Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.1 . Tuyến giáp nhìn từ trước [16]

Hình 1.1 . Tuyến giáp nhìn từ trước [16]

Tải bản đầy đủ - 0trang

12



Thùy tuyến giáp có hình tháp 3 mặt, 2 bờ và 2 cực, dài 5-8 cm, rộng từ

2-4 cm, trọng lượng 40-42g, nằm trước bên khí quản, trải dài từ hai bên sụn

giáp đến vòng sụn khí quản thứ năm.

-



Các mặt:



+ Mặt ngồi hay mặt nơng : lồi ra trước, được phủ bởi lớp nơng là cơ

ức-móng và bụng trên của cơ vai-móng, lớp sâu là cơ ức giáp.

+ Mặt trong liên quan tới thanh quản, khí quản, thực quản, cơ khít hầu

dưới, nhánh ngồi của TK thanh quản trên và với TK thanh quản quặt ngược.

+ Mặt sau ngoài liên quan với bao cảnh.

-



Các bờ :



+ Bờ trước liên quan với nhánh trước của ĐM giáp trên.

+ Bờ sau tròn, ở dưới liên quan với ĐM giáp dưới và ngành nối với

nhánh sau của ĐM giáp trên, ở bờ sau có các tuyến cận giáp.

- Các cực:

+ Cực trên liên quan với ĐM giáp trên.

+ Cực dưới, liên quan với bó mạch giáp dưới và ống ngực ở bên trái.

1.2.2 Cấu tạo tuyến giáp

TG được bọc trong bao mô liên kết mỏng, mỗi nang tuyến có một hàng

tế bào biểu mơ trụ, hình dạng phụ thuộc vào tình trạng hoạt động của tuyến.

Mỗi nang tuyến là một tiểu thuỳ tuyến. Như vậy, TG có rất nhiều tiểu thuỳ.

Mơ liên kết nằm giữa các nang tuyến gọi là chất đệm [16],[17].

1.2.3 Các phương tiện cố định

-



Bao tạng đính chặt TG vào khung thanh quản.



-



Dây chằng treo trước từ mặt giữa trên của mỗi thuỳ tới sụn giáp và sụn nhẫn.



-



Mặt sau giữa dính vào cạnh của sụn nhẫn, vòng khí quản thứ nhất và

thứ hai bởi dây chằng treo sau (dây chằng Berry).



-



TK TQQN, mạch, tổ chức liên kết cũng tham gia vào cố định TG.



13



Hình 1.2. Các phương tiện cố định tuyến giáp .

(Trích từ Atlas giải phẫu người của Frank H. Nnetter- NXB Y học- 1996)

1.2.4 Mạch máu tuyến giáp

Cấp máu cho tuyến giáp chủ yếu là động mạch giáp trên và động mạch

giáp dưới. Giữa các động mạch này có sự kết nối phong phú cùng bên và

đối bên.

Động mạch giáp trên: là động mạch lớn nhất và là nhánh trước đầu tiên

của động mạch cảnh ngoài (rất hiếm gặp ở chỗ phân đôi của động mạch cảnh

chung), sát ở cực trên của thuỳ tuyến. Động mạch giáp trên đi xuống ở mặt

bên thanh quản bị cơ vai móng và cơ giáp móng phủ lên. Nó phân chia hoặc

ở chỗ tiếp xúc với tuyến hoặc ở xa thành 3 nhánh:

+ Nhánh trong đi xuống về phía trong của cực trên trước khi nối với

nhánh cùng tên bên đối diện ở bờ trên của eo.

+ Nhánh sau nối với nhánh cùng tên đi từ dưới lên.

+ Nhánh ngoài nhỏ hơn, phân phối vào bề mặt trước ngoài của thuỳ.

Động mạch giáp dưới tách ra từ thân giáp cổ của động mạch dưới đòn.

Phần lớn các nhánh của động mạch giáp dưới đi vào TG tại mặt sau của thùy

giáp, còn nhánh dọc của nó đi lên kết nối với động mạch giáp trên ở gần cực

trên. Các nhánh của động mạch giáp dưới thường đi cùng với thần kinh



14



thanh quản quặt ngược trong rãnh khí - thực quản.

Tham gia cấp máu cho TG còn có động mạch giáp dưới cùng, tách ra từ

thân cánh tay đầu hoặc từ cung động mạch chủ, đi lên phía trước khí quản

vào eo tuyến.

Tĩnh mạch(TM):

Các TM của TG tạo nên các đám rối ở trên mặt tuyến và phía trước khí

quản, đổ vào các TM giáp trên, giáp dưới và giáp giữa. Chỉ có TM giáp

trên đi theo ĐM cùng tên. TM giáp giữa từ mặt bên của tuyến, gần cực

dưới, chạy ngang ra ngoài, đổ vào TM cảnh trong. TM giáp dưới bên phải

đi xuống trước khí quản và đổ vào TM cánh tay đầu phải còn TM giáp

dưới bên trái đi xuống dưới trước khí quản, qua cơ ức giáp đổ vào thân

TM cánh tay đầu trái. Các TM giáp dưới có thể tạo thành đám rối TM

trước khí quản [16], [17].

