Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Độc tính của nấm Fusarium đối với cây trồng

3 Độc tính của nấm Fusarium đối với cây trồng

Tải bản đầy đủ - 0trang

trong cây, tăng khả năng tích lũy các chất biến dưỡng, gây stress trong mạch gỗ,

phá vỡ hệ thống vận chuyển vật chất trong cây và cuối cùng phá vỡ chức năng sinh

lý của rễ cây.

Agrios (2005) khi Fusarium xâm nhập vào trong cây, chúng tiết ra enniatin,

fusaric acid là các phytotoxin gây độc cho cây, đồng thời còn tiết ra mycotoxin là

các trichothecin và fumonisin gây hại cho động vật khi ăn phải.

Độc tính của nấm cũng bị ảnh hưởng bởi loại phân bón sử dụng, độc tính

của nấm tăng khi bón phân vi lượng, phân lân, đạm amon, tính độc của nấm giảm

khi bón đạm nitrat (Jones, 1993 trích dẫn bởi Vũ Triệu Mân, 2007).

3 Triệu chứng bệnh

Quan sát toàn vườn, lá vàng cục bộ từng khu vực trong vườn, cành nhánh

phát triển rất kém, lá vàng trên từng cây, từng nhánh.



Hình 4: cây bị bệnh vàng lá thối rễ

Lá trên cây bị vàng kể cả gân lá cũng bị vàng, có thể vàng một vài nhánh

hay trên toàn cây, ban đầu các lá già vàng trước sau đó đến các lá non, lá vàng dễ bị

rụng.



5



Hình 5: Lá vàng cả phiến và gân. Một vài nhánh trên cây bị vàng khi bệnh

mới xuất hiện

Rễ bị đen, thối, khi nhổ lên, vỏ rễ bị tuộc ra khỏi phần gỗ, bên trong có sọc

nâu lan dần vào rễ cái.Trên những cây bị bệnh nặng, không thấy rễ tơ trắng mà toàn

bộ rễ tơ và rễ cái đều bị thối đen, cuối cùng là chết tồn cây.



.



Hình 6: Rễ qt Tiều và rễ cam Sành bị nhiễm nấm F. solani (Dương Minh,

2010)



6



4 Điều kiện để bệnh phát triển

4.1 Điều kiện tự nhiên

Dinh dưỡng: Theo Cook và Baker (1983) cho rằng nguồn carbon rất cần

thiết cho sự mọc mầm của đại bào tử và bào tử áo nấm F. solani. Hàm lượng

glucose đáp ứng gia tăng sự mọc mầm của nấm và mầm của một số chủng F. solani

trong 10-12 giờ sau khi bổ sung năng lượng. Nguồn nitrogen là yếu tố giới hạn, cần

thiết cho quá trình sinh trưởng và phát triển bình thường chủa chúng vì đạm cần

cho sự mọc mầm và sự thẩm thấu của tế bào (Dasdupta, 2000). Nấm Fusarium phát

triển ở nhiệt độ 50C- 300C, thuận lợi nhất 180C- 300C, ẩm độ 80-90%.

Mầm bệnh: Nấm F. solani ln hiện diện trong đất nhưng cần có điều kiện

thích hợp để phát triển và gây hại. Bên cạnh đó, vết thương cơ giới do tuyến trùng

và cơn trùng tạo ra cũng là cửa ngõ để nấm xâm nhập và gây hại.

Điều kiện đất và nước: Đất có thành phần sét cao trong sa cấu, chai cứng

trong mùa nắng và dẻo quánh trong mùa mưa tạo ra tình trạng tế khổng trong đất

rất nhỏ, làm cho đất khó thốt nước sau các đợt mưa dài ngày vào giữa và cuối mùa

mưa. Đất bị nước chiếm các tế khổng lâu dài nên rơi vào tình trạng yếm khí do oi

nước. Tình trạng này kéo dài làm cho rễ cây trồng cạn phải hơ hấp yếm khí lâu dài,

các chất độc do các tiến trình sinh hóa trong tế bào rễ sinh ra, khơng được oxít hố

để giải độc, tích luỹ trong tế bào và gây ngộ độc cho tế bào. Từ đó các tế bào ở rễ

non sẽ bị chết dần tạo thành các mảng thối ở rễ non. Khi đó nấm F. Solani có sẵn

trong đất sẽ xâm nhập qua các vết thối này.

Đất chua pH từ 3,9 đến 4,5. Theo Dương Minh và ctv. (2004) báo cáo các

vườn cây có múi mắc bệnh tai 5 tỉnh Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp,

Tiền Giang có pH từ 3,9 đến 4,4.

=> Kể từ khi bắt đầu xâm nhập cho đến khi triệu chứng bệnh thể hiện cần có

thời gian ủ bệnh vài tháng, do đó ở các vườn, bệnh không xuất hiện ngay mùa mưa,

lúc đất bị oi nước, mà bệnh thường xuất hiện nghiêm trọng trong đầu mùa nắng.

