Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong các TC vào viện, tỷ lệ cao nhất là khó thở, tức ngực (71,1%, 68,4%) là triệu chứng của bệnh van tim gây nên. Tiền sử BN có TBMMN 39BN (9,7%), TBMMN khi vào viện 3BN (0,7%). Khám trên lâm sàng số BN nghe tiếng thổi ĐMCa là 7BN, số mạch chi dưới không

Trong các TC vào viện, tỷ lệ cao nhất là khó thở, tức ngực (71,1%, 68,4%) là triệu chứng của bệnh van tim gây nên. Tiền sử BN có TBMMN 39BN (9,7%), TBMMN khi vào viện 3BN (0,7%). Khám trên lâm sàng số BN nghe tiếng thổi ĐMCa là 7BN, số mạch chi dưới không

Tải bản đầy đủ - 0trang

62



nghe tiếng thổi ĐMCa là 7BN, số mạch chi dưới không bắt được là 20 mạch,

tỷ lệ đau cách hồi có 4BN (1%).

4.2. ĐẶC ĐIỂM TỔN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH CẢNH VÀ ĐỘNG MẠCH

CHI DƯỚI Ở BỆNH NHÂN TRƯƠC PHẪU THUẬT VAN TIM



4.2.1. Tỷ lệ có tổn thương ĐMCa và ĐMCD

Trên thế giới nghiên cứu về tỷ lệ có XVĐM ở BN có bệnh van tim chủ

yếu là ở BN có vơi hóa van hoặc vơi hóa vòng van, khơng có nghiên cứu trên

những BN thấp tim, nguyên nhân là do bệnh thấp tim thường chỉ còn ở những

nước đang và kém phát triển.

Trong thời gian từ tháng 5 năm 2016 đến hết tháng 9 năm 2017, chúng

tôi đã tiến hành nghiên cứu trên 402 BN và thu được kết quả như sau: Về

ĐMCa có 153 BN có tổn thương dưới 50% (38.1%) và có 7 BN (1.7%) có

tổn thương ý nghĩa trên 50 %. Vê ĐMCD tổn thương dưới 50% có 156 BN

(37.8 %), tổn thương có ý nghĩa trên 50% có 4 BN (1%).

Tỷ lệ tổn thương ĐMCa của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu trên

thế giới nguyên nhân do các nghiên cứu này chủ yếu ở các BN có thối hóa

van, khơng có nghiên cứu ở BN có bệnh tim do thấp. Ở nghiên cứu của

Steinvil và cộng sự trên 171 BN có chỉ định thay van ĐMC qua da (TAVI)

( 96% có XVĐM và 33% có hẹp >50%, gần tắc có 9%) [56],. Trong nghiên

cứu từ Rossi và cộng sự trong 1065 BN có 60% có ít nhất một mảng XVĐM

ở BN có vơi hóa van ĐMC[50]. Trong nghiên cứu của Chun và cộng sự , tỷ lệ

hẹp cảnh >50% là 16,3 %[57]. Nghiên cứu Hudd trong 294 trường hợp TAVI

có 19% hẹp ĐMCa trên 50%[61].

Tỷ lệ tổn thương ĐMCD ở nghiên cứu của Aldes và cộng sự: 77 BN có

MAC có tỉ lệ bệnh ĐMCD khá cao (95%) [54]. Trong nghiên cứu của

Sannino và cộng sự rong 103 BN có vơi hóa van ĐMC và VHL thì có 73 BN



63



bị XVĐM ngoại vi (71%)[60]. Các tỉ lệ này đều cao hơn rất nhiều so với

nghiên cứu của chúng tôi .Tổn thương xơ vữa ĐMCD của chúng tơi khơng có

sự khác biệt về giới và giữa thành thị và nơng thơn nhưng lại có sự khác biệt ở

các nhóm tuổi và tuổi trung bình của nhóm hẹp ≥ 50 % cao hơn so với nhóm

hẹp <50%.

