Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Huyết áp trung bình trong mổ được thể hiện ở biểu đồ 3.4

Huyết áp trung bình trong mổ được thể hiện ở biểu đồ 3.4

Tải bản đầy đủ - 0trang

68



huyết áp trung bình tại các thời điểm đều nằm trong giới hạn trung bình và khơng

có sự biến đổi nhiều.

4.3.2.Đánh giá biến đổi về huyết động, hô hấp sau mổ

4.3.2.1.Nhịp tim:

Nhịp tim sau mổ của hai nhóm nghiên cứu khơng có biến động nhiều.

Theo dõi nhịp tim của bệnh nhân ở cả hai nhóm chúng tơi khơng ghi

nhận được bệnh nhân nào có tần số tim giảm 30% so với thời điểm trước phẫu

thuật. Khơng có trường hợp nào bị đau ngực, khó thở.

Khơng có sự khác biệt đáng kể về sự biến đổi nhịp tim sau mổ giữa hai

nhóm nghiên cứu

4.3.2.2. Huyết áp:

Tụt huyết áp là một trong những yếu tố liên quan với tình trạng bệnh

nhân bị nôn và buồn nôn sau mổ và được thể hiện ở chỉ số huyết áp trung

bình. Tụt huyết áp sau mổ thường đi kèm với thiếu khối lượng tuần hoàn.

Trong nghiên cứu này, bệnh nhân sau khi về bệnh phòng vẫn được tiếp tục

duy trì truyền khoảng 1000ml dịch tinh thể. Bệnh nhân sau khi mổ xong đã

được thử hematocrit, nếu giảm dưới 28% đều được truyền máu trước khi

chuyển về bệnh phòng. Các chỉ số huyết áp trung bình sau mổ giữa hai nhóm

có biến động khác nhau khơng có ý nghĩa thống kê (P>0.05)

4.3.2.3. Hơ hấp.

Sự biến đổi về hô hấp sau mổ được thể hiện ở biểu đồ 3.7; 3.8

Theo dõi tần số thở, kiểu thở, spO2 tại các thời điểm sau mổ sau mổ

chúng tôi ghi nhận khơng có sự khác biệt đáng kể giữa hai nhóm nghiên cứu.

Tính từ khi thực hiện PCA khơng có bệnh nhân nào thở chậm, kiểu thở bất

thương cần hỗ trợ hô hấp hoặc phải ngừng PCA. Tất cả bệnh nhân đều hợp

tác, thực hiện đúng theo hướng dẫn.



69



4.3.3. Biến đổi glucose trong và sau phãu thuật.

Sự biến đổi glucose trong quá trình phẫu thuật biểu hiện ở bảng 3.12.

Kết quả glucoza máu của 2 nhóm ngay sau kết thúc phẫu thuật tăng cao hơn

so với chỉ số glucoza máu trước khi phẫu thuật ( nhóm H : 5,62 ± 0,82 mmol/l

tăng lên 8,641,88 mmol/l; nhóm D: 5,7 ±0,91 mmol/l tăng lên 7,08

1,17mmol/l).

Tuy nhiên sau mổ 24 giờ giá trị glucose máu dần trở về giá trị ban đầu

trước mổ: nhóm H là 5.71 0.89 mmol/l, nhóm D là 5.68 0.67 mmol/l,

khơng có sự khác biệt giữa hai nhóm NC (p>0.05).

Theo các tác giả, gây mê và phẫu thuật là những sang chấn, gây ra các

thay đổi về hocmon, đáp ứng viêm, chuyển hoá... Đáp ứng của cơ thể là để

thích ứng với mức độ, thời gian của các sang chấn, nó có một số tác động có

lợi như làm giảm chuyển hoá cơ bản, ngăn ngừa tổn thương tổ chức, phá huỷ

các tổ chức nhiễm khuẩn, kích hoạt quá trình sửa chữa hồi phục. Tuy vậy,

chúng cũng có thể gây ra các tác động có hại như: tăng nồng độ cortisol,

adrenalin máu... gây ra tăng glucoza máu [33]. Sau phẫu thuật, lượng cortisol

có thể tăng gấp 2 lần. Cortisol làm tăng glucoza máu do kích thích q trình

dị hố protein, tân tạo glucoza tại gan và thận từ các axit amin được huy động.

