Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Vận chuyển cấp cứu tại các nước trên thế giới:

Vận chuyển cấp cứu tại các nước trên thế giới:

Tải bản đầy đủ - 0trang

19



Từ khi thành lập các đơn vị hồi sức tích cực đầu tiên trong những năm

1950, nhu cầu về hồi sức tích cực đã phát triển theo cấp số nhân. Khi nhu cầu

vượt quá khả năng cung ứng, hoặc khi đòi hỏi cần phải chăm sóc theo chun

khoa sâu, vận chuyển BN nặng trở nên cần thiết. Chỉ tính riêng ở Anh, hơn

10.000 bệnh nhân cần chuyển viện vào năm 1986 , Ở Mỹ 1 trong 20 BN cần

chăm sóc hồi sức tích cực được chuyển đến BV khác . Cơng tác chuyển viện

có thể cứu sống được các BN nặng nhưng thường chi phí cao, nhiều vấn đề

đầy thử thách và rủi ro. Q trình vận chuyển chính nó gây nên nguy cơ suy

giảm sinh lý và tác dụng phụ. Tỉ lệ các tác dụng phụ tỷ lệ thuận với thời gian

vận chuyển, mức độ nghiêm trọng trước khi chuyển bệnh tật hoặc chấn

thương và sự thiếu kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên y tế hộ tống ,,.

Kể từ cuối những năm 1970, liên quan đến vấn đề an toàn cho người

bệnh đã thúc đẩy một số nghiên cứu về khi nào, thế nào và ở đâu để chuyển

BN nặng. Một trong những kết luận đầu tiên rằng việc hồi sức trước khi

chuyển viện, tiếp tục chăm sóc y tế trong suốt cuộc hành trình, và do đó là

một cuộc chuyển viện được tiến hành chậm hơn nhưng ít xẩy ra sự cố hơn, có

lợi cho bệnh nhân và những kết luận đó được áp dụng cho đến ngày nay.

Năm 1986 Ehrenwerth và các cộng sự đã kết luận rằng, với một đội ngũ vận

chuyển chuyên biệt, sự ổn định huyết động và theo dõi BN thích hợp, những

BN nặng có thể được vận chuyển một cách an tồn.

Vận chuyển cấp cứu tại Việt Nam:

Tiêu chí vận chuyển BN an toàn : Bệnh nhân được vận chuyển an tồn khi có

đủ các tiêu chuẩn sau:

- BN phải được hồi sức ổn định về hơ hấp, tuần hồn, thần kinh, thân

nhiệt trước khi vận chuyển.

- Nhân viên phải được đào tạo lớp cấp cứu.

- Phải liên hệ và trao đổi về tình trạng BN với nơi nhận BN.



20



- Vận chuyển bằng xe chuyên dụng, có đủ thuốc, trang thiết bị cấp cứu,

hồ sơ bệnh án, kết quả xét nghiệm đã làm.

- Phải thơng tin và giải thích cho bố mẹ BN trước khi vận chuyển.

- Khi BN đến, cơ sở tiếp nhận phải chuẩn bị đầy đủ kíp cấp cứu, trang

thiết bị, thuốc cấp cứu.

- Nhân viên vận chuyển phải bàn giao cụ thể, xử trí BN trong quá trình

chuyển viện nếu có.

Bệnh nhân được xem là vận chuyển khơng an tồn khi khơng đủ 1 trong

7 tiêu trí trên.

Nghiên cứu của tác giả Lê Thanh Hải và cộng sự có khoảng 2/3 (65% &

70%) số BN chuyển viện ở lứa tuổi sơ sinh, điều đó chứng tỏ rằng cấp cứu sơ

sinh tuyến dưới còn yếu và thiếu, nhiều BV chưa có khoa sơ sinh hoặc có chỉ là

hình thức, 43% BV tỉnh có tổ chức phòng cấp cứu sơ sinh riêng nhưng chưa đầy

đủ, nó cũng giải thích nguyên nhân quá tải bệnh nhân sơ sinh ở các tuyến trên.