Đa số BN trong nghiên cứu của chúng tơi có bệnh lý chủ yếu là van tim

do thấp nên tỷ lệ XVĐM thấp hơn so với BN có van tim do thối hóa. Tỷ lệ

hẹp có ý nghĩa (≥ 50 %) ở ĐMCa là 1,7 %, ở ĐMCD là 1%. Tỷ lệ tổn thương

ĐM khơng có ý nghĩa (<50%) ở ĐMCa là 38,1%, ĐMCD là 37,8% chiếm tỷ

lệ cao. Do vậy đối với những BN này cần phải kiểm soát tốt các yếu tố nguy

cơ tránh tiến triển thành hẹp ĐM có ý nghĩa.

Một đặc điểm khác khi nghiên cứu về ĐM trong nhóm BN của chúng

tơi là ngồi tình trạng xơ vữa động mạch có thể gây hẹp và tắc lòng mạch thì

tắc ĐM còn do cục máu đơng trong buồng tim bắn đi. Cục máu đơng có thể

gây nên tắc mạch não, mạch cảnh, mạch các tạng trong ổ bụng và mạch chi.

Tỷ lệ tắc ĐMCa do huyết khối 1,2%(5BN), tắc ĐMCD1,7%(7BN).

Trong nghiên cứu của chúng tơi có tổng 9 BN bị tắc mạch thì trên điện

tim đều là rung nhĩ, có 3BN HHL, 3 BN HhoHL, 1BN HHoC, 2 BN có bệnh

hai van. Nguyên nhân thường do nhĩ trái bị giãn và ở những BN này điều trị

chống đơng khơng chưa đạt liều. Vì vậy việc kiểm sốt tốt việc dùng thuốc

chống đơng trước và sau khi thay van ở những BN có chỉ định là việc làm rất

cần thiết.

4.2.2. Đặc điểm tổn thương động mạch cảnh và động mạch chi dưới

Đặc điểm tổn thương của ĐMCa có ý nghĩa (≥50%): Ở ĐMCa chung

bên phải có 1 BN hẹp 52%(PSV 160 cm/s, EDV 48 cm/s) có 1BN hẹp 90%

( PSV 446 cm/s, EDV 35 cm/s). Ở ĐMCT bên phải có 1 BN hẹp 73%( PSV



64



255 cm/s, EDV 108 cm/s), có 1 BN hẹp 70% (PSV 245 cm/s, EDV 64 cm/s).

Ở ĐMCa chung trái có 1 BN hẹp 55%( BN này có cả hẹp ĐMCa chung bên

phải là 52%) (PSV 170 cm/s, EDV 53 cm/s). Ở ĐMCT bên trái có 1BN hẹp

75%( PSV 252 cm/s, EDV 73 cm/s), 1BN hẹp 54% (PSV 164 cm/s, EDV 50

cm/s), 1BN hep 80% (PSV 362 cm/s, EDV 123 cm/s). Vận tốc đỉnh tâm thu

phù hợp với nghiên cứu của Steinvil về mức độ hẹp [56].

Có 5 BN tắc ĐMCa do huyết khối đều là ĐMCT (3BN tắc ĐMCT bên

phải, 2 BN tắc ĐMCT bên trái).

Phổ Doppler của BN có hẹp van ĐMC là dạng phổ sau hẹp. Đối với

BN có hở chủ thì thường vận tốc cuối tâm trương thấp và chỉ số RI tăng cao.

Tỷ lệ hẹp ĐMCa dưới 50% gặp nhiều nhất ở BN hở hai lá (24,8%) và

tỷ lệ hẹp ĐMCa trên 50% gặp nhiều nhất ở BN hẹp chủ (28,5%).

