Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH

Tải bản đầy đủ - 0trang

12

- Bệnh hệ thống: Hay gặp VDD mạn trong viêm đa khớp dạng thấp,

luput ban đỏ, xơ cứng bì, hội chứng Sjogren, viêm dạ dày dạng herpes.

-



Trào ngược tá tràng - dạ dày, nhất là sau cắt đoạn dạ dày. Dịch trào



ngược chứa các chất của tá tràng như dịch tụy các acid mật, muối mật và

lysolecithin. Nhiều tác giả nghiên cứu đã chứng minh tính chất gây viêm của

chất này đối với niêm mạc dạ dày

- Các yếu tố miễn dịch - tế bào.

- Các yếu tố ngoại lai: Nghiện rượu, thuốc lá, các chất cay, nóng, dùng

NSAID, các thuốc hại dạ dày.

-



Nhiễm khuẩn:



 Các nhiễm khuẩn đường hô hấp trên như: viêm xoang, viêm

amidan… có thể thể dẫn đến viêm dạ dày mạn tính.





Helicobacter Pylori: Việc phát hiện HP như một tác nhân gây nhiễm



khuẩn khu trú trong niêm mạc dạ dày đã cho thấy vi khuẩn này có khả năng

gây ra phản ứng tế bào viêm điển hình của dạ dày. HP đã được khẳng định là

yếu tố ngun nhân chính gây viêm dạ dày mạn vì nó xuất hiện ở gần 80%

các trường hợp có phản ứng viêm mạn của niêm mạc dạ dày [8], [20].

Bệnh nhân viêm dạ dày mạn tính có thể do một hoặc nhiều nguyên

nhân, yếu tố nguy cơ phối hợp tác động.

4.2. Vi khuẩn Helicobacter pylori

Helicobacter pylori là nguyên nhân hàng đầu của viêm dạ dày mạn

tính, bệnh loét dạ dày tá tràng, ung thư dạ dày và u lympho. Lần đầu tiên được

mô tả vào năm 1983, HP là một xoắn khuẩn Gram âm, khơng nha bào, kích

thước 3,5 – 0,5 micromet. Dưới kính hiển vi điện tử nó có 3–5 roi ở đầu.

Bằng phương pháp nhuộm Giemsa, WarthinStarry, người ta phát hiện thấy vi



13

khuẩn nằm trong lớp nhầy, trên màng đỉnh của tế bào biểu mô niêm mạc dạ

dày.

HP thường bám trên bề mặt hoặc chui sâu vào khe giữa các tế bào biểu

mô dạ dày, song không bao giờ đi sâu vào trong các tế bào này của dạ dày. Có

khi thấy HP trong lòng các tuyến nơng trên bề mặt niêm mạc. Trong điều kiện

không thuận lợi hoặc sau khi điều trị kháng sinh, vi khuẩn có thể chuyển

thành dạng cầu. Ở dạng này vi khuẩn tồn tại lâu hơn. Trong trường hợp nhiễm

HP xuất hiện từ thời thơ ấu và nếu khơng được điều trị, nó có thể tồn tại suốt

cuộc đời người bệnh. Triệu chứng lâm sàng và mức độ trầm trọng của bệnh

phụ thuộc vào số lượng HP tồn tại, sự nhạy cảm của chủ thể và yếu tố mơi

trường [21], [22].



Hình 4.1. Vi khuẩn HP [23].

- Đường lây truyền: phân – miệng, miệng – miệng, miệng – dạ dày.

- Triệu chứng của nhiễm HP: nhiễm HP có thể khơng có triệu chứng gì

hoặc có thể gặp 1 vài triệu chứng sau nhưng khơng đặc hiệu:

 Đau rát thượng vị, đau khơng có chu kì và khơng có cơn đau dữ dội

 Chán ăn, đầy bụng, khó tiêu

 Ợ chua, ợ hơi, buồn nơn.

4.2.1. Đặc điêm hóa sinh



14

- Helicobacter pylori sản xuất nhiều enzyme, quan trọng nhất là urease

– là protein có tính kháng nguyên cao nhất của vi khuẩn đối với người bệnh.

