Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Phù rau thai, cân nặng lúc sinh lớn

- Phù rau thai, cân nặng lúc sinh lớn

Tải bản đầy đủ - 0trang

16



trong một khung. Bên dưới mỗi khung là một điểm quyết định để giúp liệu có

cần phải tiến hành bước hồi sức kế tiếp hay khơng.



Hình 1.4. Lưu đồ hồi sức sơ sinh

Nguồn: Hồi sức cấp cứu sơ sinh. American Academy of Pediatrics



17



1.6. Khái niệm về cấp cứu y tế , .

Cấp cứu trong y tế được hiểu là một hoạt động nhằm can thiệp nhanh,

kịp thời để cứu sống BN, hồi phục chức năng sống hoặc làm cho BN giảm bớt

đau đớn quá mức. Mục đích chính của cấp cứu là làm ổn định tình trạng bệnh,

thốt khỏi tình trạng bệnh đe dọa tính mạng hay thương tích có nguy cơ để lại

di chứng lâu dài.

Khác với y học dự phòng hay chăm sóc sức ban đầu, chăm sóc cấp cứu

tập trung vào nhiệm vụ tức khắc hay cấp cứu, gồm hai vấn đề chính:

Đánh giá chẩn đốn nhanh và can thiệp sớm, làm thốt khỏi tình trạng

bệnh nguy kịch, tránh tử vong và di chứng.

Khác với hồi sức cấp cứu hay điều trị tích cực, mục đích của cấp cứu là

duy trì chức năng sống sau khi đã cấp cứu, làm lui các tình trạng bệnh nặng,

cứu sống người bệnh, hạn chế di chứng lâu dài.

Nhiệm vụ của khoa cấp cứu là làm ổn định các tình trạng bệnh đủ mọi

chuyên khoa trước khi tiến hành các cấp cứu chuyên khoa. Khoa cấp cứu không

phải chỉ là nơi tiếp nhận BN, mà trước hết là làm phân loại và cấp cứu ban đầu,

làm cho tình trạng bệnh lý cấp cứu hoàn toàn được ổn định.

1.6.1. Các thành tố cơ bản của hệ thống cấp cứu

Hoạt động cấp cứu gồm ba thành tố:

• Chăm sóc cấp cứu ở cộng đồng.

• Chăm sóc cấp cứu trong q trình vận chuyển.

• Chăm sóc cấp cứu ở các cơ sở y tế tiếp nhận.

Khái niệm này ứng dụng cho mọi tuyến cấp cứu.

1.6.2. Chăm sóc cấp cứu ở cộng đồng

Chăm sóc cấp cứu ở cộng đồng là thành tố thứ nhất của hoạt động cấp cứu,

có ý nghĩa quan trọng, vì hiệu quả của cấp cứu phụ thuộc rất nhiều vào việc nhận

biết sớm các biểu hiện nặng để xử trí kịp thời và đúng đắn. Chăm sóc cấp cứu ở



18



cộng đồng được coi như một nguồn lực cấp cứu trước bệnh viện. Hầu hết các

tình trạng bệnh cấp cứu đều bắt đầu tại nhà, tại cộng đồng, do đó bất cứ hệ thống

cấp cứu nào cũng đều quan tâm đến chăm sóc cấp cứu tại cộng đồng, cấp cứu

ban đầu, hướng dẫn cho nhân dân, tình nguyện viên, cán bộ y tế cơ sở biết cách

nhận biết, phát hiện sớm các biểu hiện bệnh nặng cần cấp cứu kịp thời. Phát hiện

sớm trẻ mắc bệnh và phát hiện sớm triệu chứng bệnh nặng, góp phần quan trọng

để cấp cứu thành cơng, hạn chế tử vong.