Đặc điểm tổn thương của ĐMCD có ý nghĩa (≥50%): Có 3 mạch có hẹp

50% đo trên mặt cắt ngang và mặt cắt trục dọc trên hình ảnh 2D ở ĐM đùi

chung P, đùi nông P và đùi nông T có PSV> 200cm/s có dòng rối sau chỗ hẹp,

có 5 mạch có hẹp >50%(1 mạch chày trước phải, 1 mạch chày trước T, 1

mạch chày sau T) quan sát thấy vùng hạ lưu và hình dạng phổ là phổ 1 pha,

tăng độ rộng của phổ. Có 6 mạch bị tắc do xơ vữa ( 1 mạch chày trước P, 2

mạch chày sau P, 1 mạch chày trước T, 2 mạch chày sau T quan sát thấytrên

2D thành mạch xơ vữa dâỳ, Doppler khơng thấy màu xuất hiện trong lòng

mạch và Doppler xung khơng ghi được dòng chảy trong ĐM.

Tỷ lệ hẹp ĐMCD dưới 50% gặp nhiều nhất ở BN HoHL(25%). Tỷ lệ

hẹp ĐMCD trên 50% gặp ở BN HoHL, HhoHL, HC, HhoC là như nhau.

Có 7 BN tắc mạch chi dưới gồm có 16 mạch bị tắc, tỷ lệ tắc mạch bên

P nhiều hơn bên T chiếm nhiều nhất là ĐM chày trước phải (4 mạch), ĐM đùi

chung phải (3 mạch). Chúng tơi nhận thấy tắc mạch có thể xảy ra ở bất cứ



65



ĐM nào. Trên 2D, tắc mạch do huyết khối có hình ảnh giảm âm gây lấp đầy

lòng mạch, Doppler khơng thấy màu xuất hiện trong lòng mạch và Doppler

xung khơng ghi được dòng chảy trong ĐM.

Đối với BN có bệnh van tim, nhất là khi có suy tim sẽ làm giảm vận

tốc tuần hoàn do vậy sẽ làm giảm vận tốc đỉnh tâm thu. Chính vì vậy để xác

định chính xác được mức độ hẹp ĐMCa trong ở BN này chúng tôi lấy tiêu

chuẩn về chỉ số giữa vận tốc tâm thu đỉnh của ĐMCT và ĐMCa chung.

4.2.3. Một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trong nhóm tổn thương

ĐMCa và ĐMCD ở bệnh nhân trước phẫu thuật van tim

4.2.3.1. Đặc điểm lâm sàng

Trong nghiên cứu của chúng tơi, BN có tổn thương ĐMCD: triệu

chứng đau cách hồi giữa hai nhóm hẹp có ý nghĩa và khơng có ý nghĩa ở

ĐMCD là khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Theo phân loại của

Rutherford ở mức đau cách hồi vừa. Ở những BN có suy tim thì TC đau cách

hồi sẽ khó phát hiện do BN có biểu hiện khó thở khi gắng sức nên khơng đi

xa được. Tỷ lệ đau cách hơì ở các nhóm BN HoHL, HhoHL, HC, HHoC là

như nhau.



66



BN có tổn thương ĐMCa: Khơng có BN hẹp ĐMCa có ý nghĩa có

TBMMN, số BN có TBMMN ở nhóm khơng có tổn thương ĐMCa là 32 BN

(76,2%), ở nhóm có tổn thương khơng có ý nghĩa là 10 BN (23,8%). Như vậy

có thể thấy nguyên nhân của TBMMN ở nhóm BN có chỉ định phẫu thuật van

tim có thể là do cục máu đông từ buồng tim bắn lên não, lên mạch cảnh trong

2 bên gây tắc ĐM não. Triệu chứng đau đầu giữa hai nhóm tổn thương khơng

có ý nghĩa và tổn thương có ý nghĩa ĐMCa khơng có sự khác biệt với p>0,05.

Theo nghiên cứu của Huded và cộng sự: Sự có mặt hay vắng mặt hẹp ĐMCa

hoặc ĐM đốt sống không liên quan đáng kể đến sự xuất hiện của đột quỵ sau

TAVR, khơng có sự khác biệt về tỷ lệ tử vong 30 ngày giữa các nhóm[61].