Số lượng urease do vi khuẩn sản xuất ra rất lớn, lớn hơn rất nhiều so với bất

kì loại vi khuẩn nào, cho nên ở dạ dày, sự có mặt của urease biểu hiện sự có

mặt của vi khuẩn HP. Urease thủy phân ure có trong dạ dày thành ammoniac

và CO2.

 Ammoniac là chất kiềm do urease của HP thủy phân ure tạo nên.

Như vậy, HP đã tạo ra một lớp đệm có kiềm cao bao quanh nó nên có thể giúp

vi khuẩn sống trong môi trường acid của dạ dày, qua đó, vi khuẩn gây độc phá

hủy các tế bào niêm mạc dạ dày.

 Enzyme khác: enzyme đặc biệt tiêu hủy protein là một protein tên

gọi là chất gây độc tế bào bằng hốc hóa (vacuolating cytotoxin, viết tắt VaC).

Enzym này gây ra các không bào trong tế bào biểu mô niêm mạc. Gen liên

quan đến protein này gọi là vacA. Ngồi ra còn các enzyme khác Catalase

oxydase, phophatase kiềm, lipase, protease, các esterase.

- Đặc điểm kháng nguyên và kháng thể: HP có kháng ngun lơng,

kháng ngun thân (kháng ngun O) bản chất là lipopolysaccharid vững bền

với nhiệt độ. Kháng nguyên CagA – là 1 protein có liên quan chặt chẽ với

cytoxin và được mã hóa bởi gen cagA. Kháng nguyên này liên quan đến nguy

cơ phát triển thành ung thư dạ dày và loét dạ dày tá tràng. Ngoài ra, vi khuẩn

còn có một số kháng ngun đóng vai trò quan trọng trong mối liên quan đến

khả năng gây bệnh của chúng, đó là các enzyme urease, catalase,

superoxidase, histamatase và kháng nguyên bám dính như BabA và SabA,

OipA. Ở bệnh nhân viêm dạ dày mạn hoạt động có nhiễm HP, người ta thấy

nồng độ cao các kháng thể IgA, IgM, IgG [21], [24], [25].

4.2.2. Chẩn đốn nhiễm Helicobacter pylori



15

Có 2 phương pháp: phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp.

Các phương pháp trực tiếp:

- Nội soi:

 Dựa vào đặc điểm sinh hóa học của urease: bơm vào dạ dày khi nội

soi một hỗn hợp ure và đỏ phenol. Bệnh nhân được coi là HP dương tính khi

thấy một vùng nào đó của niêm mạc dạ dày chuyển thành màu đỏ năm phút

sau khi bơm hơi.





Lanbenz và cộng sự đã đưa ra 5 tiêu chuẩn nội soi để chẩn đốn viêm



dạ dày có nhiễm HP: các vết trượt mạn vùng hang vị, hình ảnh nốt một vùng

hang vị, ban đỏ rõ rệt vùng hang vị, các tổn thương phức hợp vùng hang vị:

những nốt ban đỏ với những vùng nhạt hơn, những vùng viêm dạ dày rõ rệt

hơn và ban đỏ lan tỏa hoặc lốm đốm vùng đáy [26], [27].

- Xét nghiệm urease: Nhằm phát hiện men urease của HP.

Xét nghiệm dương tính khi có sự hiện diện men urease làm giải phóng

NH3, làm tăng pH và biểu hiện bằng việc đổi màu chỉ thị từ vàng sang đỏ tía.

Đây là một xét nghiệm nhanh chóng, đơn giản, rẻ tiền và hữu hiệu để chẩn

đoán HP. Độ nhạy và độ đặc hiệu > 95% [28], [29].

- Nuôi cấy: Nuôi cấy là xét nghiệm đặc hiệu nhất, là tiêu chuẩn vàng

chẩn đoán nhiễm HP. Trong trường hợp điều trị thất bại, ni cấy làm kháng

sinh đồ là xét nghiệm có ích và gần như duy nhất để đánh giá tình trạng kháng

thuốc của HP. Mặc dù độ đặc hiệu cao, đạt gần 100% nhưng độ nhạy thì rất

khác nhau do ảnh hưởng của các yếu tố như mật độ vi khuẩn, điều kiện tiến

hành nuôi cấy, môi trường nuôi cấy… [8], [29], [30].

