở người bệnh

nhưng chỉ có một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân có biến chuyển thành bệnh ung thư dạ

dày. Chính q trình viêm mạn kéo dài có thể tích lũy các đột biến trong gen



27

của tế bào biểu mô dạ dày, dẫn đến tăng nguy cơ biến đổi ác tính và tiến triển

thành ung thư biểu mô dạ dày [33], [52].

7. PHÂN LOẠI VIÊM DẠ DÀY MẠN TÍNH

Chẩn đốn viêm dạ dày mạn tính chính xác nhất là dựa vào kết quả mơ

bệnh học. Có rất nhiều phân loại dạ dày khác nhau đã được đề xuất và ứng

dụng từ trước đến nay như phân loại theo Kimura, Whitehead, Sydney

System, OLGA... Mỗi cách phân loại có những ưu nhược điểm riêng, điều

này đã gây khơng ít khó khăn trong nghiên cứu, trong trao đổi thông tin giữa

những người làm nội soi, những nhà bệnh học tiêu hóa với nhau.

Hệ thống đánh giá viêm teo niêm mạc dạ dày trên nội soi theo Kimura

ra đời từ năm 1969. Tuy nhiên giá trị lâm sàng của hệ thống này chỉ mới được

khẳng định một cách rõ rệt nhất trong vòng một thập niên qua với những kết

quả nghiên cứu cho thấy có tương quan chặt giữa biểu hiện viêm teo niêm

mạc trên nội soi đánh giá theo phân loại Kimura và VDD mạn tính được đánh

giá theo hệ thống Sydney cải tiến cũng như trong đánh giá nguy cơ ung thư dạ

dày sau 5 – 10 năm [53].

Hiện nay, các trung tâm nội soi và giải phẫu bệnh Tiêu hóa ở Việt Nam

đều đang đánh giá kết quả dựa theo hướng dẫn của hệ thống phân loại Sydney

năm 1990 và hoàn thiện năm 1994, và cải tiến năm 2000 đã được áp dụng rộng

7.1. Phân loại của Schindler (1947)

Tác giả phân loại VDDM thành 3 nhóm chính dựa vào các thay đổi

viêm mơ đệm niêm mạc:

+Viêm nông: niêm mạc dạ dày bị phù nề kèm các ổ sung huyết và

những trợt nông, nhỏ dạng áp tơ (aphtoid).



28

+Viêm teo: niêm mạc mỏng và thay đổi màu có thể nhìn thấy các mạch

máu khơng bình thường.

+Viêm phì đại: các nếp niêm mạc to, phì đại, khơng xẹp khi bơm hơi

căng [53].

7.2. Phân loại của Cheli và Dodero(1956)

Tác giả đã phân loại viêm mạn dạ dày thành: viêm nông, viêm kẽ, viêm

tiền teo và viêm teo dựa vào các thay đổi phần tuyến và sự thâm nhiễm mô

đệm niêm mạc [53] .

7.3. Phân loại của Whitehead và cộng sự(1985)

Đây là phân loại được các nhà nghiên cứu áp dụng nhiều nhất. Phân

loại này dựa trên 4 yếu tố cơ bản:

+ Các typ niêm mạc dạ dày, xác định rõ tổn thương ở hang vị hay thân vị.

+ Các mức độ: tổn thương giới hạn ở phần nông của niêm mạc dạ dày

hay tổn thương sâu đi kèm với mất các tuyến.

+ Mức độ hoạt động dựa vào sự thâm nhập bạch cầu đa nhân trong mô

đệm hay trong biểu mô.

+ Dị sản (dị sản ruột hay dị sản giả môn vị).

Những tổn thương cơ bản:

 Biểu mô bề mặt: tế bào biểu mô bề mặt thường bị tổn thương nhẹ.

Khi có sự phá hủy quá mức tế bào biểu mô cùng với sự tái tạo thái quá sẽ

hình thành những nhú lồi giữa các khe tuyến và trong một số trường hợp có

thể có hình thành polyp tăng sản.

 Biểu mơ phủ có thể bong từng chỗ, mở đầu cho sự hoại tử và những

tổn thương ăn mòn và trợt sước.

 Các khe tuyến: tế bào khe tuyến tăng sinh để bù đắp những tế bào

biểu mô bị thối hóa và bong ra. Các tế bào ít nhiều kiềm tính, kém chế tiết, tế



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHỮNG THAY ĐỔI VỀ GIẢI PHẪU BỆNH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×