Ngồi ra, cortisol có tác động chống insulin và gây giảm sử dụng glucoza

ngoại vi. Tăng tiết catecholamin cũng làm tăng glucoza máu. Trong khi đó,

phẫu thuật lại gây giảm tiết insulin, càng góp phần tăng glucoza máu trong và

sau mổ [48][39]

Thời gian gây mê, thời gian phẫu thuật của chúng tơi khác nhau khơng

có ý nghĩa, tất cả các bệnh nhân đều được lấy máu xét nghiệm lần 1 từ buổi

sáng trước khi vào phòng mổ, lần 2 lấy máu vào thời điểm sau mổ 15 phút,

lần 3 vào thời điểm sau mổ 24 giờ. Tất cả bệnh nhân ở 2 nhóm khơng truyền

đường trong suốt q trình phẫu thuật. Ở cả hai nhóm nghiên cứu đều khơng

có bệnh nhân nào bị hạ đường huyết sau mổ, có 1 bệnh nhân thuộc nhóm H



70



và 3 bệnh nhân thuộc nhóm D có xét nghiệm đường huyết trên 10 mmol/l

nhưng dưới 13 mmol/l ở kết quả xét nghiệm sau mổ 15 phút. Với những bệnh

nhân có lượng đường huyết sau mổ trên 10 mmol/l đều được điều chỉnh về

mức bình thường trước khi trở về buồng bệnh. Với việc sử dụng 1 liều duy

nhất dexamethasone đều được các tác giả chứng minh là an tồn và khơng

làm tăng đường huyết quá mức so với việc không sử dụng [45][39].

4.3.4. Biến đổi sinh hóa trong và sau phẫu thuật

4.3.4.1 Biến đổi về kali máu trong và sau PT

Sự biến đổi kali trong mổ thể hiện ở bảng 3.13

Kết quả kali trước mổ của nhómH là 3.85 0.33 mmol/l và nhóm D là

3.81 0.30 mmol/l khác nhau khơng có ý nghĩa thống kê (p>0.05). Lượng kali

sau mổ 15 phút có xu hướng cao hơn trước mổ (nhóm H là.3.91 0.52, nhóm

D là 3.85 0.44) nhưng sự khác biệt là khơng có ý nghĩa thống kê (p>0.05).

Khơng có bệnh nhân nào có kali tăng quá mức cần điều trị. Một số bệnh nhân

có kali giảm dưới 3.5 mmol/l nhưng khơng có BN nào giảm dưới 3 mmol/l.

Tất cả bệnh nhân có xét nghiệm kali giảm đều được bồi phụ đủ kali về giá trị

bình thường trước khi thực hiện PCA

Lượng kali sau mổ 24 giờ của nhóm H là 3.81 0.43 mmol/l nhóm D là

3.75 0.38 mmol/l. Sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê (p>0.05). Tất cả

bệnh nhân sau mổ 24 giờ đều có kali máu trong giới hạn bình thường khơng

cần điều trị.

4.3.4.2 Biến đổi về canxi trong và sau phẫu thuật

Sự biến đổi canxi ion trong quá trình phẫu thuật được thể hiện ở bảng

3.14. Trong đó, lượng canxi trước mổ ở nhóm H và nhóm D lần lượt là 1.04

0.23mmol/l và 1.00 0.03 mmol/l được kiểm định là như nhau (P>0.05).



