Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
IV. Nội soi nhuộm màu ảo (Virtual Chromoendosopy)

IV. Nội soi nhuộm màu ảo (Virtual Chromoendosopy)

Tải bản đầy đủ - 0trang

22



ánh sáng phản xạ lại sau khi chiếu ánh sáng trắng vào mô quan sát. Điều này được

thực hiện nhờ các cảm biến màu CCD (Color charge coupled devide) giúp thu nhận

các bước sóng phản xạ ở các dải tần riêng biệt và xử lý tính tốn, ước lượng quang

phổ. Từ những quang phổ này, một hình ảnh ảo được tái tạo bằng một bước sóng

đơn lẻ. Các tín hiệu điện sau khi được xử lý sẽ tái tạo lại với màu sắc là sự kết hợp

của 3 màu cơ bản là đỏ (R), xanh lá cây (G) và xanh dương (B).



Hình 2.9. Quá trình xử lý màu và thuật toán sử dụng trong chụp ánh sáng FICE

Hiện nay, hệ thống FICE có sử dụng 10 kênh sóng được thiết lập sẵn với 3

bước sóng cơ bản R, G, B. Trong đó kênh sóng 4 (RGB tương ứng 520nm-500nm405nm) và kênh sóng 2 (RGB tương ứng 550nm-500nm-470nm) được ưu tiên sử

dụng phổ biến hơn cả với ưu điểm bước sóng khoảng 400-500 là lý tưởng cho việc

hiển thị và phân tích hình thái bề mặt niệm mạc. Với bước sóng dài hơn (550nm) lại

có hiệu quả tốt hơn trong hiển thị cấu trúc hệ thống mạch máu do khả năng xuyên

sâu hơn xuống lớp dưới niêm mạc và dễ bị hấp thụ bởi Hemoglobin. Đặc biệt tại Nhật

Bản, nhiều nghiên cứu khác nhau chỉ ra kênh FICE 2 có hiệu quả hơn trong việc hiển

thị một cách rõ nét hầu hết các trường hợp ung thư dạ dày [42],[43]. Trong khi đó,

kênh FICE 4 đã hay được sử dụng để đánh giá độ tương phản và phân tích mạch máu,

vùng có mật độ mạch máu tân tạo mới tại các tổn thương polyp ác tính, ung thư ĐTT,

các mạch máu hiển thị rõ có màu tối hơn niêm mạc xung quanh [44]



23



Hình 2.10. Độ xun sâu của 3 bước sóng R, B, G

Các máy nội soi sử dụng hệ thống FICE thế hệ mới của Fujinon cho hình ảnh có

độ phân giải (1 triệu pixel), tương phản và phóng đại rất cao. Điều này cho phép

hiển thị tổn thương rõ ràng hơn cả về hình thái bề mặt và hệ thống mạch máu dưới

niêm mạc.

4.1.2. Các hệ thống phân loại chính

Hiện nay, có nhiều phân loại khác nhau để phân loại hình ảnh FICE trong chẩn

đốn và điều trị bệnh lý polyp và ung thư ĐTT.

4.1.2.1. Hệ thống phân loại hình ảnh FICE mới (Novel Classification system)

Hệ thống phân loại hình ảnh FICE mới của Longcroft-Wheaton và cộng sự là

một hệ thống phân loại sử dụng cho các trường hợp hình ảnh nội soi với hệ thống

FICE nhưng khơng có kết hợp phóng đại về cả đặc điểm màu sắc, hình thái niêm

mạc và mạch máu dưới niêm mạc. Phân loại của Longcroft-Wheaton có những ý

nghĩa nhất định trong đánh giá khả năng phát hiện cũng như mô tả chi tiết đặc điểm

polyp của hệ thống nội soi FICE nếu khơng có phóng đại thì có mức độ tương ứng

với kết quả mô bệnh học.

Bảng 2.4: Hệ thống phân loại hình ảnh FICE khơng phóng đại [45]

Mạch máu dưới

ánh sáng trắng

Mạch máu dưới

ánh sáng FICE

Hình thái mạch



Tăng sản



U tuyến



Ung thư



Nhạt màu (pale)



Tối màu (dark)



Tối màu (dark)



Nhạt màu (pale)



Tối màu (dark)



Rất tối (very dark)



Hình thái mạch



Hình thái mạch



Mạch máu dày đặc



24



máu khơng rõ hoặc

máu xung quanh

mạch mờ nhạt

với hình thái bất

máu

hố niêm mạc bình

khơng chạy theo

thường

thường

hố (crypts)

Hình thái bề mặt Khơng rõ hình thái

Hình thái hố

Hình thái hố khơng

niêm mạc

hố

(crypt) đều, nhỏ

đều, mất cấu trúc.

