Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Hệ vi sinh vật đất

3 Hệ vi sinh vật đất

Tải bản đầy đủ - 0trang

cách: khả năng cố định nitor, làm phosphate khơng hòa tan trong vùng rễ trở nên

hòa tan, sản sinh ra một số phytohormone như auxin, cytokinin, gibberilin, làm

giảm mức độ etylen trong cây giúp cây chống chịu tốt hơn trong điều kiện bất lợi.

PGPR có thể tăng cường sự phát triển của cây và giúp cây trồng chống lại điều kiện

stress và giúp ngăn chặn các mầm bệnh trong đất bằng nhiều cơ chế khác nhau như:

tiết siderophore (pyochelin, pyocyamin, salicylic acid) cạnh tranh sắt với mầm

bệnh, kích thích tính kháng bệnh lưu dẫn trên nhiều loại cây trồng.

Theo Lian và ctv. (2008), nhóm vi khuẩn Bacillus spp, Pseudomonas spp,

Seratia spp, Clavibacter spp,…..được tìm thấy ở rễ cây trồng có khả năng ức chế

mầm bệnh như Phytopthora và Fusarium.

Bảng1: Vi khuẩn tiết enzyme, kích thích tố và chất khác (Bharadwaj và ctv,

2008 trích bởi Trần Thị Kim Đơng, 2010)



Bảng 2: Các kiểu cơ chế hạn chế mầm bệnh bởi vi khuẩn vùng rễ (Pal và

Gardener trích dẫn bởi (Trần Thị Kim Đơng, 2010)



9



Hình 7: Sơ đồ cơ chế phòng từ sinh học bằng vi khuẩn vùng rễ (Kumar và

ctv., 2011 trích dẫn bởi Trần Thị Thúy Ái, 2011)

Cơ chế cạnh tranh

PGPR cạnh tranh với mầm bệnh về dinh dưỡng và nơi ở, đặc biệt là sắt vì vi

khuẩn vùng rễ có khả năng tiết siderophore, chất này có thể gắn kết với sắt không

tan và chuyển vào trong tế bào, lấy đi nguyên tố cần thiết của mầm bệnh (Whipps,

2001).

Pseudomonas fluorescens B10 tiết siderophore (pseudobactin) cạnh tranh

ion Fe lấy đi nguyên tố cần thiết cho sự phát triển của mầm bệnh giúp ức chế nấm

Fusarium oxysporum f. sp. lini gây bệnh trên lúa mì (Kloepper et al., 1980a). Trong

điều kiện thiếu sắt ở vùng rễ cây trồng, P. putida WC358 tiết ra siderophore

pyoverdin (hay pseudobactin 358) chất này giữ sắt làm mầm bệnh không lấy được

sắt, ức chế sự nẩy mầm của bào tử và sự phát triển của sợi nấm giúp làm giảm bệnh

ở cẩm chướng do Fusarium oxysporum f. sp. dianthi và củ cải Fusarium

oxysporum f. sp. raphani (Duijff et al., 1994; Raaijmakers et al., 1995). Vi khuẩn P.

aeruginosa 7NSK2 tiết siderophore pyoverdin và pyochelin chống nấm Pythium

spp. gây thối mềm trên cà chua (Buyens et al., 1996).

3+



Cơ chế tiết kháng sinh

PGPR có thể tiết ra kháng sinh trực tiếp ức chế các vi khuẩn và nấm gây

bệnh như vi khuẩn Pseudomonads có thể tiết 2,4-diacetyphloroglucinol (DAPG)



10



(Thompson et al., 1994), hydrogen cyanide, oomycin A, phenazine, pyoluteorin,

pyrrolnitrin….(Raaijmakers et al., 2002). Các kháng sinh do vi khuẩn Bacillus tiết

ra như: kanosamine, zwittermicin A, iturin A (Asaka và Shoda, 1996).

Vi khuẩn vùng rễ Pseudomonads sp. DSS73 tiết kháng sinh như amphisin ức

chế nấm Phizoctonia solani và Pythium ultimum gây hại củ cải đường (Andersen et

al., 2003).

