Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nguồn: Hồi sức cấp cứu sơ sinh. American Academy of Pediatrics

Nguồn: Hồi sức cấp cứu sơ sinh. American Academy of Pediatrics

Tải bản đầy đủ - 0trang

17



1.6. Khái niệm về cấp cứu y tế , .

Cấp cứu trong y tế được hiểu là một hoạt động nhằm can thiệp nhanh,

kịp thời để cứu sống BN, hồi phục chức năng sống hoặc làm cho BN giảm bớt

đau đớn quá mức. Mục đích chính của cấp cứu là làm ổn định tình trạng bệnh,

thốt khỏi tình trạng bệnh đe dọa tính mạng hay thương tích có nguy cơ để lại

di chứng lâu dài.

Khác với y học dự phòng hay chăm sóc sức ban đầu, chăm sóc cấp cứu

tập trung vào nhiệm vụ tức khắc hay cấp cứu, gồm hai vấn đề chính:

Đánh giá chẩn đốn nhanh và can thiệp sớm, làm thốt khỏi tình trạng

bệnh nguy kịch, tránh tử vong và di chứng.

Khác với hồi sức cấp cứu hay điều trị tích cực, mục đích của cấp cứu là

duy trì chức năng sống sau khi đã cấp cứu, làm lui các tình trạng bệnh nặng,

cứu sống người bệnh, hạn chế di chứng lâu dài.

Nhiệm vụ của khoa cấp cứu là làm ổn định các tình trạng bệnh đủ mọi

chuyên khoa trước khi tiến hành các cấp cứu chuyên khoa. Khoa cấp cứu không

phải chỉ là nơi tiếp nhận BN, mà trước hết là làm phân loại và cấp cứu ban đầu,

làm cho tình trạng bệnh lý cấp cứu hoàn toàn được ổn định.

1.6.1. Các thành tố cơ bản của hệ thống cấp cứu

Hoạt động cấp cứu gồm ba thành tố:

• Chăm sóc cấp cứu ở cộng đồng.

• Chăm sóc cấp cứu trong q trình vận chuyển.

• Chăm sóc cấp cứu ở các cơ sở y tế tiếp nhận.

Khái niệm này ứng dụng cho mọi tuyến cấp cứu.

1.6.2. Chăm sóc cấp cứu ở cộng đồng

Chăm sóc cấp cứu ở cộng đồng là thành tố thứ nhất của hoạt động cấp cứu,

có ý nghĩa quan trọng, vì hiệu quả của cấp cứu phụ thuộc rất nhiều vào việc nhận

biết sớm các biểu hiện nặng để xử trí kịp thời và đúng đắn. Chăm sóc cấp cứu ở



18



cộng đồng được coi như một nguồn lực cấp cứu trước bệnh viện. Hầu hết các

tình trạng bệnh cấp cứu đều bắt đầu tại nhà, tại cộng đồng, do đó bất cứ hệ thống

cấp cứu nào cũng đều quan tâm đến chăm sóc cấp cứu tại cộng đồng, cấp cứu

ban đầu, hướng dẫn cho nhân dân, tình nguyện viên, cán bộ y tế cơ sở biết cách

nhận biết, phát hiện sớm các biểu hiện bệnh nặng cần cấp cứu kịp thời. Phát hiện

sớm trẻ mắc bệnh và phát hiện sớm triệu chứng bệnh nặng, góp phần quan trọng

để cấp cứu thành cơng, hạn chế tử vong.

1.6.3. Vận chuyển cấp cứu

Những trẻ em bị bệnh nặng hoặc chấn thương đầu tiên được đưa đến các

trạm cấp cứu. Tại đó, trẻ được điều trị cấp cứu nhưng những nơi này thường

khơng có khả năng hồi sức và điều trị chuyên sâu. Vì vậy, những trẻ này phải

được chuyển lên các khoa hồi sức nhi khoa, các BV chuyên sâu, BV tuyến

trên.

Nếu trẻ được vận chuyển không đúng phương pháp do những người

không được đào tạo về vận chuyển cấp cứu, có thể làm cho tình trạng của trẻ

nặng lên.

Tại Anh, hội hồi sức nhi khoa có quy định về thực hành vận chuyển BN.