Lượng canxi ion sau mổ của hai nhóm lần lượt là 0.94 0.15 mmol/l và 0.97 

0.80 mmol/l. Như vậy canxi ion sau mổ thấp hơn so với trước mổ nhưng sự



71



tụt giảm này là khơng có ý nghĩa thống kê (p>0.05). Lượng canxi bị tụt giảm

có thể do đây là phẫu thuật về xương, do mất máu trong mổ đi kèm với sự tụt

giảm về canxi. Lượng canxi sau mổ 24 giờ của nhóm H là 0.98 0.14 mmol/l,

nhóm D là 1.01 0.11 mmol/l. Sự khác biệt gữa hai nhóm là khơng có ý nghĩa

thống kê (p>0.05).

Sở dĩ chúng tôi theo dõi sự tụt giảm ion canxi trong phẫu thuật là do một

số tác giả lo ngại việc sử dụng haloperidol có thể gây hạ canxi huyết [27]. Tuy

nhiên đó có thể là do các tác giả dùng haloperidol với liều cao hơn .Trong

nghiên cứu này, với việc chỉ sử dụng 1.5mg haloperidol ở nhóm H, lượng tụt

giảm canxi ion sau mổ thấp nhất khơng phải ở nhóm H mà lại là bệnh nhân ở

nhóm D ( giá trị ion canxi thấp nhất ở nhóm D là 0.64 mmol/l, nhóm H là

0.72 mmol/l). Tất cả bệnh nhân có kết quả xét nghiệm canxi ion giảm đều

được bồi phụ canxi về giá trị bình thường trước khi thực hiện PCA. Lượng

canxiion trung bình sau mổ ở hai nhóm là như nhau và khơng khác biệt so với

trước mổ (p>0.05). Sau khi có những điều chỉnh khi khi có sự tụt giảm canxi

ở xét nghiệm ngay sau mổ thì lượng canxi ion sau mổ 24 giờ dần trở về giá trị

ban đầu (trước mổ) của bệnh nhân.Tuy nhiên hạn chế ở nghiên cứu này là một

số bệnh nhân bị mất máu, phải truyền máu nhiều đã được bồi phụ 1 gam canxi

trong mổ. Sự mất máu nhiều hay ít cũng ảnh hưởng đến sự biến đổi canxi

trong mổ.

4.3.5. Mức độ an thần

Mức độ an thần sau mổ được biểu diễn ở biểu đồ 3.12

Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng thước đo mức độ an thần là

Echell de sedation (EDS) sau mổ với các điểm số được theo dõi là: Bệnh nhân

hoàn toàn tỉnh táo tính 0 điểm. Thỉnh thoảng buồn ngủ dễ đánh thức 1 điểm;

buồn ngủ thường xuyên tính 2 điểm và ngủ gà khó đánh thức cho 3 điểm [37].



72



Thước đo này được áp dụng phổ biến ở trên thế giới và cũng được áp dụng tại

bệnh viện Việt Đức dùng để theo dõi bệnh nhân sau mổ có dùng giảm đau.

Mức độ an thần sau mổ là một chỉ số được theo dõi thường xuyên sau

mổ, là thước đo để đánh giá xem bệnh nhân có được bắt đầu hay tiếp tục sử

dụng PCA hay không. Nghiên cứu của chúng tôi chỉ cho phép bệnh nhân sử

dụng PCA khi đánh giá mức an thần là 0 hoặc 1. Tất cả những trường hợp

mức an thần từ 2 trở lên đều không được phép sử dụng PCA.

Mức độ an thần của bệnh nhân ở hai nhóm theo thời gian có xu hướng

giảm dần. Mức an thần tại những giờ đầu sau mổ cao là do bệnh nhân vừa

phải trải qua một cuộc mổ, chuyển từ thở máy về thở tự nhiên đồng thời vẫn

còn tồn dư thuốc mê. Qua giai đoạn hồi tỉnh bệnh nhân sẽ thích nghi trở lại

trạng thái bình thường nên càng về sau mức an thần sẽ giảm dần theo thời

gian. Mức an thần của nhóm H có xu hướng cao hơn của nhóm D nhưng sự

khác biệt là khơng có ý nghĩa thống kê (p>0.05). Điều này là phù hợp với hầu

hết các nghiên cứu trước đó khi các tác giả đều cho rằng haloperidol có xu

hướng làm kéo dài sự an thần nhưng sự khác biệt là khơng có ý nghĩa thống

kê khi sử dụng liều 1mg và 2mg [2],[19]