Cơ chế tiêu sinh

PGPR có thể sản sinh các enzyme phân giải vách tế bào nấm gây bệnh như

chitinase, glucanase, protase.

Vi khuẩn P. stutzeri tổng hợp được enzyme chitinase có tác dụng tiêu hóa và

phân giải chitin làm ức chế sự phát triển ống mầm và sợi nấm của Fusarium solani

(Lim et al., 1991). Vi khuẩn Stenotrophomanas maltophila sinh ra protase quản lý

nấm Pythium ultimum gây hại trên cây củ cải đường (Dunne et al., 1997).



B: Chủng BS mật số 108 cfu/ml

C: Chủng F. solani mật số 106 cfu/ml

D: Chủng BS mật số 106 cfu/ml+ F. solani mật số 106 cfu/ml

Hình 8: Tỷ lệ vàng lá trên chanh Volka ở 4 TSC vi khuẩn BS (Bacillus

subtilis) với nấm F. solani (Nguyễn Ngọc Anh Thư, 2013)

5.2 Nấm rễ



Trong vùng rễ cam quýt, có rất nhiều các loại vi sinh vật đất như nấm rễ,

có thể hình thành sự cộng sinh với rễ cây họ cam quýt (Hartmann et al, 2009;

Wu & Zou, 2011). Các nấm rễ AM (cộng sinh) giúp cây tăng sự hấp thu các

khoáng chất và nước có trong mơi trường đất thơng qua sợi nấm rễ ngược lại

nấm rễ nhận carbohydrates từ quá trình quang hợp của cây ký chủ (Gosling et

al., 2006; Javaid, 2009). Tăng cường khả năng chịu tác dụng phụ như khô hạn

và mặn, và nâng cao chất lượng trái cây (Wu and Zou, 2009).



11



Theo Wu và Zou., (2012), khi chủng nấm rễ Glomus mosseae vào đất khi

trồng cây Poncirus trifoliata (L.) Raf, 152 ngày sau khi chủng nấm giúp gia tăng

hàm lượng chlorophyl trong lá.



Hình 9: Sự gia tăng nồng độ chlorophyll trong lá của cây Poncirus trifoliata

(L.) Raf (Wu và Zou, 2012)

Theo Askar và Rashad (2010), chứng minh rằng hiệu quả của nấm rễ

(Glomus mosseae, Glomus intraradices, Glomus clarum, Gigaspora gigantea và

Gigaspora margarita) giúp cây đậu (Phaseolus vulgaris L.) chống lại nấm F. solani

gây bệnh thối rễ thông qua sự gia tăng hàm lượng phenolic và enzyme

Phenylalanine ammonia-lyase, polyphenol oxidase và enzyme peroxidase.



Hình 10: Ảnh hưởng của nấm rễ lên hàm lượng phenol trên cây đậu bị

nhiễm Fusarium solani (Askar và Rashad, 2010)

12



Hình 11: Ảnh hưởng của nấm rễ lên hoạt tính các enzyme trên cây đậu bị

nhiễm Fusarium solani (Askar và Rashad, 2010) CNM: Control-non-mycorrhizal,

CM: Control-mycorrhizal, PNM: Pathogen-non-mycorrhizal and PM: Pathogenmycorrhizal.



Một số vi khuẩn có thể trực tiếp kích thích sự hình thành nấm rễ bằng

cách phát hành một số hợp chất kích thích như auxines, gibberellines và

citokinins, chất ảnh hưởng đến hình thái rễ và sinh lý học và góp vào chất lượng

và hàm lượng của các dịch tiết từ gốc, tác động trực tiếp trên nấm. Những vi

khuẩn cũng sản xuất các loại vitamin và các axit hữu cơ kích thích bào tử nảy

mầm. Vi khuẩn giúp sản xuất các hợp chất phenolic loại hypaphorine làm tăng

agressivity nấm (Garbaye, 1994, trích dẫn bởi Duponnois và Plenchette, 2003).

Một số tác giả (Vivas và ctv., 2003; Marulanda và ctv., 2006) báo cáo

hiệu quả tác động của vi khuẩn Bacillus thuringiensis cấy trên các loài nấm rễ

giúp tăng cường tốc độ tăng trưởng sợi nấm. Sự hiện diện của cytokinin trong

mạch xylem của Citrus jumbhiri và chỉ ra rằng những thay đổi đáng kể trong

cytokinin thông qua sự phát triển của cây ký chủ và VAM.

