Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
(2). Đường máu đói Go ≥ 7.0 mmol/ L ( ≥ 126 mg/dL).

(2). Đường máu đói Go ≥ 7.0 mmol/ L ( ≥ 126 mg/dL).

Tải bản đầy đủ - 0trang

14



1.2.3.5.Tăng HA

Phân loại tăng huyết áp theo JNC VII[45].

Bảng 1.2. Phân loại THA theo JNC VII



Phân loại



HA tâm thu



HA tâm trương



(mmHg)



(mmHg)



Bình thường



< 120







< 80



Tiền tăng huyết áp



120-139



hoặc



80-89



Tăng huyết áp độ 1



140-159



hoặc



90-99



Tăng huyết áp độ 2



> 160



hoặc



> 100



THA được chẩn đoán khi HA tâm thu  140 mmHg và/hoặc HA tâm

trương  90 mmHg hoặc khi BN đang được điều trị thuốc hạ áp.

THA làm thay đổi phức tạp cấu tạo của thành ĐM, làm tổn thương chức

năng của nội mô và phì đại lớp áo giữa, làm giảm độ giãn nở của mạch máu,

thúc đẩy nhanh quá trình xơ vữa mạch máu [24],[38],[46].

BN có THA sẽ có nguy cơ xơ vữa mạch máu gây hẹp mạch cảnh và mạch chi

dưới do vậy khống chế huyết áp là cần thiết.

1.2.3.6.Rối loạn lipid máu

Rối loạn chuyển hóa lipid máu: BN có tiền sử rối loạn chuyển hóa

lipide máu hoặc đang điều trị rối loạn lipide máu hoặc kết quả xét nghiệm

máu có biểu hiện rối loạn chuyển hóa lipide như sau: (dựa theo tiêu chuẩn

ATP III, NCEP 2004 [26],[47] :

Cholesterol > 5,2 mmol/l



và/hoặc



Triglycerid > 2,3 mmol/l



và/hoặc



HDL-C < 0,9 mmol/l



và/hoặc



15



LDC-C > 3,4 mmol/l

Tăng lipid máu dần làm tổn thương các tế bào nội mơ của thành ĐM dẫn

đến hình thành tổn thương xơ vữa. Trong đó LDL-C là một ngun nhân

chính dẫn đến rối loạn chức năng và tổn thương tế bào cơ trơn thành mạch.

Do đó, các lipoprotein dễ xâm nhập vào thành mạch và lắng đọng lipid vào

thành mạch gây ra những tổn thương ban đầu của XVĐM. Trong nghiên cứu

Framingham[48], những người có nồng độ cholesterol > 270 mg/ dL có tỷ lệ

phát triển đau cách hồi gấp đơi người bình thường, nguy cơ tương đối của

hẹp ĐMCa tăng lên 10% cho mỗi tăng 10 mg/dL cholesterol.

1.2.3.7.Béo phì và thừa cân

BMI (Body Mass Index) là một chỉ số được tính theo công thức:

BMI (Kg / m ) 



Trọng lượng cơ thể (Kg)



2



(Chiều cao)2 (m2)

Bảng 1.3. Phân loại béo phì theo WHO áp dụng cho người Châu Á:

Phân loại

Gầy

Bình thường

Tăng cân

Béo phì

+ Béo phì độ I

+ Béo phì độ II

+ Béo phì độ III



BMI (kg/m2)

< 18,5

18,5 – 22,9

≥ 23 - < 24,9

≥ 25

25 – 29,9

30 - <35

≥ 35



Béo phì có liên quan tới nhiều yếu tố nguy cơ gây XVĐM, bệnh ĐMV

và tỉ lệ tử vong do bệnh tim mạch [49].

1.2.4. Một số nghiên cứu về tổn thương ĐM cảnh và ĐMCD ở bệnh nhân

có bệnh van tim



16



Ở các nước phát triển bệnh van tim ở tuổi trên 50 chủ yếu là do thối hóa

thì ở Việt Nam vẫn còn tồn tại bệnh van tim do thấp. Bệnh van tim do thấp,

bệnh van tim do thối hóa hay do ngun nhân khác ở tuổi này có thể kèm

theo tình trạng XVĐM nhất là khi có thêm các yếu tố nguy cơ.

Nghiên cứu từ Rossi và cộng sự, kết quả từ 1.065 BN: Vơi hóa van ĐMC

(AVS) là một yếu tố dự báo quan trọng của XVĐM cảnh, độc lập với các yếu

tố nguy cơ tim mạch khác. Trong số 1.065 BN ( tuổi từ 65 ± 9 ; 38% nữ)

trong đó 642 (60%) có ít nhất một mảng XVĐM. AVS có liên quan đến

XVĐM cảnh (tỷ suất chênh (OR) 1.9, 95% khoảng tin cậy (CI) 1,2-3,9; P =

0,005) và mức độ XVĐM cảnh (OR 2.1, 95% CI 1,2-3,9; P = 0.01) [50]

Nghiên cứu của Sgorbini và cộng sự: Vơi hóa vòng van hai lá (MAC) và

vơi hóa vòng van ĐMC (AVC) có thể là một biểu hiện XVĐM ở người già.