4.1.2.2. Hệ thống phân loại mạch máu dưới niêm mạc



Hình 2.11: Hệ thống phân loại mạch máu dưới niêm mạc

(Theo Teixeira CR và cộng sự) [22]

A. Type I: Mơ hình mạch máu dưới niêm mạc mỏng, đều, xung quanh các nếp nhăn niêm mạc

B. Type II: Tăng sinh mạch đường kính dày hơn, cong hoặc thẳng nhưng tương đối đồng nhất,

khơng có điểm giãn nở và chạy vòng xung quanh các tuyến niêm mạc.

C. Type III: Tăng sinh nhiều mao mạch với đường kính dày hơn, chạy quanh co không đều, nhiều

điểm giãn như xoắn ốc

D. Type IV: Nhiều mạch máu dài, vặn xoắn hoặc thẳng với đường kính dày hơn, trên mạch nhiều

điểm giãn cách thưa, chạy vòng xung quanh các ống tuyến

E. Type V: Các mao mạch đa hình thái, phân phối và sắp xếp hỗn loạn, khơng đồng nhất; nhiều

mạch dày; có khi mất cấu trúc mạch



Khác với hệ thống phân loại hình ảnh của LongCroft-Wheaton, hệ thống phân

loại hình ảnh FICE của Teixeira CR và cộng sự áp dụng cho hệ thống FICE phóng

đại, cho phép mơ tả đặc điểm của hệ thống mao mạch của cả niêm mạc ĐTT bình

thường và bất thường. Sự phân biệt đặc điểm bất thường của mạch máu dưới niêm

mạc theo các typ I, II, III, IV và V góp phần phân biệt các tổn thương bình thường,

tăng sản và tăng sinh. Đồng thời, kết quả một số nghiên cứu cho thấy, phân loại



25



hình thái mạch máu polyp ĐTT là một phương pháp rõ ràng và kết quả dự đốn có

sự tương đồng cao với kết quả mô bệnh học [22].

4.1.2.3. Phân loại Hiroshima

Phân loại Hiroshima ban đầu được phát triển bởi tác giả Kanao H và cộng sự áp

dụng phân tích đặc điểm hình ảnh nội soi sử dụng hệ thống nội soi dải tần hẹp NBI

phóng đại [46]. Sau đó, dựa trên thang phân loại ban đầu, Yoshida N. và cộng sự đã

có sự cải tiến để nghiên cứu đánh giá đặc điểm hình ảnh thu được của hình ành

FICE phóng đại và NBI phóng đại. Thang Hiroshima cải tiến chia là 4 typ chính:

Typ A, typ B, typ C1/C2 và typ C3, cho phép đánh giá tối ưu cả hình thái bề mặt

niêm mạc và mạch máu dưới niêm mạc. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, phân

loại Hiroshima cải tiến cho hình ảnh hệ thống FICE là có giá trị cao trong dự đốn

kết quả mơ bệnh học [47].



26



Bảng 2.5: Phân loại Hiroshima cải tiến [47]

Phân loại



Hình ảnh



Mơ tả đặc điểm



Typ A



Vi mạch máu khó quan sát. Khơng có các mạch

máu bị cơ lập, chia nhánh phía bên trên thương tổn.

Các điểm nâu, đen hình sao hoặc vòng bao quanh

bởi vòng trắng.



Typ B



Tăng đậm độ các vi mạch quanh pit và độ tương

phản. Hoặc quan sát thấy cấu trúc mạch máu dạng

lưới



C1/C2



Hình thái bề mặt không đều (tăng đậm độ vi mạch

máu và tăng cường hình ảnh). Mạch máu lớn và

mật độ cao hơn.



C3



Hình thái bề mặt khơng rõ. Mạch máu lớn, dày và

khơng đồng nhất. Quan sát có nhiều vùng vơ mạch.