Việc vận chuyển BN do các nhóm chuyên gia vận chuyển BN thực hiện. Các

nhóm vận chuyển có thể đảm trách vận chuyển BN tới các phòng hồi sức cấp

cứu nhi khoa hoặc các chuyên khoa đặc biệt khác như khoa thần kinh. Ngoài ra

trong cùng một BV, bệnh nhân cũng thường được chuyển từ khoa này sang khoa

khác và những khi chuyển BN như vậy cũng có khi có các tai biến liên quan tới

việc vận chuyển này.

Các nguyên tắc cơ bản trong vận chuyển BN phải được thực hiện khi vận

chuyển BN nặng trong phạm vi BV hoặc giữa các BV với nhau.

Vận chuyển cấp cứu tại các nước trên thế giới:



19



Từ khi thành lập các đơn vị hồi sức tích cực đầu tiên trong những năm

1950, nhu cầu về hồi sức tích cực đã phát triển theo cấp số nhân. Khi nhu cầu

vượt quá khả năng cung ứng, hoặc khi đòi hỏi cần phải chăm sóc theo chun

khoa sâu, vận chuyển BN nặng trở nên cần thiết. Chỉ tính riêng ở Anh, hơn

10.000 bệnh nhân cần chuyển viện vào năm 1986 , Ở Mỹ 1 trong 20 BN cần

chăm sóc hồi sức tích cực được chuyển đến BV khác . Cơng tác chuyển viện

có thể cứu sống được các BN nặng nhưng thường chi phí cao, nhiều vấn đề

đầy thử thách và rủi ro. Q trình vận chuyển chính nó gây nên nguy cơ suy

giảm sinh lý và tác dụng phụ. Tỉ lệ các tác dụng phụ tỷ lệ thuận với thời gian

vận chuyển, mức độ nghiêm trọng trước khi chuyển bệnh tật hoặc chấn

thương và sự thiếu kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên y tế hộ tống ,,.

Kể từ cuối những năm 1970, liên quan đến vấn đề an toàn cho người

bệnh đã thúc đẩy một số nghiên cứu về khi nào, thế nào và ở đâu để chuyển

BN nặng. Một trong những kết luận đầu tiên rằng việc hồi sức trước khi

chuyển viện, tiếp tục chăm sóc y tế trong suốt cuộc hành trình, và do đó là

một cuộc chuyển viện được tiến hành chậm hơn nhưng ít xẩy ra sự cố hơn, có

lợi cho bệnh nhân và những kết luận đó được áp dụng cho đến ngày nay.

Năm 1986 Ehrenwerth và các cộng sự đã kết luận rằng, với một đội ngũ vận

chuyển chuyên biệt, sự ổn định huyết động và theo dõi BN thích hợp, những

BN nặng có thể được vận chuyển một cách an tồn.

Vận chuyển cấp cứu tại Việt Nam:

Tiêu chí vận chuyển BN an toàn : Bệnh nhân được vận chuyển an tồn khi có

đủ các tiêu chuẩn sau:

- BN phải được hồi sức ổn định về hơ hấp, tuần hồn, thần kinh, thân

nhiệt trước khi vận chuyển.

- Nhân viên phải được đào tạo lớp cấp cứu.

- Phải liên hệ và trao đổi về tình trạng BN với nơi nhận BN.



20



- Vận chuyển bằng xe chuyên dụng, có đủ thuốc, trang thiết bị cấp cứu,

hồ sơ bệnh án, kết quả xét nghiệm đã làm.

- Phải thơng tin và giải thích cho bố mẹ BN trước khi vận chuyển.

- Khi BN đến, cơ sở tiếp nhận phải chuẩn bị đầy đủ kíp cấp cứu, trang

thiết bị, thuốc cấp cứu.

- Nhân viên vận chuyển phải bàn giao cụ thể, xử trí BN trong quá trình

chuyển viện nếu có.

Bệnh nhân được xem là vận chuyển khơng an tồn khi khơng đủ 1 trong

7 tiêu trí trên.

