Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ MÔN MARKETING CĂN BẢN

Chương 1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ MÔN MARKETING CĂN BẢN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chuyên đề môn học



GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ HƯƠNG



Bảng 1.1 Mô hình 4P

 SẢN PHẨM (product) .

 Chính sách sản phẩm:

Chính sách sản phẩm là nền tảng của chính sách marketing hỗn hợp, được xác

định dựa trên kế hoạch kinh doanh quy mô lớn hơn dành cho sản phẩm mới và chiến

lược marketing tổng thể cho mọi sản phẩm đang có của doanh nghiệp. Khi xem xét

chính sách sản phẩm, doanh nghiệp cần quan tâm đến những vấn đề sau:

 Quản lý chất lượng tổng hợp:

Việc nghiên cứu thị trường và khách hàng không chỉ trả lời câu hỏi khách hàng

cần gì, cần bao nhiêu, cần vào thời điểm nào và khả năng thanh toán của họ ra sao mà

còn phải biết họ đòi hỏi mức độ chất lượng như thế nào, chất lượng nào có thể cho họ

thỏa mãn nhất

 Phát triển nhãn hiệu và bao bì sản phẩm:

Việc lựa chọn nhãn hiệu cho sản phẩm có ý nghĩa quan trọng đảm bảo thành

công của phát triển sản phẩm mới. Việc lựa chọn nhãn hiệu cho sản phẩm phải đảm

bảo yêu cầu tối thiểu sau:

 Phải hàm ý về lợi ích sản phẩm

 Phải hàm chứa ý đồ định vị

 Phải hàm ý về chất lượng

 Tên nhãn hiệu phải dễ phát âm và dễ nhớ

 Không trùng hoặc không tương tự với nhãn hiệu của doanh nghiệp khác

 Hợp với phong tục tập quán của thị trường mục tiêu

Quyết định lựa chọn bao gói sản phẩm:

Bao bì sản phẩm phải đảm bảo thực hiện đồng thời bốn chức năng: bảo quản và

bán hàng hóa, thông tin về hàng hóa, thẩm mĩ, tạo nên sự hấp dẫn của sản phẩm với

khách hàng và chức năng thương mại

Những yếu tố của một nhãn hàng tốt:

SVTH: Bùi Nguyên Huy - 13095681



4



Chuyên đề môn học



GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ HƯƠNG



 Gợi mở một cái gì đó về đặc tính của sản phẩm chẳng hạn như lợi ích,

giá trị sử dụng của sản phẩm

 Dễ phát âm, đánh vần và dễ nhớ

 Dễ phân tích với các nhãn hàng khác

 Thích nghi với sản phẩm mới để có thể thêm vào dòng sản phẩm sẵn có

của doanh nghiệp

 Đúng luật lệ để có thể đăng ký nhãn hàng với cơ quan có thẩm quyền

 GIÁ CẢ (price) .

Giá cả không phải là yếu tố cạnh tranh hàng đầu nhưng vẫn luôn được coi là

yếu tố cạnh tranh quan trọng trong việc thu hút khách hàng đặc biệt ở những thị

trường mà thu nhập của cư dân còn thấp. Trong việc phát triển sản phẩm mới doanh

nghiệp phải có chính sách giá thích hợp để tạo cho sản phẩm có chỗ đứng vững chắc

trên thị trường.

Trong chính sách giá đối với sản phẩm mới, doanh nghiệp có thể theo đuổi những mục

tiêu cơ bản sau:

 Để tồn tại (giá cao hơn chi phí)

 Để tối đa hóa lợi nhuận trước mắt

 Để tăng thị phần

 Để thu hồi vốn nhanh

 Để dẫn đầu về chất lượng

 Các mục khác: một doanh nghiệp có thể dùng giá để phục vụ cho một số

mục tiêu cụ thể hơn. Doanh nghiệp có thể đặt giá ở mức thấp để có thể

ngăn chặn cạnh tranh hay đặt giá bằng giá của đối thủ cạnh tranh để giữ

ổn định thị trường. Giá có thể được quyết định ở mức giữ uy tín cũng

như hỗ trợ các hãng buôn hay để tránh sự can thiệp của chính phủ

Chính sách giá hớt váng (skimming) và giá thâm nhập thị trường (penetration):

Khi xác định giá cho một sản phẩm nhất là sản phẩm mới doanh nghiệp cần

xem xét nên áp dụng chính sách giá hớt váng thị trường hay giá thâm nhập thị trường

Chính sách giá hớt váng thị trường: hớt váng thị trường liên quan đến việc định

giá cao so với giá thị trường. Chính sách này đặc biệt thích hợp cho sản phẩm mới vì:

 Trong giai đoạn đầu của chu kỳ sống của một sản phẩm, giá cả không

phải là yếu tố quan trọng nhất

 Thị trường sẽ được phân định theo thu nhập nhờ giá cao

 Nó có thể là một yếu tố bảo vệ một khi giá cả xác định sai

 Giá cao ban đầu sẽ hạn chế nhu cầu ở mức sản xuất ban đầu của doanh

nghiệp

Chính sách giá thâm nhập thị trường: trong chiến lược này, một mức giá thấp

ban đầu sẽ giúp sản phẩm có được thị phần lớn ngay lập tức. Tuy nhiên, để áp dụng

chính sách này nên có những điều kiện sau:

 Sản phẩm có mức cầu giãn lớn

 Giá đơn vị của sản phẩm sẽ phải giảm đi đáng kể khi sản phẩm được sản

xuất theo quy mô lớn

 Doanh nghiệp cần dự tính trước là sản phẩm đó sẽ phải chịu cạnh tranh

ngay khi nó xuất hiện trên thị trường



SVTH: Bùi Nguyên Huy - 13095681



5



Chuyên đề môn học



GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ HƯƠNG



 KÊNH PHÂN PHỐI (place) .

Trong marketing phân phối được hiểu một cách đầy đủ là những quyết định đưa

hàng hoá vào các kênh phân phối để tiếp cận và khai thác hợp lý nhất nhu cầu của thị

trường. Từ đó thực hiện việc đưa hàng hoá từ nơi sản xuất tới người tiêu dùng cuối

cùng nhằm đạt được lợi nhuận tối đa.

Phân phối trong marketing gồm các yếu tố cấu thành cơ bản sau đây:

Người cung ứng (người sản xuất), người tiêu dùng cuối cùng (khách hàng tiêu

dùng cuối cùng): đây là đại biểu tập trung nhất của người bán và người mua. Trên thị

trường người mua luôn đóng vai trò quyết định. Cách cư xử của người mua bị chi

phối bởi nhiều yếu tố: môi trường, tổ chức, quan hệ cá nhân, quảng cáo…

Người trung gian: (người bán buôn, bán lẻ) các trung gian tạo thế kéo đẩy trên

thị trường. Sức đẩy hàng hoá là tổng hợp những cố gắng và năng lực của khâu khởi

phát luồng hàng, thuyết phục được các thành viên khác thực hiện quyết định mua

hàng và xúc tiến thực hiện hàng hoá tiếp tục cho tới người tiêu dùng cuối cùng.

Hệ thống thông tin thị trường, các dịch vụ của mua và bán (thanh toán hợp

đồng) và các hoạt động yểm trợ khuyếch trương…đóng vai trò rất quan trọng trong

phân phới. Nó giúp người cung ứng có thể xử lý thông tin một cách chính xác để đưa

ra quyết định phân phối hợp lý.

Một cách tổng quát hơn, hoạt động phân phối của công ty gồm 3 nhóm vấn đề:

 Tổ chức kênh phân phối

 Tổ chức việc lưu thông hàng hóa

 Tổ chức việc phân phối hàng hóa ở khâu bán buôn và bán lẻ

Trong hoạt động marketing của doanh nghiệp, vai trò của từng chính sách phụ

thuộc rất nhiều vào việc xác định vị trí hàng hoá cụ thể mà doanh nghiệp đó làm và

mục tiêu chiến lược kinh doanh của từng doanh nghiệp.Tuy nhiên, ta vẫn có thể

khẳng định chính sách phân phới có vai trò quan trọng trong hoạt động marketing của

doanh nghiệp. Sau khi sản phẩm hoàn thành và tung ra thị trường, giai đoạn tiếp theo

của quá trình marketing là xác định các phương pháp và quãng đường hay lựa chọn

kênh được sử dụng để vận chuyển hàng hoá tới tay người tiêu dùng. Chính vì vậy một

chính sách phân phối hợp lý sẽ làm cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp an

toàn, tăng cường được khả năng liên kết trong kinh doanh giảm được sự cạnh tranh và

làm cho quá trình lưu thơng hàng hoá nhanh và hiệu quả.

Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường đầy sôi động hiện nay, một chính sách

phân phối tốt là một yếu tố rất quan trọng để đưa doanh nghiệp đến thành công. Nó

giúp cho doanh nghiệp đạt được lợi thế dài hạn trong cạnh tranh, khi mà các chiến

dịch quảng cáo hay cắt giảm giá chỉ có lợi thế trong ngắn hạn, bởi các doanh nghiệp

khác cũng nhanh chóng làm theo dẫn đến lợi nhuận bị giảm sút hoặc bằng không.

Việc xây dựng chính sách phân phối tốt sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp:

 Tiêu thụ sản phẩm theo đúng kế hoạch và các hợp đồng ký kết

 Bảo đảm uy tín của doanh nghiệp, sự tin tưởng của khách hàng và sự gắn

bó lâu dài với người tiêu dùng

 Bảo đảm việc thu hút ngày càng nhiều khách hàng cho doanh nghiệp

thông qua công tác giao dịch phương thức phân phối, thủ tục giao nhận,

thanh toán,…đối với khách hàng

 CHIẾN LƯỢC CHIÊU THỊ (promotion) .