Typ



4.1.3. Ứng dụng

4.1.3.1. Khả năng phát hiện tổn thương

Theo kết quả của nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, nội soi tăng cường màu sắc đa phổ

(FICE) không làm cải thiện tỷ lệ bỏ sót tổn thương polyp u tuyến (adenoma miss

rate) hoặc ung thư so với nội soi ánh sáng trắng [48]. Theo Pohl và cộng sự trong

một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm để đánh giá sự cải thiện tỷ lệ bỏ

sót polyp khi sử dụng nội soi FICE và nội soi ánh sáng thường có nhuộm Indigo

carmin, hệ thống FICE không làm cải thiện khả năng phát hiện các polyp bỏ sót



[49]. Theo Chung S.J. và cộng sự (Hàn Quốc) trong nghiên cứu tiến hành nội soi

sàng lọc polyp u tuyến cho 359 bệnh nhân nguy cơ trung bình có sử dụng FICE và

nội soi thường cho thấy, FICE không làm cải thiện khả năng phát hiện polyp [50].



27



4.1.3.2. Khả năng mô tả chi tiết đặc điểm tổn thương

a. FICE khơng phóng đại



Hình 2.12: Hình ảnh nội soi ánh sáng thường và nội soi FICE không phóng đại

a-c. Polyp (kích thước<5mm) nội soi thường; b-d: Hình ảnh nội soi khơng phóng đại

Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, nội soi FICE khơng phóng đại là hiệu quả

trong chẩn đoán phân biệt polyp tăng sinh và polyp khơng tăng sinh dựa vào hình

thái bề mặt và đánh giá hệ thống mạch máu dưới niêm mạc [44]. Trong một số

nghiên cứu khác, FICE khơng phóng đại có mức độ chẩn đốn chính xác 84,489,4%, độ nhạy là 89,4-93,2%, và độ đặc hiệu 81,2-88%. Bên cạnh đó, khi xem xét

kích thước của polyp, khả năng phân loại của FICE với độ chính xác, độ nhạy và độ

đặc hiệu được ghi nhận ở những polyp > 6mm (97,1%, 95,2%, 90%) là tốt hơn đáng

kể so với phát hiện những polyp kích thước dưới 5 mm [51],[52].

b. FICE phóng đại

FICE phóng đại cho phép phân biệt các polyp tăng sinh – khơng tăng sinh tốt

hơn so với FICE khơng phóng đại và có khả năng dự đốn mức độ xâm lấn của các

polyp ác tính. Theo Santos C.E. và cộng sự trong một nghiên cứu thử nghiệm lâm

sàng ngẫu nhiên có đối chứng sử dụng phương pháp nội soi FICE phóng đại và

nhuộm màu Indigo carmin phóng đại cho thấy, độ nhạy độ đặc hiệu, độ chính xác

của nội soi FICE phóng đại (97,8%, 79,3%, 92,8%) đều có sự tương đồng với nội

soi phóng đại nhuộm màu indigo carmin (97%, 88,9%, 94,9%) trong phân biệt



28



polyp tăng sinh và polyp không tăng sinh [53]. Trong khi đó, Togashi và cộng sự,

độ nhạy, độ đặc hiệu và chẩn đốn chính xác khi sử dụng FICE phóng đại lần lượt

tương ứng với 87%, 93% và 70% [54].

Về khả năng dự đoán mức độ xâm lấn của polyp ác tính của hình ảnh nội soi

FICE phóng đại, theo Yoshida và cộng sự, độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác của

phương pháp là rất cao (tương ứng 98,3%, 77,7% và 100,0%).

4.2. Nội soi dải băng tần hẹp (NBI)

4.2.1. Nguyên lý

Hệ thống nội soi dải tần hẹp NBI được phát triển bởi tập đoàn thiết bị Y tế

Olympus, Nhật Bản. Khác biệt với nội soi truyền thống, NBI dựa vào khả năng

xuyên sâu của ánh sáng đơn sắc [5]. Ánh sáng từ đèn Xenon đi qua bộ lọc màu

quang học tạo ánh sáng có dải tần hẹp (bước sóng 415 – 540 nm). Các cấu trúc vi

mạch máu được nhìn thấy rõ nhất ở ánh sáng có bước sóng ngắn (415 nm) do tương

ứng với dải hấp thụ của hemoglobin, trong khi đó ánh sáng đơn sắc có bước sóng

dài hơn (540 nm) thì lại giúp quan sát những mạch lớn hơn ở sâu lớp dưới niêm

mạc [55]. Như vậy, NBI dù có kết hợp với phóng đại hình ảnh hay khơng thì đều có

thể tăng cường độ tương phản của hình ảnh mạch máu niêm mạc. Hơn thế nữa, NBI

còn cho phép quan sát hình thái lỗ niêm mạc [56].