Theo nghiên cứu của Steinvil và cộng sự, CAS độc lập với tỷ lệ tử vong

hoặc đột quỵ trong vòng 30 ngày sau TAVI.[56]

HATT trung bình ở nhóm tổn thương ĐM khơng có ý nghĩa cao hơn so

với nhóm khơng có tổn thương (có ý nghĩa thống kê với p<0,05) , HATT

trung bình ở nhóm tổn thương ĐM có ý nghĩa và khơng có ý nghĩa khơng có

sự khác biệt (p>0,05). Như vậy có thể thấy HA có vai trò trong XVĐM,

4.2.3.2. Đặc điểm về cận lâm sàng

Lipid máu

Trong nghiên cứu của chúng tôi, Cholesterol, LDL-C, Triglycerit tăng

dần theo mức độ hẹp mạch. Sự khác biệt của nhóm tổn thương ĐM <50% với

nhóm khơng có tổn thương của Cholesterol, LDL-C, Triglycerid là có ý nghĩa

thống kê với p<0,05, còn giữa nhóm tổn thương khơng có ý nghĩa và nhóm

tổn thương có ý nghĩa thì khơng có sự khác biệt (p>0,05). Chỉ số HDL-C

khơng có sự khác biệt giữa các nhóm với p>0,05. Rối loạn mỡ máu là yếu tố

nguy cơ của xơ vữa động mạch.

Điện tim



67



Rung nhĩ chiếm tỉ lệ cao nhất trong các bệnh van tim, toàn bộ BN tắc

mạch do huyết khối thì trên điện tim là rung nhĩ. Nguyên nhân do ở Việt Nam

tỷ lệ bệnh van tim do thấp vẫn chiếm tỉ lệ cao đặc biệt là HHoHL (28,9%)

Siêu âm tim

Đường kính thất trái cuối tâm trương (Dd), đường kính thất trái cuối

tâm thu (Ds), đường kính ĐMC ở nhóm khơng có tổn thương và nhóm có tổn

thương <50% có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05), giữa các nhóm

còn lại khơng có sự khác biệt (p>0,05). Ở nhóm phân số tống máu EF và

TALĐMP là khơng có sự khác biệt giữa ba nhóm (p>0,05).



68



Khi sửa van hai lá cho những bệnh nhân EF thấp người ta thấy tỷ lệ tử

vong trong vòng 30 ngày là 9,1% so với 2,2% ở nhóm EF bình thường. Tỷ lệ

sống sót sau 10 năm lần lượt là 33% và 60% [74].

4.2.4. Tỷ lệ tổn thương ĐMCa và ĐMCD theo bệnh lý van tim

Theo nghiên cứu của chúng tơi, sự khác biệt giữa các nhóm của bệnh lý

van tim khơng có sự khác biệt (p>0,05), BN hở hai lá gặp nhiều nhất ở BN có

hẹp ĐMCa và ĐMCD dưới 50% (24,8%, 25%), BN hẹp chủ gặp nhiều hơn ở

hẹp ĐMCa trên 50% (28,5%).Tỷ lệ hẹp ĐMCD trên 50% gặp ở BN HoHL,

HhoHL, HC, HhoC là như nhau.

Ở các nghiên cứu của nước ngoài về bệnh lý van tim và tổn thương của

ĐMCa và ĐMCD chủ yếu liên quan đến sự vơi hóa củaVHL, van ĐMC; vơi

hóa vòng VHL, vòng van ĐMC- những bệnh van tim do thối hóa. Nguyên

nhân do thấp tim hiện chỉ còn gặp ở các nước kém và đang phát triển [10].