- Chẩn đoán MBH: Đây là xét nghiệm được sử dụng rộng rãi để chẩn

đoán nhiễm HP, với các phương pháp nhuộm HE, Giemsa, Warthin-Starry...



16

Để tăng độ nhạy, có thể dùng phương pháp nhuộm hố mơ miễn dịch với

kháng thể kháng HP. Độ nhạy và độ đặc hiệu của thử nghiệm này là > 95%.

Xét nghiệm này còn cho phép đánh giá các tổn thương của niêm mạc dạ dày

[8], [31].



Hình 4.2. Vi khuẩn HP trên nhuộm HE (hình A), nhuộm Giemsa (hình B) và

trên nhuộm hóa mơ miễn dịch (hình C) [32].

- Kỹ thuật PCR (Polymerase chain reaction): PCR là một kỹ thuật

chẩn đốn có trong các phòng thí nghiệm tiên tiến nhưng chưa thơng dụng

trong chẩn đoán nhiễm HP. Độ nhạy của phương pháp này > 90%.

Những phương pháp gián tiếp:

- Xét nghiệm hơi thở C13 hoặc C14.

Nghiệm pháp thở không chỉ là phương pháp chẩn đốn có độ nhạy

và độ đặc hiệu cao (> 90%) mà còn là phương pháp đơn giản, dễ chấp nhận

hơn các thử nghiệm phụ thuộc vào nội soi. Đây là xét nghiệm thường được sử

dụng để đánh giá sau điều trị và cho trẻ em [8], [31].

- Xét nghiệm tìm kháng thể kháng HP trong huyết thanh.

Đây là thử nghiệm bằng phương pháp ELISA. Thử nghiệm được sử

dụng để phát hiện kháng thể IgG kháng HP. Xét nghiệm có độ nhạy trên 90%.



17

Nhưng xét nghiệm huyết thanh ít được sử dụng để chẩn đoán và theo dõi sau

khi điều trị tiệt trừ HP vì kháng thể vẫn tồn tại từ 6 tháng đến 1 năm kể từ khi

bị nhiễm HP và sau khi tiêu diệt [28].

- Xét nghiệm tìm kháng thể HP trong nước tiểu

Đây là phương pháp không xâm lấn nhằm phát hiện kháng thể kháng vi

khuẩn HP trong nước tiểu trong vòng 10 đến 20 phút cho nên phương pháp

này thường được sử dụng trong tầm soát nhiễm HP, độ nhạy đạt 80% và độ

đặc hiệu 90%, không có giá trị cho chẩn đốn, theo dõi sau điều trị diệt trừ

HP [8], [28].

- Xét nghiệm kháng nguyên trong phân

Đây là một thử nghiệm ELISA nhằm phát hiện kháng nguyên của HP

trong phân. Độ nhạy 95% và độ đặc hiệu 94% kể cả sau khi đã tiệt trừ HP [8].

4.2.3. Tiên lượng của viêm dạ dày mạn do HP

Viêm dạ dày mạn tính do HP có thể tiến triển như một căn bệnh không

triệu chứng ở một số bệnh nhân, trong khi các bệnh nhân khác có thế có các triệu

chứng khó tiêu. Diễn biến lâm sàng có thể xấu đi khi bệnh nhân phát triển biến

chứng như viêm loét dạ dày tá tràng hoặc các bệnh ác tính khác [33].

Viêm dạ dày do HP là nguyên nhân thường gặp nhất của u lympho phối

hợp niêm mạc, xảy ra ở 0,1% những người bị nhiễm bệnh. Bệnh nhân bị viêm

dạ dày teo mãn tính có thể có nguy cơ phát triến thành ung thư dạ dày gấp 12 –

16 lần so với người bình thường. Khoảng 10% số người nhiễm HP phát triển

thành loét dạ dày tá tràng và nguy cơ bị ung thư dạ dày là khoảng 1–3 % [34].