Hình 2.13: Minh họa sơ đồ hệ thống nội soi NBI (bên phải)



29



4.2.2. Phân loại

4.2.2.1. Phân loại Sano

Bảng 2.6. Phân loại sano

Typ I



Typ II



Mao mạch xuất



Typ IIIA



Mao mạch chia



Typ IIIB



Vi mạch chia



Khơng quan sát



hiện quanh tổn



nhánh bất



nhánh bất







thương



thường

Mật độ mạch



thường

Mất cấu trúc



dày đặc

U tuyến/ nguy



mạch

Ung thư xâm lấn



cơ ác tính cao



dưới niêm mạc



Hệ mao mạch

dạng lưới

(meshed

capillary

vessels)



Mơ bệnh học



Bình thường/

tăng sản



U tuyến



Ví dụ



Năm 2006, Sano Y và cộng sự đã công bố phân loại đầu tiên cho hình thái mạch

máu niêm mạc sử dụng nội soi NBI phóng đại. Phân loại Sano dựa trên sự xem xét

đặc điểm cấu trúc vi mạch máu bề mặt niêm mạc polyp [57]. Trong đó, hình thái

mạch máu (capillary pattern) được chia làm các typ chính là typ I, II, IIIA và IIIB.

Nhiều nghiên cứu chỉ ra, phân loại mạch máu của Sano là đáng tin cậy để mô tả,

đánh giá đặc điểm tổn thương. Theo Singh R và cộng sự, phân loại Sano có độ

nhạy, độ đặc hiệu, giá trị chẩn đốn dương tính và âm tính trong phân biệt các tổn

thương tăng sinh từ tổn thương không tăng sinh là rất cao (lần lượt 98%, 89%, 93%

và 97%) [58]. Tuy nhiên, do chỉ dựa vào đặc điểm mạch máu và sử dụng chủ yếu

cho hình ảnh NBI phóng đại nên phân loại Sano không hiệu quả với các tổn thương

phát hiện trên NBI khơng phóng đại hoặc các tổn thương xâm lấn.



4.2.2.2. Phân loại NICE



30



Bảng 2.7. Phân loại NICE

Typ 1

Tương đồng hoặc sáng

Màu sắc



hơn niêm mạch xung

quanh



Mạch

máu

Hình

thái bề

mặt

Dự đốn

mbh



Khơng rõ



Typ 2



Typ 3

Màu sắc thay đổi từ Nâu-



Màu nâu hơn so với



> Nâu đen so với niêm



niêm mạc xung quanh



mạc xung quanh; một số



Mạch máu màu nâu bao



vùng màu trắng hơn.

Nhiều vùng gián đoạn



quanh cấu trúc “vùng



hoặc mất cấu trúc mạch



trắng”

“Vùng trắng” hình oval,



máu



Những điểm sáng hoặc



ống hoặc chia nhánh



tối



bao quanh bởi mạch



Cấu trúc hỗn loạn



máu màu nâu.

Polyp tăng sản



Polyp U tuyến



Ung thư xâm lấn qua lớp

dưới niêm mạc



Hình



Nhằm khắc phục những hạn chế của các phân loại cũ của nội soi NBI như

Sano…, nhiều phân loại mới đã được nghiên cứu và đưa vào sử dụng để phân loại

các tổn thương phát hiện được bằng nội soi dải tần hẹp (NBI). Phân loại NICE được

giới thiệu năm vào 2009 bởi nhóm các nhà khoa học từ Nhật Bản, Mỹ, Pháp và Anh

trong nỗ lực thống nhất các phân loại cho hình ảnh nội soi NBI. Phân loại NICE

dựa trên việc đánh giá 3 đặc điểm chính của tổn thương là: màu sắc, mạch máu và

hình thái bề mặt niêm mạc. Phân loại NICE có những ưu điểm rất lớn khi có thể

phân loại được cả những tổn thương phóng đại hoặc khơng phóng đại. Phân loại là

tương đối đơn giản khi chỉ phân ra 3 typ chính: typ I, typ II và typ III. Trong đó, typ

I thường được quan sát ở polyp tăng sản, typ III lại thường nghi ngờ đến ung thư

xâm lấn sâu lớp dưới niêm mạc, còn typ II thường gợi ý đến tổn thương u tuyến với