21



Hình 1.3. Sơ đồ tổ chức vận chuyển cấp cứu đến BV Nhi Trung ương

Các thành tố vận chuyển cấp cứu an toàn ở trẻ em bao gồm sự ổn định

tình trạng của bệnh nhi, sự liên hệ - trao đổi thông tin về bệnh nhi với nơi

chuyển đến, chuẩn bị và thực hiện vận chuyển an toàn cho bệnh nhi và điều

kiện tiếp nhận, xử trí của Khoa Cấp cứu Bệnh viện Nhi Trung ương



Hình 1.4. Sơ đồ tổ chức vận chuyển cấp cứu đến BV Nhi Trung ương

Nghiên cứu cho thấy hầu hết các trường hợp vận chuyển từ tuyến tỉnh

đến Khoa Cấp cứu Bệnh viện Nhi Trung ương là khơng an tồn: khơng liên hệ

trước khi chuyển, CBYT vận chuyển còn thiếu về số lượng, kiến thức thực

hành cấp cứu nhi khoa thiếu, trang thiết bị cấp cứu trên xe cứu thương chưa

đầy đủ, còn để bệnh nhân tử vong trên đường vận chuyển và đến khoa cấp

cứu trong tình trạng các dấu hiệu sống khơng ổn định.

Vì vậy cần phải xây dựng hệ thống cấp cứu một cách tồn diện, trong đó

cần đặc biệt chú trọng quá trình vận chuyển cấp cứu bao gồm: đào tạo cấp cứu

nhi khoa cho cán bộ y tế, xây dựng đội ngũ vận chuyển cấp cứu chuyên nghiệp



22



và tăng cường trang thiết bị thuốc cấp cứu phục vụ cho cơng tác vận chuyển cấp

cứu. Điều này cần có sự quan tâm của Lãnh đạo Bộ Y tế, Bệnh viện Nhi Trung

ương và của các bệnh viện trong hệ thống y tế về trang thiết bị cũng như về đào

tạo và xây dựng hệ thống chuyển viện đồng bộ và có chất lượng.



CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.1. Tiêu chuẩn chọn mẫu

- Trẻ sơ sinh được điều trị và tử vong trong 24 giờ đầu nhập viện tại

Bệnh viện Nhi Trung ương.

- Trẻ sơ sinh được điều trị, bệnh quá nặng xin về mà chắc chắn tử vong

trong 24 giờ đầu nhập viện (ngừng thở hoàn toàn, tim rời rạc, mất hết các

phản xạ, hạ thân nhiệt, đồng tử giãn tối đa).

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ:

- Trẻ sơ sinh vào cấp cứu tử vong sau 24 giờ nhập viện.

- Trẻ sơ sinh tử vong ngoại viện.

- Trẻ sơ sinh bệnh nặng xin về nhưng không chắc chắn tử vong trong 24

giờ đầu nhập viện.

2.2. Phương pháp nghiên cứu:

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang



23



SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU

2.2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: Từ 1/7/2016 đến hết ngày 30/6/2017

Địa điểm: Khoa Hồi sức sơ sinh, khoa cấp cứu chống độc Bệnh viện Nhi

Trung ương.

2.2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu

2.2.3.1. Các biến số cho mục tiêu 1:

+ Họ và tên, tuổi tử vong (theo ngày), giới, địa chỉ, ngày giờ vào viện,

ngày giờ tử vong. Tuổi TV= Ngày chết- Ngày sinh

TVSS sớm: Tuổi TV < 7 ngày

TVSS muộn: Tuổi TV ≥ 7 ngày

+ Tiền sử sản khoa:

- Tuổi thai: Dựa vào hồ sơ chuyển viện, hoặc đánh giá tuổi thai

theo thang điểm Finston (Phụ lục 1) :

Sơ sinh cực non: Tuổi thai < 28 tuần

Sơ sinh rất non: Tuổi thai 28- 32 tuần

Sơ sinh non: Tuổi thai 33- 36 tuần



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Vận chuyển cấp cứu tại các nước trên thế giới:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×