4.2 Điều kiện canh tác

Theo Phạm Văn Kim (2004), bệnh có thể xảy ra quanh năm nhưng lẻ tẻ,

khơng đáng kể. Bệnh thường phát triển thành dịch vào đầu mùa nắng, tháng 11 và

12 dl hằng năm. Cây chết hàng loạt vào tháng 1 đến tháng 4 dl và có thể tiếp tục

kéo dài trong mùa mưa năm sau.

Vườn mới lên líp trồng cây có múi, cây bắt đầu chết vì bệnh thối rễ từ năm

thứ năm cho đến năm thứ bảy trở về sau, tuỳ cách canh tác của từng vườn, vườn đã

lên líp lâu năm và được tạo lại để trồng cây có múi (qt hoặc cam) thì cây trồng

bắt đầu thối rễ và chết cây vào sau vụ thu hoạch trái thứ hai và cây chết nhiều sau

vụ thu hoạch trái thứ ba và thứ tư

Khi trồng cây có múi theo lối trồng ba hàng trên mỗi líp thì hàng giữa bị

bệnh và chết trước hai hàng bên. Các vườn cây bệnh và chết đều là những vườn

7



khơng được bón phân hữu cơ mà chỉ được bón phân hố học. Gần như các vườn

đều khơng được bón vơi.

Nấm bệnh thường xt hiện ở mức trung bình trên các vườn cam Sành, cam

Mật, quýt Orlando, chanh Giấy, chanh Núm…. Và gây hại khá nặng trên các vườn

quýt Tiều, bưởi và các vườn cam quýt sử dụng gốc ghép chanh Volka (Dương

Minh, 2010)

4.3 Hệ vi sinh vật đất

Sự canh tranh giữa các vi sinh vật với nhau tạo nên sự cân bằng sinh học của

hệ sinh thái, nhất là hệ sinh thái đất. Đất không được cung cấp chất hữu cơ hằng

năm, sau một thời gian chất hữu cơ trong đất sẽ bị vi sinh vật khống hóa và mất đi,

dẫn đến chất hữu cơ trong đất bị cạn kiệt và hệ vi sinh vật trong đất bị ảnh hưởng

nghiêm trọng và hệ vi sinh vật phát triển sẽ nghiên về hướng có lợi cho dịch bệnh

phát triển. Bên cạnh đó, các vi sinh vật khác như tuyến trùng, Phytophthora có thể

tấn cơng gây hại và mở đường cho nấm F. solani tấn công gây hại tiếp theo (Olsen

et al., 2000).

Khơng bón vơi, đất ruộng ở đồng bằng sơng Cửu Long vốn có pH thấp, mỗi

năm được phù sa bồi đắp thêm một lượng vôi nhất định. Tuy nhiên, số lượng này

khơng đáng kể. Vì vậy, khi lên líp trồng cây ăn trái thì khơng còn được bồi đắp

thêm. Hằng năm nước mưa rửa trôi đi một lượng Ca 2+ trong đất làm cạn kiệt nguồn

Ca2+ dự trữ trong đất. Như vậy, sau vài năm canh tác nếu khơng được bổ sung vơi

kịp thời thì pH đất ở đây sẽ giảm xuống thấp dưới 5. pH thấp sẽ ảnh hưởng đến sự

phát triển của các chủng vi sinh vật đất và sự thiếu chất hữu cơ của đất càng làm

giảm sự nghèo hóa chủng loại và số lượng của hệ vi sinh vật đất. Kết quả, hiệu quả

đối kháng của hệ vi sinh vật đất khơng còn và mầm bệnh tự do hoạt động gây hại

cho cây (Phạm Văn Kim, 2004).

5 Sự tương tác giữa mầm bệnh và vi sinh vật

Theo Burgess và ctv., (1994) hầu hết những mầm bệnh có nguồn gốc từ đất

bị giớ hạn khả năng hoạt động trong đất bởi sự cạnh tranh hay đối kháng với những

vi sinh vật khác.

5.1 Vi khuẩn vùng rễ

Các vi sinh vật vùng rễ có thể là tác nhân kiểm soát sinh học lý tưởng đối

với các bệnh có nguồn gốc từ đất, chúng có thể bảo vệ vùng rễ cây của trồng tránh

sự tấn công của mầm bệnh. Khả năng ức chế mầm bệnh của vi khuẩn vùng rễ dựa

trên những cơ chế khác nhau như khả năng cạnh tranh về dinh dưỡng và chỗ ở, khả

năng sản xuất và tiết chất kháng sinh như pyrrolnitrin, pyocyanine, 2,4-diacetyl

phloroglucinol và tạo siderphores (Ramarnoorth và ctv., 2001 trích dẫn bởi )

PGPR (Plant Growth Promoting Rhizobacteria) gọi là vi khuẩn vùng rễ thúc

đẩy sự tăng trưởng thực vật, ảnh hưởng lên sự phát triển của cây trồng bằng nhiều

8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Độc tính của nấm Fusarium đối với cây trồng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×