Đánh giá mức độ an thần cho bệnh nhân từ sau khi rút NKQ. Trong

nghiên cứu này, hầu hết bệnh nhân có mức an thần dưới 2 sau mổ khoảng 2

giờ và có thể sử dụng PCA. Chỉ một số bệnh nhân sau mổ có mức an thần là 2

biểu hiện bằng sự buồn ngủ thường xuyên nhưng dễ đánh thức. Sau 24 giờ tất

cả bệnh nhân đều có mức an thần là 0, chỉ một phần nhỏ bệnh nhân có mức an

thần là 1. Mức độ an thần giảm dần theo thời gian, khơng có bệnh nhân nào bị

buồn ngủ trở lại do ảnh hưởng của thuốc.

4.3.6. Đánh giá tác dụng không mong muốn khác.

Những tác dụng không mong muốn khác được thể hiện ở bảng 3.16



73



4.3.6.1.Đau đầu

Đau đầu là một trong những tác dụng phụ thường gặp sau gây mê. Trong

nghiên cứu này, nhóm sử dụng haloperidol để dự phòng có 2 bệnh nhân

(5.7%) bị đau đầu trong khi nhóm sử dụng dexamethasone khơng có bệnh

nhân nào bị đau đầu cả. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu

trước [48][39] khi các tác giả cho rằng cho rằng dexamethasone có thể làm

giảm bớt tác dụng phụ gây đau đầu sau gây mê toàn thân. Triệu chứng này

giảm khi cho bệnh nhân truyền 1 gam paracetamol. Tuy nhiên sự khác biệt về

tỷ lệ đau đầu giữa hai nhóm nghiên cứu là khơng có ý nghĩa thống kê

(p>0.05)

4.3.6.2 Chóng mặt

Chóng mặt cũng là một tác dụng phụ thường gặp sau gây mê toàn thân,

đặc biệt là khi bệnh nhân có sử dụng thêm opioid sau mổ. Nó gây ra một trạng

thái rất khó chịu cho bệnh nhân.

Tỷ lệ chóng mặt tăng khi bệnh nhân có sử dụng morphin sau mổ [36]

[49]. Trong nghiên cứu này có 4 bệnh nhân (17.4%) trong nhóm H bị chóng

mặt còn nhóm D chỉ có 2 bệnh nhân (5.7%). Như vậy haloperidol có xu

hướng làm tăng cảm giác chóng mặt sau mổ nhưng sự khác biệt khơng có ý

nghĩa thống kê (p>0.05)

Một điều đặc biệt là những bệnh nhân này chỉ có cảm giác chóng mặt

chứ khơng hề bị đau đầu kèm theo. Cảm giác này xuất hiện vào ngày đầu tiên

sau mổ, xuất hiện khơng thường xun ,thống qua, chỉ cần cho bệnh nhân

nghỉ ngơi yên tĩnh là triệu chứng này tự hết, không cần điều trị.

4.3.6.3 Ngứa

Ngứa là một trong những tác dụng phụ của morphin, do làm tăng tiết

histamin đặc biệt khi bệnh nhân có sử dụng PCA morphin sau mổ. Nguyên

nhân có thể do dùng morphin liên tục kéo dài khiến histamin được tiết ra sẽ



74



tích tụ lại gây cảm giác ngứa cho bệnh nhân. Có những báo cáo mà tác giả

cho rằng tác dụng này gây khó chịu đến mức mà bệnh nhân hồn tồn khơng

đáp ứng với thuốc kháng histamin mà phải dùng đến naloxon và ngừng sử

dụng morphin bệnh nhân mới hết ngứa [49].

Trong nghiên cứu của chúng tơi, nhóm H khơng có bệnh nhân nào bị

ngứa trong khi nhóm D gặp 2 bệnh nhân (5.7%). Những bệnh nhân này chỉ bị

ngứa mức độ nhẹ và vừa đáp ứng tốt với thuốc kháng histamin. Không bệnh

nhân nào cần dùng naloxon hoặc phải ngừng PCA vì ngứa.