Theo nghiên cứu của Nguyễn Lân Việt và cộng sự về mơ hình bệnh tật

ở BN trong điều trị nội trú tại Viện Tim mạch Việt Nam trong thời gian 20032007 thì tỷ lệ thấp tim và bệnh van tim do thấp chiếm cao nhất trong tổng số

BN này mặc dù tỷ lệ đó có giảm đi từ năm 2003 đến năm 2007 (38,7% so với

27%). Ngày nay với sự gia tăng của các bệnh chuyển hóa cùng với các yếu tố

nguy cơ đã thay đổi mơ hình bệnh tật trong tim mạch nhưng thấp tim vẫn

đang còn là một vấn đề thách thức lớn đối với ngành tim mạch nói chung

4.3. KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TỔN THƯƠNG ĐMCa

VÀ ĐMCD Ở BỆNH NHÂN TRƯỚC PHẪU THUẬT VAN TIM



4.3.1. Tổn thương động mạch theo tuổi và nhóm tuổi.

Tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 59,29 ± 6,19 (từ 51

đến 86 tuổi). Trong đó tuổi trung bình của nhóm có tổn thương ĐM có ý

nghĩa (nhóm III) là 68,4±5,5, ở nhóm tổn thương ĐM khơng có ý nghĩa

(nhóm II) là 63,4±5,9, khơng có sự khác biệt giữa hai nhóm này (p>0,05).



69



Tuổi trung bình của nhóm khơng có tổn thương ĐM (nhóm I) là 56,38±4,3 có

sự khác biệt với tuổi trung bình của nhóm II và III giữa các nhóm có sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Như vậy chúng ta thấy mức độ XVĐM

tăng dần theo tuổi.

Tuổi trung bình BN trong một số nghiên cứu trên thế giới giữa bệnh

van tim và XVĐM: Rossi và cộng sự: 65±9[50], Tolstrup và cộng sự

67±8[52], Francesco Antonini-Canterin: 58 ± 13[53], Adler và cộng sự 73,1±

11,4[54], Steinvil và cộng sự 82 ± 6[56], Chun và cộng sự 70,9[57], Stewart

và cộng sự ≥ 65 tuổi[58], Yoda và cộng sự: 68,9 ± 6,7[59]. Chúng tơi thấy

tuổi có XVĐM thường trên 50 tuổi, theo thời gian, mảng xơ vữa sẽ lớn dần

lên cùng với các yếu tố nguy cơ là yều tố thuận lợi để mảng xơ vữa phát triển.

4.3.2 Tổn thương động mạch theo giới tính

Trong nghiên cứu của chúng tơi: Tỷ lệ BN nam và nữ trong 2 nhóm tổn

thương có ý nghĩa và khơng có ý nghĩa của ĐMCa và ĐMCD khơng có sự

khác biệt (p>0.05). Tỷ lệ nam giới có tổn thương ĐM cao hơn so với nữ giới

ở cả ba nhóm tuổi. Ở nhóm tuổi 51-59 và nhóm tuổi 60-69 sự khác biệt về tổn

thương ĐM ở hai giới là có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Ở nhóm tuổi từ 70

trở lên khơng có sự khác biệt ở tổn thương ĐM ở hai giới với p>0,05. Tỷ lệ

mắc bệnh van tim của nam thấp hơn nữ (43,3% và 56,7%). Nam giới có nguy

cơ XVĐM gấp 4,1 lần so với nữ (p<0,05).

Tỷ lệ của chúng tơi có tỷ lệ nữ cao hơn nam trong các bệnh van tim còn

các nghiên cứu trên thế giới tỷ lệ nam phần lớn đều cao hơn nữ: Rossi và

cộng sự 38% nữ, 62% nam[51]; Tolstrup và cộng sự 100% nam[52], nghiên

cứu từ Francesco Antonini-Canterin và cộng sự 62% nam[53], 38% nữ;

nghiên cứu của Adler và cộng sự 52% nam và 48% nữ[54]; nghiên cứu của

Steinvil và cộng sự nam 47%, nữ 53%[56]; nghiên cứu của Chun và cộng sự

66,2% nam, 33,8 nữ[57]; nghiên cứu của Yoda và cộng sự 80% nam, 20%



70



nữ[59]. Nguyên nhân có thể do ở Việt Nam thường để bệnh đến giai đoạn

nặng mới đến viện nhất là nữ giới, còn trên thế giới thì bệnh xơ vữa động

mạch đi kèm với tình trạng thối hóa van tim gặp ở nam nhiều hơn.