Sự thay đổi trong cấu trúc mạch máu như dày lớp nội mô (IMT), cũng được

thừa nhận là không phụ thuộc vào yếu tố nguy cơ tim mạch. Đánh giá trên

102 BN được siêu âm tim và siêu âm ĐMCa, phân loại theo mức độ tổn

thương của van, vòng van: 1 = khơng xơ hóa , calci hóa; 2 = Xơ hóa van,

vòng van; 3 = calci hóa vòng van; 4 =calci hóa van, vòng van; 5=calci hóa lá

van. Giá trị IMT tăng tỉ lệ thuận với tăng mức độ vôi hóa van, từ 3,9 +/- 0,48

mm trong nhóm chứng đến 12,9 +/- 1,8 mm trong nhóm đối tượng đạt điểm 5

(p <0,0001).[51]

Nghiên cứu của Tolstrup và cộng sự: vơi hóa van ĐMC (AVS), vơi hóa

vòng van hai lá (MAC), vơi hố gốc ĐMC (ARS) có liên quan đến bệnh xơ

vữa ĐMC và các bệnh tim mạch (mạch vành, ĐMCa và bệnh ĐM ngoại

biên). Nghiên cứu thực hiện ở 157 BN nam ≥ 50 tuổi. Sự phổ biến của AVS,

MAC, ARS, và bệnh XVĐM chủ tương ứng là 42%, 30%, 48%, 71%. Sự hiện

diện của AVS, MAC, hoặc ARS được đánh giá cao liên quan với xơ vữa (OR



17



4,9-12,0, CI 1,4-35,8, p <0,001). ARS cũng liên quan đến bệnh tim mạch (OR

2.2, CI 1,0-4,5, p = 0,038).[52]

Nghiên cứu từ Francesco Antonini-Canterin và cộng sự: mối liên quan

giữa độ dày nội mạc của ĐMCa và vơi hóa van ĐMC (AVS): 479 BN khơng

có TC (tuổi trung bình 58 ± 13 năm, 62% nam giới) khơng có tiền sử bệnh tim

mạch, được đánh giá bằng siêu âm tim và siêu âm ĐMCa đánh giá IMT vì sự

hiện diện của ≥1 yếu tố nguy cơ. Trung bình IMT là 0,82 ± 0,19 mm. Tỷ lệ

tăng IMT(> 0,80 mm) và AVS tương ứng là 60,8% và 18,4%. Tỷ lệ tăng IMT

là 79,6% trong những BN có AVS và 56,5% ở những BN khơng AVS (OR

2,99; CI 95% 1,72-5,21; p <0,001). Tăng IMT liên quan mạnh với AVS trong

tổng số BN khơng có TC, nhất là những BN có tuổi và THA.[53]

Nghiên cứu của Adler và cộng sự: xác định mối liên quan giữa MAC và

bệnh XVĐM ngoại biên. Trong số 805 BN được chẩn đoán MAC từ năm

1995 đến năm 1997, 77 bệnh nhân (40 nam và 37 nữ, tuổi trung bình 73,1 +/11,4) được so sánh với 58 BN phù hợp về tuổi và giới tính mà khơng có MAC

(30 nam và 28 nữ, tuổi trung bình 73,2 +/- 11,8,) được đánh giá ĐM ngoại

biên bằng chỉ số ABI. ABI đã được xếp hạng như sau: bình thường≥ 1, bất

thường <1, nhẹ 0,71-0,99, vừa 0,41-0,7, và nghiêm trọng ≤ 0,4. Giá trị trung

bình của ABI thấp hơn trong nhóm MAC (0,56 +/- 0,27 vs 0.87 +/- 0.24, p =

0,0001), bất thường ABI <1 (94% vs 68%, p = 0,001), bệnh động mạch ngoại

vi vừa phải (44% vs 25%, p = 0,001), và bệnh nghiêm trọng (27% vs 1%, p =

0,001). Trong số 77 BN có MAC, 73 (95%) có bệnh so với nhóm chứng 40

của 58 (69%), (p = 0,001).[54]

Nghiên cứu của Di Minno và cộng sự: mối quan hệ giữa AVS và độ dày

nội mạc ĐMCa chung (IMT), tỷ lệ mảng bám ĐMCa (CPs). Mười ba nghiên

cứu trên 1086 bệnh nhân AVS và 2124 nhóm chứng. So với nhóm chứng, BN

AVS cho IMT cao (MD: 0.32mm; 95% CI: 0,07, 0,58; p = 0,014), và tỷ lệ cao



18



hơn các CPs (OR: 4,06; 95% CI: 2,38, 6,93; p <0,001). Chỉ số BMI và mức

triglyceride có ảnh hưởng đến sự khác biệt về IMT giữa hai nhóm, nam giới

hút thuốc có sự khác biệt về tỷ lệ CPs giữa hai nhóm.[55]