1.6.3. Vận chuyển cấp cứu

Những trẻ em bị bệnh nặng hoặc chấn thương đầu tiên được đưa đến các

trạm cấp cứu. Tại đó, trẻ được điều trị cấp cứu nhưng những nơi này thường

khơng có khả năng hồi sức và điều trị chuyên sâu. Vì vậy, những trẻ này phải

được chuyển lên các khoa hồi sức nhi khoa, các BV chuyên sâu, BV tuyến

trên.

Nếu trẻ được vận chuyển không đúng phương pháp do những người

không được đào tạo về vận chuyển cấp cứu, có thể làm cho tình trạng của trẻ

nặng lên.

Tại Anh, hội hồi sức nhi khoa có quy định về thực hành vận chuyển BN.

Việc vận chuyển BN do các nhóm chuyên gia vận chuyển BN thực hiện. Các

nhóm vận chuyển có thể đảm trách vận chuyển BN tới các phòng hồi sức cấp

cứu nhi khoa hoặc các chuyên khoa đặc biệt khác như khoa thần kinh. Ngoài ra

trong cùng một BV, bệnh nhân cũng thường được chuyển từ khoa này sang khoa

khác và những khi chuyển BN như vậy cũng có khi có các tai biến liên quan tới

việc vận chuyển này.

Các nguyên tắc cơ bản trong vận chuyển BN phải được thực hiện khi vận

chuyển BN nặng trong phạm vi BV hoặc giữa các BV với nhau.

Vận chuyển cấp cứu tại các nước trên thế giới:



19



Từ khi thành lập các đơn vị hồi sức tích cực đầu tiên trong những năm

1950, nhu cầu về hồi sức tích cực đã phát triển theo cấp số nhân. Khi nhu cầu

vượt quá khả năng cung ứng, hoặc khi đòi hỏi cần phải chăm sóc theo chun

khoa sâu, vận chuyển BN nặng trở nên cần thiết. Chỉ tính riêng ở Anh, hơn

10.000 bệnh nhân cần chuyển viện vào năm 1986 , Ở Mỹ 1 trong 20 BN cần

chăm sóc hồi sức tích cực được chuyển đến BV khác . Cơng tác chuyển viện

có thể cứu sống được các BN nặng nhưng thường chi phí cao, nhiều vấn đề

đầy thử thách và rủi ro. Quá trình vận chuyển chính nó gây nên nguy cơ suy

giảm sinh lý và tác dụng phụ. Tỉ lệ các tác dụng phụ tỷ lệ thuận với thời gian

vận chuyển, mức độ nghiêm trọng trước khi chuyển bệnh tật hoặc chấn

thương và sự thiếu kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên y tế hộ tống ,,.

Kể từ cuối những năm 1970, liên quan đến vấn đề an toàn cho người

bệnh đã thúc đẩy một số nghiên cứu về khi nào, thế nào và ở đâu để chuyển

BN nặng. Một trong những kết luận đầu tiên rằng việc hồi sức trước khi

chuyển viện, tiếp tục chăm sóc y tế trong suốt cuộc hành trình, và do đó là

một cuộc chuyển viện được tiến hành chậm hơn nhưng ít xẩy ra sự cố hơn, có

lợi cho bệnh nhân và những kết luận đó được áp dụng cho đến ngày nay.

Năm 1986 Ehrenwerth và các cộng sự đã kết luận rằng, với một đội ngũ vận

chuyển chuyên biệt, sự ổn định huyết động và theo dõi BN thích hợp, những

BN nặng có thể được vận chuyển một cách an tồn.

Vận chuyển cấp cứu tại Việt Nam:

Tiêu chí vận chuyển BN an toàn : Bệnh nhân được vận chuyển an tồn khi có

đủ các tiêu chuẩn sau:

- BN phải được hồi sức ổn định về hô hấp, tuần hoàn, thần kinh, thân

nhiệt trước khi vận chuyển.

- Nhân viên phải được đào tạo lớp cấp cứu.

- Phải liên hệ và trao đổi về tình trạng BN với nơi nhận BN.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Phù rau thai, cân nặng lúc sinh lớn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×