1.2.5 Dẫn lưu bạch huyết ( BH) của tuyến giáp.

Dẫn lưu BH của TG bên trái đổ vào ống ngực và bên phải đổ vào ống

BH phải.

Vùng đầu cổ có 200 hạch BH, các hạch BH vùng cổ được chia làm 7

vùng từ I - VII theo Hiệp Hội Đầu Cổ Hoa Kỳ [18].

Vùng I: hạch dưới cằm và dưới hàm.

Vùng II: hạch cảnh trên.

Vùng III: hạch cảnh giữa.

Vùng IV: hạch cảnh dưới.

Vùng V: hạch thượng đòn và tam giác sau.

Vùng VI: hạch khoang trung tâm gồm.

- Hạch trước thanh quản.

- Hạch trước khí quản.

- Hạch cạnh khí quản.



15



Vùng VII: Hạch trung thất trên.

TG chứa mạng BH dày đặc nối với nhau ở vùng eo, rời TG đi theo các

mạch máu lớn của tuyến.

Mạch BH ở phía trên theo ĐM giáp trên.

Mạch BH phía dưới theo ĐM giáp dưới và TM giáp giữa. Dòng lympho

ban đầu có xu hướng đi vào hạch nhóm VI cùng bên.

Ở cực trên, thùy tháp và eo tuyến, hạch BH dẫn lưu lên phía trên, đi vào

hạch nhóm II và nhóm III, hệ BH ở cực dưới ban đầu dẫn lưu vào hạch nhóm

VI sau đó vào nhóm IV và nhóm VII.

Di căn hạch lympho thường xẩy ra theo thứ tự: ban đầu đi tới hạch

nhóm VI cùng bên sau đó di chuyển lên hạch cổ bên cùng bên rồi đi đến

những hạch cổ bên ở bên đối diện.

Tuy nhiên vẫn xẩy ra di căn kiểu nhảy cách.

Giữa đám rối BH trong niêm mạc khí quản và của TG có sự thơng

thương trực tiếp với nhau. Điều này giải thích những trường hợp UTTG có di

căn sớm vào hạch trước khí quản (tương ứng với eo giáp).



Hình 1.3. Phân nhóm vùng hạch cổ theo Hiệp hội Đầu Cổ Hoa Kì [18]



16



- ĐM cảnh chung là mốc để phân biệt khoang BH trung tâm và khoang

bên, đó là những khoang thường được tiến hành nạo vét hạch trong UTTG.

1.2.6. Liên quan của tuyến giáp.

Mặt trước ngồi liên quan với cơ ức giáp, cơ vai móng, cơ ức móng

Mặt sau liên quan với bao cảnh, TK và tuyến cận giáp,

Mặt trong liên quan đến thực quản, dây TK TQQN, chủ yếu là dây TK

TQQN trái, do những liên quan này, khi bị chèn ép sẽ gây khó thở, khàn

tiếng, nuốt vướng.

Sau eo TG là sụn khí quản, nên TG di chuyển theo thanh khí quản khi

nuốt, đây là đặc điểm giúp phân biệt khối u của TG với các khối u khác ở cổ

[16], [17].

1.2.7 Giải phẫu các thành phần liên quan.



Hình 1.4. Sơ đồ cắt ngang qua đốt sống cổ 5

(Trích từ Atlas giải phẫu người của Frank H. Netter – NXB Y học – 1996)



17







ĐM cảnh chung

ĐM cảch chung trái tách trực tiếp từ cung ĐM chủ còn bên phải là một



trong hai nhánh tận của ĐM thân cánh tay đầu.

- Liên quan:

+ Thành trong là hầu, thực quản, thanh quản, khí quản, thuỳ bên TG và

dây TK TQQN.

+ ĐM cảnh chung thường chỉ đi qua cổ và không cho nhánh bên nào [17].





TM cảnh ngồi :

Đổ vào TM dưới đòn, ở phía ngồi cơ bậc thang trước.







TM cảnh trong .

Đi cùng với ĐM cảnh trong ở trên, ĐM cảnh chung ở dưới và dây thần



kinh X.

ĐM và TM cảnh trong nằm trong bao cảnh hai bên cổ dọc theo chiều dài

của thuỳ TG. Đây là những thành phần rất nguy hiểm khi bị tổn thương.



Hình 1.5. Mạch máu vùng cổ và tuyến giáp (nhìn thẳng)

(Trích từ Atlas giải phẫu người của Frank H. Netter- NXB Y học- 1996)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.1 . Tuyến giáp nhìn từ trước [16]

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×