5.3 Trichoderma

Trichoderma là loài nấm có tốc độ sinh trưởng nhanh, sinh sản nhiều bào tử

và là nguồn sản xuất các loại enzyme phân hủy vách tế bào như cellulose, chitinase,



13



glucanase, ….đồng thời cũng là tác nhân sản xuất kháng sinh quan trọng. Cơ chế

tác động chính của Trichoderma là ký sinh và tiết kháng sinh trên các lồi nấm

bệnh.

Cơ chế của q trình đối kháng của Trichoderma gồm hai giai đoạn: giai

đoạn thứ nhất là bao quanh và cuộn tròn sợi nấm gây bệnh, giai đoạn thứ hai là cơ

chế hóa học, Trichoderma tiết ra các enzyme phân hủy chất nguyên sinh của sợi

nấm làm cho sợi nấm chết.



Trích từ trang web (http://femsle.oxfordjournals.org/content/359/1/116)



Hình 12: Nấm Trichoderma đang cuộn F. solani (Dương Minh, 2010)

Nấm ký sinh: Trichoderma có khả năng khống chế, cạnh tranh và tiêu diệt

nhiều loại nấm gây bệnh thối rễ, chết rạp cây con, xì mủ…trên cây trồng như

Pythium, Rhizoctonia, Fusarium, Phytophthora, Sclerotium… bằng cách tiết ra một

enzym làm tan vách tế bào của các loại nấm gây hại, sau đó Trichoderma xâm nhập

và hút dinh dưỡng của nấm gây hại, các vi khuẩn gây bệnh nhóm Pseudomonas,

tuyến trùng và trứng tuyến trùng Meloidogyne….

14



Phân giải hữu cơ: Trichoderma được xem như nhà máy sản xuất enzyme

phân giải chất xơ cellulose và các enzym phân giải các hợp chất khác (chitin,

protein, pectin, amylopectin…). Do đó Trichoderma thường được trộn chung với

chất thải hữu cơ, vỏ cà phê, dư thừa thực vật sau thu hoạch để đẩy nhanh quá trình

phân hủy các chất hữu cơ thành các đơn chất dinh dưỡng giúp cây hấp thụ dễ dàng.

Phân hữu cơ sinh học: Nhờ các đặc tính trên mà thường được trộn chung với

các loại phân hữu cơ (phân chuồng) và các chế phẩm sinh học…bón vào đất để hạn

chế bệnh hại và cải tạo tính chất vật lý, hóa học của đất giúp đất tơi xốp, thống

khí, nhiều chất mùn, tăng độ phì, tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật có ích và vi

sinh vật đối kháng phát triển, giúp tăng cường khả năng phát triển, phục hồi bộ rễ.

Khi phát triển trên vùng tế bào ký sinh gây bệnh, Trichoderma sẽ tiết ra các

enzyme như β-1,3-glucanase, chitinase, lypase, protase,….trong đó, β-1,3glucanase, chitinase giữ vai trò quan trọng trong quan hệ ký sinh giữa Trichoderma

và nấm bệnh.

Bảng 3: Hiệu suất đối kháng (%) của các chủng , Trichoderma đối với 4

chủng F. solani gây bệnh thối rễ cam quýt (4 ngày sau khi nuôi cấy) (Dương Minh,

2010)



Qua bảng trên cho thấy tất cả các chủng Trichoderma đều có khả năng đối

kháng với nấm F.solani. Sự tương tác trong đối kháng của các chủng Trichoderma

và F. solani với hiệu quả cao nhất ở T-OM1 (chủng Trichoderma được phân lập từ

Ơ Mơn, Cần Thơ) và F-BM2 (chủng F. solani phân lập từ vườn nhiễm bệnh nặng

tại Bình Minh, Vĩnh Long.