độ loản sản thấp đến cao hoặc ung thư xâm lấn lớp nông của niêm mạc. Thực tế lâm



31



sàng cho thấy, phân loại NICE rất hiệu quả trong phân biệt tổn thương tăng sinh và

không tăng sinh nhưng lại khó khăn trong phân biệt polyp loạn sản độ cao với polyp

ung thư hóa có xâm lấn bề mặt nơng lớp dưới niêm mạc. Vì vậy các nhà nội soi sẽ

khó đưa ra quyết định điều trị cắt hớt niêm mạc (EMR-endoscopic mucosal

resection) hay cắt tách dưới niêm mạc (ESD-endoscopy submucosal dissection). Để

giải quyết vấn đề này, nhóm các chuyên gia nội soi NBI ở Nhật Bản đã thống nhất

đưa ra phân loại JNET vào năm 2014 [59] và ngày càng được áp dụng rộng rãi trên

lâm sàng.

4.2.2.3. Phân loại JNET

Bảng 2.8. Phân loại JNET

Typ I

Hình

thái

mạch

máu



Khó quan sát



Hình

thái bề

mặt



- Những điểm

sáng và tối màu

phân bố đều.

- Giống với

niêm mạc bình

thường



Dự

đốn



bệnh

học



Polyp tăng sản/

polyp răng cưa

khơng cuống



Typ 2A

- Đường kính

đều nhau

- Phân bố đồng

đều (kiểu đan

lưới/xoắn ốc)



Typ 2B

- Kích thước

khơng đều.

- Phân bố

không đều



Typ 3

- Các khu vực

mất cấu trúc

mạch.

- Các mạch máu

dày, vặn xoắn



Đồng đều

(ống/chia

nhánh/dạng

nhú)



- Không đều

hoặc không rõ



Nhiều khu vực

mất cấu trúc



U tuyến loạn

sản độ thấp



U tuyến loạn

sản độ cao/ung

thư xâm lấn

lớp nông dưới

niêm mạc



Ung thư xâm lấn

qua lớp dưới

niêm mạc



Ví dụ



4.2.3. Ứng dụng

4.2.3.1. Trong khả năng phát hiện polyp



32



Nhiều nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, nội soi NBI không làm tăng khả năng

phát hiện được polyp ĐTT

4.2.3.2. Trong khả năng mô tả đặc điểm polyp ĐTT

Kết quả nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, nội soi NBI khơng phóng đại cũng

có khả năng phân biệt rất tốt gữa các tổn thương tăng sinh và không tăng sinh. Một

số nghiên cứu khác cho thấy, nội soi NBI khơng phóng đại cho mức độ chẩn đốn

chính xác từ 89-92,7%; độ nhạy từ 87,9%-95,7% và độ đặc hiệu cũng rất cao từ 8790,5% [60].

Nhiều nghiên cứu báo cáo nội soi NBI có kết hợp với phóng đại làm tăng khả

năng phân biệt các polyp tăng sinh-không tăng sinh so với NBI khơng phóng đại.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, độ chính xác (93,4%-98,4%) và độ nhạy (90,9%100%) đều rất cao.

Bảng 2.9. Khả năng chẩn đốn polyp tăng sinh-khơng tăng sinh của nội soi NBI và

FICE phóng đại

Tác giả

Machida H.

Sano Y

Wada Y.

Tanaka K.

Togahi K.

Santos C.E



Hệ thống



Số trường



Độ chính



Độ nhạy



Độ đặc



nội soi

NBI

NBI

NBI

NBI

FICE

FICE



hợp

43

150

617

289

107

111



xác (%)

93,4

95,3

96,7

98,9

87,0

92,8



(%)

100,0

96,4

90,9

100,0

93,0

97,8



hiệu (%)

75,0

92,3

97,1

98,9

70,0

79,3



Bên cạnh đó, nội soi NBI phóng đại cũng được ghi nhận rất có hiệu quả trong

việc đánh giá mức độ xâm lấn của các polyp ác tính (bảng). Điều này rất có ý nghĩa

trong việc cân nhắc can thiệt cắt polyp theo EMR hay ESD hoặc phẫu thuật đại

tràng. Tuy nhiên, với khoảng dao động lớn của độ nhạy (63,8%-100%) và độ đặc

hiệu từ 88,7%-100% thì vẫn chưa đủ. Nội soi nhuộm màu sử dụng phân loại hình

thái bề mặt niêm mạc (pit pattern) nên được thực hiện với các tổn thương nghi ngờ

ác tính.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

IV. Nội soi nhuộm màu ảo (Virtual Chromoendosopy)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×