19



Nghiên cứu của Steinvil và cộng sự về tỷ lệ và dự đoán của hẹp

ĐMCa ở các BN có chỉ định thay van ĐMC qua da (TAVI). Nghiên

cứu bao gồm 171 BN (tuổi 82 ± 6, nam giới 47%). Tỷ lệ có XVĐM cảnh

gồm 164 (96%) BN, CAS (vận tốc tâm thu cao [PSV] ≥ 125 cm / s; ≥50%

đường kính ) có 57 BN (33%), hẹp nặng CAS (PSV ≥ 230 cm / s;

≥70% đường kính hoặc gần tắc) có 15 BN (9%). CAS độc lập với tỷ lệ tử

vong hoặc đột quỵ trong vòng 30 ngày sau TAVI.[56]

Nghiên cứu của Chun và cộng sự về sàng lọc ĐMCa ở BN trước phẫu

thuật tim. Xác định tỷ lệ hẹp động mạch cảnh (CAS)> 50% bằng siêu âm

Doppler và xác định các yếu tố nguy cơ trước phẫu thuật trên 722 BN

(66,2% nam giới, tuổi trung vị 71). Chỉ định chính cho phẫu thuật tim là

bệnh van tim(39,5%) và bệnh ĐMV (36,3%). Nghiên cứu trên 118 BN,

16,3% có CAS≥50%. Sự xuất hiện của bệnh mạch ngoại vi (OR: 2,93

[95% CI: 1,87-4,60], P <0,001) và tiền sử TBMMN trong vòng 12 tháng

(OR: 4,57 [95% CI: 1.18-17.77], P = 0.028) là các yếu tố nguy cơ liên

quan đến CAS. Bệnh nhân có bệnh mạch vành với LM (OR: 6.80 [95%

CI: 3.02-15.29], P <0.001), bệnh 3 thân (OR: 2.78 [95% CI: 1.43-5.43 )

được nhận thấy có nhiều khả năng có CAS> 50%. Như vậy ta thấy được

các yếu tố nguy cơ độc lập dự đoán sự hiện diện của CAS là bệnh mạch

ngoại vi, tai biến mạch máu não và bệnh ĐMV[57].



20



Nghiên cứu của Stewart và cộng sự về xác định tỷ lệ vơi hóa và hẹp

van ĐMC ở người cao tuổi và các yếu tố lâm sàng liên quan đến bệnh van

ĐMC thối hóa. Trong 5,201 đối tượng ≥ 65 tuổi, vơi hóa van ĐMC (26%) và

hẹp van ĐMC (2%) ; đối tượng ≥ 75 tuổi vơi hóa xuất hiện ở 37% và hẹp van

là 2,6%. Các yếu tố lâm sàng độc lập liên quan đến bệnh van ĐMC thối hố

bao gồm tuổi (tăng gấp đơi nguy cơ mỗi lần tăng 10 tuổi), nam giới (nguy cơ

gấp đôi), hút thuốc lá (35% nguy cơ gia tăng) và tiền sử THA (20% tăng nguy

cơ). Các yếu tố quan trọng khác bao gồm lipoprotein và nồng độ LDL cao.

Các yếu tố lâm sàng liên quan đến vơi hóa và hẹp van ĐMC có thể được xác

định tương tự như các yếu tố nguy cơ cho XVĐM[58].

Nghiên cứu của Yoda và cộng sự: Kết quả của phẫu thuật bóc tách nội

mạc ĐMCa và phẫu thuật tim đồng thời ( phẫu thuật van tim hoặc bắc cầu

chủ vành). Xem xét lại các kết cục ngắn và trung hạn sau khi phẫu thuật: 15

BN (12 nam và 3 nữ, tuổi trung bình 68,9 ± 6,7, khoảng từ 59-86 tuổi) đã trải

qua phẫu thuật bóc tách nội mạc ĐMCa (hẹp ĐMCa trên 75%, có hoặc khơng

có TC thiếu máu ở não), 8 BN có tiền sử đột quỵ hoặc TIA, thủ thuật tim

mạch đồng thời là thay van ĐMC ở 1 BN và CABG ở 14 BN.Các biến chứng

thần kinh ban đầu chỉ xảy ra ở 1 bệnh nhân (6,7%). Tỷ lệ Lipid máu cao tăng

đáng kể ở những BN bị biến chứng thần kinh sau phẫu thuật. Một BN tử vong

6 tháng sau khi phẫu thuật do viêm phổi. Như vậy, phẫu thuật bóc nội mạc

ĐMC có thể được thực hiện an tồn kết hợp với phẫu thuật tim và mức độ

tăng Lipid máu có thể hữu ích để dự đốn các biến chứng thần kinh sớm.[59]

Trong nghiên cứu của Sannino và cộng sự, sự hiện diện của xơ vữa

động mạch ngoại biên (ĐMCa và ĐMCD) là đáng kể trên những BN có hội

chứng vành cấp (ACS) khi siêu âm tim có vơi hóa van ĐMC và VHL. Có 151

bệnh nhân nhập viện vì ACS có sự hiện diện của vơi hóa VHL và van ĐMC,

hẹp ĐMCa ≥ 50% do siêu âm xác định , đo chỉ số ABI ≤0.9 hoặc ≥1.4 xác



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

(2). Đường máu đói Go ≥ 7.0 mmol/ L ( ≥ 126 mg/dL).

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×