SVTH: Bùi Nguyên Huy - 13095681



6



Chuyên đề môn học



GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ HƯƠNG



Người ta thường sử dụng 5 công cụ cơ bản đó là: quảng cáo (advertising), khuyến mại bán hàng

(sales promotion), chào hàng cá nhân (personal selling), quan hệ cộng đồng (public relations) và

marketing trực tiếp (direct marketing) nhằm thông báo, thuyết phục và gợi hình ảnh.

 Quảng cáo: là hình thức giới thiệu sản phẩm thông qua các phương tiện

truyền thông như ti vi, radio…

 Khuyến mại thường áp dụng trong ngắn hạn nhằm kích thích việc mua

hàng của người tiêu dùng

 Quan hệ cộng đồng thông qua việc tổ chức một sự kiện xã hội hoặc thể

thao nào đó nhằm xây dựng mối quan hệ tốt với quần chúng thông qua

đó làm cho nhiều người biết đến sản phẩm cũng như thương hiệu của

chúng ta hơn để nhận được sự ủng hộ của cộng đồng

 Chào hàng cá nhân thông qua việc tiếp xúc của cá nhân với khách hàng

để giới thiệu sản phẩm của cơng ty mình và chúng ta cần làm sao để có

thể thuyết phục càng nhiều khách hàng càng tốt

 Marketing trực tiếp thu hút rất nhiều nhà làm marketing bởi nó mang về

những hiệu quả tích cực là nó có thể được đo lường một cách trực tiếp.



SVTH: Bùi Nguyên Huy - 13095681



7



Chuyên đề mơn học



GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ HƯƠNG



Chương 2 : PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ SẢN DI

ĐỘNG THƠNG MINH (SMARTPHONE)

2.1Phân tích thực trạng về sản phẩm Smartphone

2.1.1 Sản phẩm (Product).



Điện thoại smartphone là một thiết bị kết hợp giữa điện thoại di động và

các tính năng của một thiết bị hỗ trợ cá nhân kỹ thuật số (PDA). Tức là với một

chiếc điện thoại bạn vừa có thể nghe, gọi, nhắn tin đồng thời bạn có thể truy cập

mạng, gửi e-mail, chỉnh sửa các tài liệu office … Thực tế khái niệm điện thoại

smartphone có khá nhiều định nghĩa và ranh giới phân biệt cũng rất mong

manh.

Để thực sự hiểu điện thoại smartphone là gì, ta hãy cùng nhìn lại lịch sử

phát triển của nó. Đầu tiên, ta có những chiếc điện thoại di động (cell phone) có

thể nghe, gọi và nhắn tin và những thiết bị hỗ trợ cá nhân kỹ thuật số (PDA) để

quản lý công việc cá nhân. Về sau, PDA được bổ sung các tính năng của điện

thoại di động và điện thoại di động cũng có thêm các tính năng giống như PDA

hay một số chức năng khác trên máy tính. Smartphone đã ra đời như thế, về cơ

bản có thể coi điện thoại smartphone là sự kết hợp giữa PDA và điện thoại thơng

thường.

Các tính năng chính của điện thoại smartphone:

Dưới đây là những tính năng cần có trong một chiếc điện thoại

smartphone phổ biến hiện nay để có thể phân biệt với điện thoại di động thông

thường.



SVTH: Bùi Nguyên Huy - 13095681



8



Chuyên đề môn học



GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ HƯƠNG



1. Hệ điều hành (OS)



Điểm đầu tiên để phân biệt giữa điện thoại thường và điện thoại smartphone là

hệ điều hành. Nhìn chung, smartphone hoạt động dựa trên nền tảng một hệ điều

hành, nền tảng này cho phép smartphone có thể cài đặt và chạy các ứng dụng.

Hiện nay, có rất nhiều hệ điều hành cho smartphone trong đó có iOS, Android và

Window phone đang là 3 hệ điều hành phổ biến nhất hiện nay.

2. Ứng dụng (Apps)



Trong khi hầu như tất cả điện thoại di động có cài sẵn một số dạng phần mềm

đơn giản cho các tác vụ như quản lý và lưu danh bạ... thì một chiếc smartphone

lại có thể làm được nhiều hơn thế. Nó cho phép người dùng tạo và chỉnh sửa các

tài liệu Microsoft Office hay chí ít là xem được các tập tin Office. Bên cạnh đó,

smartphone còn cho phép tải một số ứng dụng khác như quản lý tài chính cá

nhân, theo dõi tình trạng sức khỏe, chỉnh sửa ảnh,GPS,…Có thể nói rằng,

smartphone đang thay con người thực hiện một khối lượng công việc khổng lồ.

3. Kết nối Internet



SVTH: Bùi Nguyên Huy - 13095681



9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ MÔN MARKETING CĂN BẢN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×