4.3.6.4 Chướng bụng

Chướng bụng cũng là một tác dụng phụ hay gặp khi sử dụng morphin.

Trong nghiên cứu này, nhóm D có tỷ lệ bệnh nhân bị chướng bụng là 17.1%

(6 bệnh nhân ) trong khi tỷ lệ chướng bụng của nhóm H là 5.7% ( 2 bệnh

nhân). Như vậy tỷ lệ chướng bụng ở nhóm sử dụng haloperidol thấp hơn

nhóm D, tuy nhiên sự khác biệt là khơng có ý nghĩa thống kê (p>0.05).

Với những bệnh nhân có tác dụng phụ này , việc cho bệnh nhân uống

khoảng 200ml cocacola tỏ ra khá hiệu quả , bệnh nhân sẽ trung tiện được và

thoải mái, dễ chịu hơn. Cocacola – một thứ nước giải khát có ga tỏ ra hiệu quả

trong trường hợp này.

4.3.6.5 Tác dụng khác.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, với việc chỉ sử dụng một liều nhỏ và

duy nhất 1.5 mg haloperidol lúc khởi mê, kết quả của chúng tơi khơng có

bệnh nhân nào có tác dụng phụ ngoại tháp, rung giật cơ hay loạn vận động

theo kiểu Parkinson. Khơng có bệnh nhân nào có biến động nhiều về tim

mạch, suy hơ hấp, hay tụt huyết áp phải điều trị bằng thuốc co mạch. Điều

này cũng có thể do chúng tơi đã loại trừ bệnh nhân có bệnh lý tim mạch, bệnh

lý gan, thận, bệnh tâm thần…Tất cả BN đều nằm trong nghiên cứu, khơng có

BN nào bị loại khỏi nghiên cứu.



75



4.4 Hạn chế của đề tài

Do ở trong nước chưa có tác giả nào nghiên cứu về việc sử dụng

haloperidol để dự phòng nôn nên chúng tôi bước đầu mới chỉ nghiên cứu sử

dụng haloperidol đơn độc để dự phòng nơn cho bệnh nhân mà chưa có nhóm

nghiên cứu phối hợp thuốc nên bệnh nhân có số YTNC cao thì tỷ lệ NBNSM

vẫn còn rất cao.

Do phương tiện nghiên cứu còn hạn chế, khơng có Holter điện tâm đồ

nên chúng tơi chưa theo dõi được thay đổi về khoảng Q-T trên điện tâm đồ để

nhận định mức độ, khả năng có thể gây kéo dài khoảng Q-T cho bệnh nhân.

Theo cảnh báo của FDA thì việc sử dụng domperidol có thể gây đột tử ở bệnh

nhân do làm tăng khoảng Q-T.

Đây mới chỉ là một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng nghiên cứu trong

một thời gian ngắn nên số lượng bệnh nhân nghiên cứu còn hạn chế, vì vậy

cần có nghiên cứu sâu hơn nữa để khẳng định kết quả.



76



KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu dự phòng NBNSM bằng 1.5 mg haloperidol tiêm bắp

hoặc 8mg dexamethasone tiêm tĩnh mạch trên 70 bệnh nhân PTCS có dùng

morphin PCA để giảm đau cho phép kết luận:

Mục tiêu 1:

- Sử dụng Haloperidol có tác dụng dự phòng nơn và buồn nôn sau mổ

tương tự dexamethasone trên bệnh nhân PTCS có dùng morphin PCA để giảm

đau (p>0.05)

- Tỷ lệ bệnh nhân NBNSM của nhóm H là 34.3% khơng khác biệt với

của nhóm D là 31.4% nhưng tỷ lệ buồn nơn của nhóm H cao hơn còn tỷ lệ

nơn thực sự lại thấp hơn nhóm D (p<0.05)

- Tỷ lệ NBNSM của nhóm H cao nhất vào thời điểm 2-12 giờ sau mổ,

thấp nhất vào khoảng 0-2 giờ đầu sau mổ khác nhóm D (p<0.05). Thời điểm

xuất hiện NBNSM của nhóm H muộn hơn nhóm D (p<0.05)

- Tỷ lệ bệnh nhân NBNSM theo số YTNC tương tự nhóm D (p>0.05)

đều thấp hơn so với dự đoán của Apfel.