Nghiên cứu của tác giả Lê Thanh Hải và cộng sự có khoảng 2/3 (65% &

70%) số BN chuyển viện ở lứa tuổi sơ sinh, điều đó chứng tỏ rằng cấp cứu sơ

sinh tuyến dưới còn yếu và thiếu, nhiều BV chưa có khoa sơ sinh hoặc có chỉ là

hình thức, 43% BV tỉnh có tổ chức phòng cấp cứu sơ sinh riêng nhưng chưa đầy

đủ, nó cũng giải thích nguyên nhân quá tải bệnh nhân sơ sinh ở các tuyến trên.



21



Hình 1.3. Sơ đồ tổ chức vận chuyển cấp cứu đến BV Nhi Trung ương

Các thành tố vận chuyển cấp cứu an toàn ở trẻ em bao gồm sự ổn định

tình trạng của bệnh nhi, sự liên hệ - trao đổi thông tin về bệnh nhi với nơi

chuyển đến, chuẩn bị và thực hiện vận chuyển an toàn cho bệnh nhi và điều

kiện tiếp nhận, xử trí của Khoa Cấp cứu Bệnh viện Nhi Trung ương



Hình 1.4. Sơ đồ tổ chức vận chuyển cấp cứu đến BV Nhi Trung ương

Nghiên cứu cho thấy hầu hết các trường hợp vận chuyển từ tuyến tỉnh

đến Khoa Cấp cứu Bệnh viện Nhi Trung ương là khơng an tồn: khơng liên hệ

trước khi chuyển, CBYT vận chuyển còn thiếu về số lượng, kiến thức thực

hành cấp cứu nhi khoa thiếu, trang thiết bị cấp cứu trên xe cứu thương chưa

đầy đủ, còn để bệnh nhân tử vong trên đường vận chuyển và đến khoa cấp

cứu trong tình trạng các dấu hiệu sống khơng ổn định.

Vì vậy cần phải xây dựng hệ thống cấp cứu một cách tồn diện, trong đó

cần đặc biệt chú trọng quá trình vận chuyển cấp cứu bao gồm: đào tạo cấp cứu

nhi khoa cho cán bộ y tế, xây dựng đội ngũ vận chuyển cấp cứu chuyên nghiệp



22



và tăng cường trang thiết bị thuốc cấp cứu phục vụ cho cơng tác vận chuyển cấp

cứu. Điều này cần có sự quan tâm của Lãnh đạo Bộ Y tế, Bệnh viện Nhi Trung

ương và của các bệnh viện trong hệ thống y tế về trang thiết bị cũng như về đào

tạo và xây dựng hệ thống chuyển viện đồng bộ và có chất lượng.



CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.1. Tiêu chuẩn chọn mẫu

- Trẻ sơ sinh được điều trị và tử vong trong 24 giờ đầu nhập viện tại

Bệnh viện Nhi Trung ương.

- Trẻ sơ sinh được điều trị, bệnh quá nặng xin về mà chắc chắn tử vong

trong 24 giờ đầu nhập viện (ngừng thở hoàn toàn, tim rời rạc, mất hết các

phản xạ, hạ thân nhiệt, đồng tử giãn tối đa).

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ:

- Trẻ sơ sinh vào cấp cứu tử vong sau 24 giờ nhập viện.

- Trẻ sơ sinh tử vong ngoại viện.

- Trẻ sơ sinh bệnh nặng xin về nhưng không chắc chắn tử vong trong 24

giờ đầu nhập viện.

2.2. Phương pháp nghiên cứu:

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang



23



SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU

2.2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: Từ 1/7/2016 đến hết ngày 30/6/2017

Địa điểm: Khoa Hồi sức sơ sinh, khoa cấp cứu chống độc Bệnh viện Nhi

Trung ương.

2.2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu

2.2.3.1. Các biến số cho mục tiêu 1:

+ Họ và tên, tuổi tử vong (theo ngày), giới, địa chỉ, ngày giờ vào viện,

ngày giờ tử vong. Tuổi TV= Ngày chết- Ngày sinh

TVSS sớm: Tuổi TV < 7 ngày

TVSS muộn: Tuổi TV ≥ 7 ngày

+ Tiền sử sản khoa:

- Tuổi thai: Dựa vào hồ sơ chuyển viện, hoặc đánh giá tuổi thai

theo thang điểm Finston (Phụ lục 1) :