Sau khi HP bị diệt trừ, bạch cầu đa nhân trung tính nhanh chóng bị loại

khỏi tổn thương, trong khi đó các lympho bào chỉ có thể mất đi sau vài tháng

điều trị. Chưa có sự thống nhất về khả năng tự phục hồi của niêm mạc dạ dày

bị viêm teo trong khoảng thời gian một vài năm sau điều trị HP [35].



18

Một câu hỏi quan trọng là liệu diệt trừ HP ở bệnh nhân viêm dạ dày có

làm giảm nguy cơ phát triên bệnh ung thư dạ dày. Nhiều nghiên cứu gần đây

báo cáo rằng bệnh nhân được điều trị diệt trừ HP làm giảm nguy cơ ung thư dạ

dày hơn so với những người không được điều trị (tỉ lệ mắc bệnh = 0,53, khoảng

tin cậy 95%: 0,44-0,64) [36], [37]. Tuy nhiên có một số nghiên cứu chỉ ra rằng

ung thư dạ dày vẫn có thể phát sinh sau khi điều trị diệt HP [38], [39].

5. CƠ CHẾ BỆNH SINH



Sơ đồ 5.1. Sinh bệnh học về viêm dạ dày mạn tính do HP.

5.1. Q trình xâm nhập của vi khuẩn Helicobacter pylori

- Giai đoạn cấp:

Nhờ hoạt động của các lơng mao và cấu trúc hình xoắn, vi khuẩn HP dễ

dàng di chuyển qua lớp niêm dịch vào lớp dưới niêm mạc dạ dày để tồn tại



19

trong môi trường acid của dịch vị. Sau khi vận động vào trong lớp nhầy dạ

dày, HP bám dính vào biểu mơ tiết ra nhiều men urease để phân hủy urea

thành ammoniac, gây kiềm hóa mơi trường xung quanh, giúp HP tránh được

sự tấn công của acid-pesin trong dịch vị. Amoniac cùng các độc chất tế bào

(cytotoxin) phân hủy các thành phần của chất nhầy dạ dày. Các men catalase,

lipase và glycoproteinase của HP phân giải chất nhầy giúp cho chúng xâm

nhập vào niêm mạc sâu hơn và bộc lộ các thụ thể tế bào cho các chất dính của

H.pylori gắn vào đó và dần dần phá hủy tế bào. HP còn tiết ra các độc tố gây

độc và phá hủy tế bào. Đáp ứng miễn dịch tại chỗ của cơ thể được thể hiện

bằng tăng bạch cầu đa nhân trung tính (BCĐNTT) và lympho bào. Các tế bào

lympho và bạch cầu giải phóng ra các interleukin và các gốc tự do oxy hóa

nhằm tấn cơng vi khuẩn. Kết quả của q trình, các tế bào biểu mơ chết đi và

bong ra, kèm theo đó là q trình tăng sinh và tái tạo tế bào. Ở giai đoạn cấp

này có sự giảm chế tiết acid HCl mạnh và acid ascorbic. Có thể phải mất vài

tuần để acid trở lại ở mức như trước, nhưng một số bệnh nhân vẫn giữ ở mức

giảm tiết acid. Tuy nhiên sự giảm tiết acid ascorbic vẫn còn thấp hơn so với

bình thường trong suốt thời gian diễn ra viêm dạ dày mạn tính [25], [40].

Giai đoạn cấp tính thường xảy ra trong thời gian ngắn. Một số ít trường

hợp, đặc biệt trong thời thơ ấu, vi khuẩn HP bị tiêu diệt một cách tự nhiên và

biểu mơ dạ dày trở về bình thường. Tuy nhiên, trong đa số các trường hợp,

phản ứng miễn dịch tự nhiên của cơ thể không thể loại bỏ hết vi khuẩn và 3 –

4 tuần sau đó là sự tích lũy dần của các tế bào viêm mạn tính xâm nhập lớp

biểu mơ.

- Viêm dạ dày mạn tính

Sự hiện diện của các lympho bào và tương bào thường xuất hiện vào

cuối giai đoạn viêm cấp tính. Những tế bào này sản xuất ra các cytokine và

các kháng thể chống HP. Tuy nhiên, phản ứng viêm này không bỏ được vi



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×