15



Hình 13: Khả năng đối kháng trên đĩa petri của chủng Trichoderma T-OM1

đối với F. solani F-BM2 (Dương Minh, 2010)

Kết quả nghiên cứu của Dương Minh (2010), cả 5 chủng Trichoderma (TBM2a, T-LV1a, T-OM2a, T-TO2a, T-TO2b) đều có khả năng kích thích rễ cây qt

Tiều tạo ra hiệu quả đối kháng lưu dẫn chống bệnh thối rễ, trong đó 2 chủng đạt

hiệu quả kích kháng cao nhất là T-OM2a và T-LV1a, thông qua biểu hiện của

chitinase và β-1,3-glucanase cao ở rễ và lá cây (cả 2 ngăn).

Bảng 4: Mật độ quang (OD) của chitinase trong lá và rễ cây quýt tiều ở 12

tuần sau khi chủng Fusarium (4 tuần sau khi chủng Trichoderma) (Dương Minh,

2010).



16



Hình 14: Rễ quýt Tiều con bị nhiễm

F. solani (F-OM2) ở ngăn 2 và khả

năng phục hồi sau khi xử lý

Trichoderma (T-OM2a) ở ngăn 2

(Dương Minh, 2010)



17



Hình 15: Biểu hiện triệu chứng trên

cây quýt Tiều con khi bị nhiễm F.

solani (F-OM2, bên phải) và khả năng

phục hồi sau khi xử lý Trichoderma (TTO2b) ở ngăn 2 (bên trái) (Dương

Minh, 2010)



5.4 Xạ khuẩn

Xạ khuẩn Streptomyces violaceusniger là một tác nhân sinh học đối kháng

với nhiều loại nấm gây bệnh khác nhau. Trong đó, dòng YCED-9 sản xuất 3 hợp

chất kháng nấm có khả năng ức chế sự phát triển của hệ sợi nấm của Phythium và

Phytopthora spp (Trejo-Estreda và ctv., 1998 trích dẫn bỏi Nguyễn Ngọc Anh Thư,

2013). Xạ khuẩn có khả năng tiết men phân hủy thành phần glucan trong vách tế

bào nấm Phytopthora gây thối rễ trên cây ăn trái. Chủng Streptomyces sp. 201 có

khả năng tiết chất kháng sinh mới là z-methylthepyl iso-nicotinate, có khả năng

kháng được nhiều loại nấm gây bệnh như F. oxysporum, F. solani bảo vệ nhiều

loại cây trồng trong thí nghiệm nhà lưới và ngồi đồng (Tahvone, 1982).

Theo Đặng Thị Kim Uyên, 2010 sử dụng dòng Streptomyces-SOFRI 1 làm

giảm lượng rễ thối và tăng chiều cao cây, chiều dài rễ, trọng lượng thân, rễ tươi, số

lượng rễ mới cao hơn nhiều so với nghiệm thức chỉ chủng nấm gây bệnh F. solani

trên gốc ghép chanh Volka.

5.5 Tuyến trùng

Theo Kheiri và ctv., 2002, kết quả báo cáo cho thấy sự tương tác giữa hai

loại nấm (Fusarium solani và F. oxysporum) và tuyến trùng (Pratylenchus vulnus)

lên sự tăng trưởng của cây thông con. Khi chỉ chủng tuyến trùng thì 75% cây con bị

chết và cây giống có chiều cao trung bình là 2,25cm. Khi chủng tuyến trùng và nấm

thì sự tăng trưởng của cây con được tăng lên so với khi chỉ chủng tuyến trùng.

Trong đó, khi chủng tuyến trùng + F. oxysporum, 25% cây con bị chết và cây giống

chiều cao trung bình là 12,75cm còn tuyến trùng + F. solani, 50% cây con bị chết

và chiều cao trung bình cây giống là 5,5cm.