4.3.3 Khảo sát một số yếu tố nguy cơ với tổn thương ĐMCa và ĐMCD

Trong bảng 3.26, bảng 3.27 phần kết quả chúng tôi đã tập trung phân

tích một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ tổn thương ĐM nói chung ( bao gồm

ĐMCa và ĐMCD), và tỷ suất chênh OR (odds ratio). Dựa vào các thơng số

đó chúng tơi có một số nhận xét:

Tăng huyết áp

Có THA sẽ làm bệnh nhân tăng nguy cơ XVĐM ĐM gấp 7,5 lần nhóm

khơng tăng huyết áp (OR = 7,5 với p < 0,05).

Khi so sánh trị số huyết áp trung bình tâm thu và tâm trương ở ba nhóm

nghiên cứu chúng tơi cũng thấy có sự tăng cao hơn HATT trung bình ở nhóm

tổn thương ĐMCa và ĐMCD <50% so với nhóm khơng có tổn thương, giữa

các nhóm còn lại khơng có sự khác biệt. HATTr trung bình khơng có sự khác

biệt ở các nhóm.

Ở Việt Nam, tần suất THA ngày càng gia tăng khi nền kinh tế phát

triển.Theo thống kê năm 2015 của Hội tim mạch học Việt Nam, trên 5.454

người trưởng thành (từ 25 tuổi trở lên) trong quần thể 44 triệu người tại 8 tỉnh

thành trên tồn quốc mắc THA có tỷ lệ mắc THA là 47.3%.

Nghiên cứu của Steinvil và cộng sự tỷ lệ THA là 88% làm tăng nguy

cơ hẹp mạch cảnh ở BN hẹp chủ (OR =4,54) [56]. Nghiên cứu của Chun và

cộng sự tỷ lệ THA 93,2 % làm tăng nguy cơ hẹp ĐMCa trên BN phẫu thuật tim

với OR= 1,89[57]. Nghiên cứu của Sannino THA làm gia tăng hẹp cảnh với OR

=2,09[60]. Guray Y [75] nghiên cứu trên 827 bệnh nhân HHL thấy tỷ lệ THA ở

nhóm có bệnh ĐMV (46%) cao hơn nhóm khơng có BMV (16,7%) với p < 0,05

[75]. Các kết luận này cũng phù hợp với nghiên cứu của chúng tơi.



71



Hút thuốc lá

Trong nhóm có hút thuốc lá có tới 88,6% bệnh nhân có tổn thương

ĐMCa và ĐMCD, trong nhóm tổn thương có ý nghĩa chiếm 77,8%. Hút thuốc

lá làm tăng nguy cơ tổn thương ĐM gấp 17,7 lần so với nhóm khơng hút

thuốc lá (OR=17,7). So sánh theo ba nhóm nghiên cứu thì tỷ lệ có hút thuốc lá

ở nhóm tổn thương <50% là cao nhất , có sự khác biệt cả 3 nhóm có ý nghĩa

thống kê(p<0,05).

Ảnh hưởng của hút thuốc lá đến bệnh tim mạch nói chung và bệnh

mạch ngoại vi nói riêng đã được đề cập đến ở nhiều nghiên cứu. Thuốc lá đẩy

nhanh sự phát triển của vữa xơ động mạch. Theo nghiên cứu Steinvil và cộng

sự, hút thuốc lá chiếm 37% làm tăng nguy cơ hẹp ĐMCa là 3,8 lần ở BN hẹp

chủ (OR=3,8) [56]. Nghiên cứu của Chun và cộng sự tỷ lệ hút thuốc lá 65,3%

làm tăng nguy cơ hẹp ĐMCa là 1,7 lần trên BN phẫu thuật tim (OR= 1,7)

[57]. Hai nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu của chúng tôi. Do tỷ

lệ BN hẹp có ý nghĩa của chúng tơi thấp (2,2%)nên chúng tơi tính yếu tố nguy

cơ trên BN có tổn thương ĐM nên OR cao.