- Tỷ lệ BN cần dùng thuốc giải cứu của hai nhóm là như nhau nhưng số

lượng thuốc cần dùng để giải cứu của nhóm H thấp hơn nhóm D (p<0.05)

Mục tiêu 2:

- Haloperidol và dexamethasone đều không ảnh hưởng đến hô hấp huyết

động, đường huyết, điện giải, canxi trong và sau mổ cũng như lượng tiêu thụ

morphin sau mổ.

- Mức độ an thần của nhóm H có xu hướng cao hơn nhóm D nhưng

khơng có ý nghĩa thống kê (p>0.05)

- Các dụng phụ khác cũng tương tự giữa hai nhóm đều chiếm tỷ lệ thấp.

Khơng có BN nào có hội chứng ngoại tháp hoặc suy hơ hấp sau mổ.



77



KIẾN NGHỊ

Haloperidol có hiệu quả và ít tác dụng khơng mong muốn trong dự

phòng nơn và buồn nôn sau mổ cho những bệnh nhân phẫu thuật cột sống có

dùng morphin PCA để giảm đau. Tuy nhiên cần có một nghiên cứu sâu hơn

nữa để khẳng định kết quả trước khi áp dụng vào thực tiễn.

Với những bệnh nhân có nguy cơ NBNSM cao theo Apfel cần phối hợp

thêm thuốc dự phòng nhóm khác để có hiệu quả cao hơn.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.



Marsha M. C et al (1994), The postoperative interview: Assessing risk

factor for nausea and vomiting, Anesth Analg, 7-16.



2.



Tramer MR (2001), A rational approach to the control of NBNSM:

evidence from systematic review .Part I. efflcacy and harm of antiemetic

intervention, and methodological issues, Acta Anaesthesiologica

Scandinavica, 45/4-13



3.



Wang TF, Liu YH, Chu CC, Shieh JP, Tzeng JI, Wang JJ (2008). Low-dose

haloperidol prevents postoperative nausea and vomiting after ambulatory

laparoscopic surgery. Acta Anaesthesiol Scand. 52(2):280–284.



4.



Aouad MT, Siddik-Sayyid SM, Taha SK et al (2007). Haloperidol vs.

ondansetron for the prevention of postoperative nausea and vomiting

following gynaecological surgery. Eur J Anaesthesiol. 24(2): 171–178.



5.



Rosow CE, Haspel KL, Smith SE et al (2008). Haloperidol versus

ondansetron



for



prophylaxis



of



postoperative



nausea



and



vomiting. Anesth Analg. 106(5): 1407–1409.

6.



Nguyễn Thụ, Đào Văn Phan, Công Quyết Thắng (2000), Các thuốc giảm

đau họ Morphin, Thuốc sử dụng trong gây mê, NXB Y học, 180-233.



7.



Vũ Hoàng Phương, (2014), Các thuốc giảm đau họ Morphin, Gây mê

hồi sức, NXB Y học, 74-75.



8.



Đỗ Xuân Hợp (1976), Giải Phẫu đại cương Đầu Mặt Cổ, Giải phẫu

người, NXB Y học, 215.



9.



Nguyễn Quang Quyền (1997): Não thất bốn và tiểu não, Atlas giải phẫu

người, NXB Y học, 123.



10. Bài Giảng Sinh Lý Học (1998), Sinh lý bộ máy tiêu hóa, Bộ mơn Sinh

Lý Trường Đại Học Y Hà Nội, 359.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Huyết áp trung bình trong mổ được thể hiện ở biểu đồ 3.4

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×