6 Biện pháp quản lý bệnh

6.1 Biện pháp hóa học

Để phòng trừ bệnh thối rễ do nấm Fusarium solani, Labuschange và ctv.,

(1996) trích dẫn bởi Nguyễn Ngọc Anh Thư (2013) báo cáo rằng việc sử dụng

thuốc có hoạt chất prochloraz và thiabendazole để xử lý đất cho cây con trong bầu

đất có tác dụng phòng trừ bệnh lên đến 80-90% nhưng thuốc lại khơng có hệu quả

trong điều kiện ngồi đồng. Theo Nguyễn Ngọc Anh Thư và ctv. (2005) trong điều

kiện phòng thí nghiệm cho thấy ba loại thuốc Nustar, Bendazol, Ridomyl và nấm

đối kháng Trichoderma có khả năng ức chế sự phát triển của đại bào và tiểu bào tử

nấm Fusarium solani. Kết quả thử nghiệm ngoài vườn cây Cam sành cho thấy

khuẩn lạc của nấm Fusarium solani trong 1g đất sau khi xử lý thuốc có hiệu quả so

với trước khi xử lý.

Tebuconazole được xem là một trong những thuốc diệt nám hiệu quả nhất

trong việc kiểm soát Fusarium spp. Folicur 430SC có hoạt chất Tebuconazole,



18



Tebuconazole ức chế q trình sinh tổng hợp ergosterol (tiền vitamin D) trong tế

bào nấm. Thuốc có tác dụng phòng và trừ, có tính nội hấp.

6.2 Biện pháp canh tác

6.2.1 Đối với vườn cây có múi hiện có

Thực hiện giống như những biện pháp đối với bệnh khác là sử dụng cây

giống sạch bệnh, có hàng cây chắn gió, lên liếp cao, có rảnh thốt nước tốt, có bờ

bao để ngăn lũ, thốt úng.

Nên rải vơi trước khi trồng để loại trừ mầm bệnh có trong đất. Hàng năm

nên cung cấp thêm vôi xung quanh gốc, qt vơi vào gốc cây trên 50cm vào cuối

mùa nắng.

Bón nhiều phân hữu cơ để cải thiện đặc tính đất kết hợp với cung cấp nấm

đối kháng Trichoderma, tăng cường hoạt động của các vi sinh vật trong đất.

Thăm vườn thường xuyên để phát hiện bệnh sớm, cắt bỏ những cành bị vàng, rễ

theo hình đối chiếu.

Xới nhẹ xung quanh gốc và tưới thuốc Ridomyl Gold hoặc Acrobat khi có

bệnh xuất hiện và chỉ sử dụng Trichoderma sau khi xử lý thuốc 15-20 ngày.

Rải thuốc trừ tuyến trùng xung quanh rễ (sử dụng Regent 0.3 G).

Trong vườn nên trồng cỏ (cách gốc 50 cm) để giúp đất thơng thống. Khi

bệnh vàng lá thối rễ xãy ra, việc điều trị rất gian nan, tốn kém, mất thời gian và

quan trọng nhất là sức khỏe vườn cây không được tốt.

6.2.2 Đối với vườn trồng mới

Cây giống: Cây giống để trồng nên chọn cây giống tốt dù có mắc tiền.

Ngồi việc loại trừ các bệnh hiểm nghèo như bệnh Vàng Lá greening,

Tristeza….thì cây giống tốt sẽ giúp cây sinh trưởng tốt mạnh mẽ ngay sau khi đặt

cây giống xuống trồng.

Chọn đất: Về phần hóa tính của đất, chúng ta có thể khắc phục phần nào,

nhưng về lý tính của đất, việc cải tạo sẽ rất khó khăn, đất trồng cây có múi cần tơi

xốp, nếu đất bị nén chặc, sẽ là tai họa cho vườn.

Vùng đất trủng thấp, nhiều phèn, nếu muốn trồng cây có múi cần phải có

bao đê chắc chắn. Hệ thống kênh mương phải đảm bảo rằng việc tiêu nước trong

mùa mưa lũ được dễ dàng.

Lên líp, lên mơ :

Vùng ĐBSCL, do địa hình trủng thấp, việc trồng cây có múi phải được lên

líp và cả lên mơ. Tỉ lệ đất lên líp để trồng cây có thể là 60-70%. Thậm chí nhiều

vùng quá thấp, hệ số sử dụng đất chỉ khoảng 50%.

Mặc dù đã lên líp, nhưng tất cả các cây được trồng phải được trồng trên mô.

Do tập quán nông dân ĐBSCL nhất là vùng Tà Vinh,Vĩnh Long, Hậu Giang trồng



19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Hệ vi sinh vật đất

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×