Rối loạn Lipid máu

Theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Việt Nam [26], rối loạn Lipid máu

là một yếu tố nguy cơ chính của bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch. Tăng

LDL- C, giảm HDL- C, tăng Triglyxerid là những yếu tố nguy cơ độc lập của

bệnh ĐM ngoại biên và bệnh ĐMV. Mức độ LDL- C càng cao thì nguy cơ

bị bệnh ĐM ngoại vi càng lớn. Rối loạn Lipid máu là một trong những yếu

tố khởi đầu cho quá trình hình thành và phát triển xơ vữa động mạch, của

tổn thương ĐMCa và ĐMCD. Người ta cũng nhận thấy tình trạng tăng

LDL-C làm cho mảng vữa xơ dễ biến chứng hơn (nứt, loét, vỡ, tạo tắc

nghẽn lòng mạch do máu đơng). Liên quan giữa rối loạn Lipid máu và bệnh

ĐM ngoại vi trong nghiên cứu của chúng tơi: BN có rối loạn Lipid máu có



72



nguy cơ XVĐM cao hơn 7.1 lần so với BN khơng có rối loạn Lipid máu,

trong nhóm tổn thương có ý nghĩa là 66,7%. Sự khác biệt giữa ba nhóm có

ý nghĩa thống kê(p < 0,05).

Khi xem xét cụ thể mức độ rối loạn từng thành phần Lipid máu ở các

nhóm theo bảng 3.23 chúng tơi thấy: Cholesterol, LDL-C, Triglycerit tăng dần

theo mức độ hẹp mạch. Sự khác biệt của nhóm II với nhóm I của Cholesterol,

LDL-C, Triglycerid là có ý nghĩa thống kê với (p<0,05). HDL - C ở ba nhóm

khơng có sự khác biệt (p > 0,05). Như vậy rối loạn Lipid máu là yếu tố nguy

cơ làm tăng tình trạng XVĐM.

Đái tháo đường

Trong nghiên cứu của chúng tơi: BN có ĐTĐ có nguy cơ XVĐM cao

hơn 24,7 lần so với BN khơng có ĐTĐ, trong nhóm tổn thương có ý nghĩa là

22,2%. Sự khác biệt giữa ba nhóm có ý nghĩa thống kê(p < 0,05).

Theo nghiên cứu của Chun và cộng sự tỷ lệ ĐTĐ là 47,5% làm tăng

nguy cơ hẹp ĐMCa là 1,16 lần trên BN phẫu thuật tim (OR= 1,16) [57].

Nghiên cứu của Sannino ĐTĐ làm gia tăng hẹp cảnh gấp 2,09 lần ở BN có

vơi hóa VHL và van ĐMC (OR =2,09) [60].

Béo phì

Trong nghiên cứu của chúng tơi: BN có béo phì (BMI≥25) có nguy

cơ XVĐM cao hơn 3,5 lần so với BN khơng có béo phì, trong nhóm tổn

thương có ý nghĩa là 11,1%. Sự khác biệt giữa ba nhóm có ý nghĩa thống

kê (p < 0,05).

Theo nghiên cứu của Chun và cộng sự tỷ lệ béo phì là 36,1% làm tăng

nguy cơ hẹp ĐMCa là 2,22 lần trên BN phẫu thuật tim (OR= 2,22) [57].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong các TC vào viện, tỷ lệ cao nhất là khó thở, tức ngực (71,1%, 68,4%) là triệu chứng của bệnh van tim gây nên. Tiền sử BN có TBMMN 39BN (9,7%), TBMMN khi vào viện 3BN (0,7%). Khám trên lâm sàng số BN nghe tiếng thổi ĐMCa là 7BN, số mạch chi dưới không

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×