Sơ sinh cực non: Tuổi thai < 28 tuần

Sơ sinh rất non: Tuổi thai 28- 32 tuần

Sơ sinh non: Tuổi thai 33- 36 tuần



24



Đủ tháng: Tuổi thai ≥ 37 tuần

- Trẻ có tuổi thai ≤ 32 tuần: Liệu pháp steroid cho mẹ, chia làm 2 nhóm:

Nhóm có mẹ được sử dụng liệu pháp steroid đầy đủ

(Bethamethason, tiêm bắp 2 liều 12 mg/ mỗi 24 giờ. Hoặc dexamethasone, tiêm

bắp 4 liều 6 mg, mỗi 12 giờ).

Nhóm mẹ không được sử dụng steroid, hoặc sử dụng liệu pháp

khơng đầy đủ

- Cân nặng khi sinh, chia 5 nhóm:

Nhóm trẻ có cân nặng khi sinh <1000gr

Nhóm trẻ có cân nặng khi sinh từ 1000gr- 1499gr

Nhóm trẻ có cân nặng khi sinh từ 1500gr- 1999gr

Nhóm trẻ có cân nặng khi sinh từ 2000gr- 2499gr

Nhóm trẻ có cân nặng khi sinh ≥2500gr

- Nơi sinh: Dựa vào hồ sơ chuyển viện hoặc người nhà BN, chia

làm 4 nhóm:

BV chuyên khoa Phụ sản, BV Sản- Nhi, BVĐK tỉnh

BV huyện, BVĐK khu vực

Trạm y tế xã

Sinh tại nhà

- Tình trạng sau sinh: Dựa vào chỉ số apgar từ hồ sơ bệnh án

chuyển viện (phụ lục 2) , chia làm 2 nhóm :

Khơng SHH: Trẻ khóc to, hồng hào, chỉ số apgar thời điểm 1

phút ≥7 điểm

SHH: Trẻ có chỉ số apgar thời điểm 1 phút < 7 điểm

+ Tiền sử bệnh tật của trẻ. Nếu có dị tật bẩm sinh: Loại dị tật, dị tật được

chẩn đoán trước sinh, chẩn đoán sau sinh.

+ Bệnh của bà mẹ, nếu có bệnh gì?. Bệnh của mẹ được điều trị khỏi



25



trước khi mang thai hoặc không được điều trị.

+ Chẩn đoán bệnh khi tử vong (theo ICD- 10) : Là chẩn đoán cuối

cùng khi trẻ tử vong được ghi chép trong hồ sơ bệnh án bởi bác sỹ điều trị.

+ Phân loại nguyên nhân bệnh gây TV: Theo phân loại nguyên nhân

TVSS của Hiệp hội Tử vong Chu sinh Úc- NewZealand (phụ lục 3)

2.2.3.2. Các biến số cho mục tiêu 2:

+ Các yếu tố văn hóa xã hội:

- Trình độ văn hóa của cha mẹ: Chia 2 nhóm

Nhóm cha mẹ có trình độ từ đại học, cao đẳng trở lên

Nhóm cha mẹ có trình độ tử tiểu học, THCS, THPT

- Nghề nghiệp của mẹ: Chia 5 nhóm:

Nhóm có mẹ là cán bộ

Nhóm có mẹ là cơng nhân

Nhóm có mẹ là nơng dân

Nhóm có mẹ làm kinh doanh

Nhóm có mẹ làm nội trợ, tự do

- Thời gian từ khi khởi phát bệnh đến khi vào viện: Tính từ khi trẻ bắt

đầu có dấu hiệu bệnh đến khi trẻ được đưa vào cơ sở y tế đầu tiên. Trẻ được sinh

tại bệnh viện chưa ra viện được tính thời gian < 24 giờ. Chia 3 nhóm:

Thời gian từ khi khởi phát bệnh đến khi viện < 24 giờ

Thời gian từ khi khởi phát bệnh đến khi viện 1- 3 ngày

Thời gian từ khi khởi phát bệnh đến khi viện > 3 ngày

+ Các yếu tố chuyển viện

- Nơi chuyển bệnh nhân đến:

Các BV chuyên khoa Phụ sản, BV Sản Nhi, BV đa khoa tỉnh

BV đa khoa huyện, BV đa khoa khu vực



26



Chuyển từ trạm y tế xã, phường, y tế tư nhân

Tự đến

- Khoảng cách từ nơi chuyển viện đến BV Nhi Trung ương: Là

khoảng cách ước tính từ nơi chuyển đến BV Nhi Trung ương. Chúng tôi chia

3 nhóm:

Khoảng cách ≤ 10 km

Khoảng cách từ 11- 50 km

Khoảng cách từ > 50 km

- Các dấu hiệu không ổn định trước khi chuyển viện: Được ghi

nhận dựa vào hồ sơ chuyển viện:

SHH: Bệnh nhân tím tái phải thở oxy, hoặc bóp bóng qua

mask, hoặc qua nội khí quản, hoặc đang thở máy (điểm Silverman (phụ lục 4) từ

> 3 điểm)

Sốc: Dựa vào ghi nhận của bác sỹ tuyến dưới hoặc căn cứ

bệnh nhân đang được điều trị thuốc vận mạch

Hôn mê: Ghi nhận từ hồ sơ chuyển tuyến (AVPU: P, AVPU: U)

- Điều kiện vận chuyển: Dựa vào ghi chép trong hồ sơ chuyển

tuyến và phỏng vấn nhân viên y tế hộ tống:

Chuyển viện bằng ô tô chuyên dụng, có đủ thuốc, trang thiết

bị cấp cứu, hồ sơ bệnh án, kết quả xét nghiệm đã làm. Nhân viên vận chuyển

phải được đào tạo lớp cấp cứu

Chuyển viện không đầy đủ các điều kiện trên

+ Các dấu hiệu nặng khi trẻ đến viện: Ghi nhận tại khoa cấp cứu và khoa

HSSS bởi các bác sỹ chuyên khoa Nhi sơ sinh:

- Ngừng thở: BN ngừng thở hồn tồn, được bóp bóng qua nội khí

quản hoặc qua mask, hoặc thở chậm < 20 lần/phút, cơn ngừng thở dài ≥20 giây

- Ngừng tim: Nhịp tim chậm rời rạc hoặc ngừng tim

- Tím tái: Tím mơi, đầu chi hoặc tím tồn thân, SpO2 <90%



27



- Sốc: Mạch nhanh nhẹ, khó bắt, thời gian phục hồi màu da kéo dài

>3 giây, nhịp tim nhanh, huyết áp động mạch trung bình hạ:

Trẻ đẻ non: Huyết áp trung bình <30 mmHg hoặc nhỏ hơn

tuổi thai (tính bằng tuần)

Trẻ đủ tháng: Huyết áp trung bình < 40 mmHg

- Hơn mê: Đánh giá suy thần kinh được chia làm 4 nhóm theo

phân loại tri giác theo các mức độ AVPU như sau:

A: Tỉnh táo

V: Đáp ứng với lời nói

P: Đáp ứng với kích thích đau

U: Khơng đáp ứng

Đánh giá: Hơn mê mức độ AVPU: P, AVPU: U (Trẻ chỉ đáp ứng đau hoặc

không đáp ứng)

- Co giật cơn ngắn, cơn co giật liên tục hoặc cơn giật dài > 30 phút

- Hạ đường huyết: Đường huyết < 2,2 mmol/l

- Rối loạn điện giải nặng: Na+/ máu < 120 mEq/L và/hoặc Na+> 155

mEq/L, K+/máu< 3 mEq/L và/hoặc > 6 mEq/L

- Hạ thân nhiệt: Nhiệt độ cặp nách

Hạ thân nhiệt nhẹ: Thân nhiệt ≤ 360C

Hạ thân nhiệt trung bình: Thân nhiệt 320C- 35,90C

Hạ thân nhiệt nặng: Thân nhiệt < 320C

- Toan chuyển hóa nặng: pH < 7, thiếu hụt kiềm ≥ 12mmol/L

- Rối loạn đông máu: Chảy máu kéo dài nơi tiêm trích, xét nghiệm

đơng máu cơ bản: Tiểu cầu giảm, Fibrinogen giảm, tỷ lệ prothrombin giảm,

APTT kéo dài



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nguồn: Hồi sức cấp cứu sơ sinh. American Academy of Pediatrics

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×