Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nghiên cứu của chúng tôi tiến hành trên 70 bệnh nhân chia làm 2 nhóm mỗi nhóm 35 bệnh nhân theo phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên. Các bệnh nhân trong nghiên cứu đều là những người khỏe mạnh ASA I, II

Nghiên cứu của chúng tôi tiến hành trên 70 bệnh nhân chia làm 2 nhóm mỗi nhóm 35 bệnh nhân theo phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên. Các bệnh nhân trong nghiên cứu đều là những người khỏe mạnh ASA I, II

Tải bản đầy đủ - 0trang

53



Cân nặng và chiều cao trung bình của hai nhóm khác nhau khơng có ý

nghĩa thống kê (P> 0.05). Cân nặng và chiều cao đều phù hợp với người Việt

Nam, kết quả tương tự với nghiên cứu trước về PTCS như nghiên cứu của

Nguyễn Văn Thạch [38], Võ Văn Thanh [35]

4.1.1.3. Giới tính

Tỷ lệ nữ / nam ở nhóm H là19/16=1,19. Tỷ lệ nữ/ nam của nhóm D là

21/14=1,5. Tỷ lệ nam, nữ của hai nhóm khác nhau khơng có ý nghĩa thống kê

(p>0.05). Các tác giả trong nước và thế giới đều có chung nhận định là bệnh

lý cột sống, đặc biệt là cột sống vùng thắt lưng gặp ở nữ nhiều hơn nam. Tỷ lệ

nữ /nam trong các nghiên cứu về dự phòng NBNSM ở bệnh nhân PTCS cũng

tương tự như nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Thạch (2013) tỷ lệ nữ/nam là 1,26

[38]. Nghiên cứu của Võ Văn Thanh tỷ lệ nữ/ nam là 2,3. Tỷ lệ bệnh lý cột

sống ở nữ nhiều hơn có thể do phụ nữ là người phải chăm lo hồn tồn cơng

việc gia đình, trải qua quá trình mang thai và sinh nở, vì vậy nữ giới mắc bệnh

lý cột sống nhiều hơn nam giới [38][35]

4.1.2 YTNC theo Apfel

Theo Apfel và cộng sự thì mỗi YTNC như nữ giới, tiền sử say tàu

xe/NBNSM, không hút thuốc lá, sử dụng opioid sau mổ được tính 1 điểm

trong số các YTNC. Phân bố bệnh nhân ở hai nhóm NC theo từng YTNC của

Apfel là đồng đều nhau (p>0.05).

NC của chúng tôi bệnh nhân nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới, toàn

bộ bệnh nhân nữ đều không hút thuốc lá, tất cả bệnh nhân đều sử dụng opioid

sau mổ, do vậy bệnh nhân trong NC của chúng tơi có YTNC cao hơn một số

tác giả khác.

Opioides là nhóm thuốc giảm đau gây ngủ họ Morphine có tác dụng chủ

yếu lên thần kinh trung ương và trên ruột thơng qua thụ thể µ ở sừng sau tủy

sống. Tác dụng của thuốc họ Morphine rất đa dạng bao gồm giảm đau, gây



54



ngủ, ức chế hô hấp, giảm nhu động dạ dày ruột, nôn, buồn nôn, thay đổi nội

tiết… Buồn nôn, nôn là tác dụng không mong muốn thường gặp sau khi dùng

thuốc họ Morphine do các thụ thể dopamin ở sàn não thất IV của trung tâm

nơn bị kích thích [6],[11],[36]. Trong nghiên cứu của Hồ Văn Huấn [39],

những bệnh nhân dùng morphine sau mổ có nguy cơ NBNSM gấp 2.89 lần so

với những bệnh nhân không dùng. Nghiên cứu của chúng tôi, 100% BN sử

dụng morphin sau mổ, do vậy tỷ lệ NBNSM cũng ở mức cao

4.1.3. Nghề nghiệp

Trong nghiên cứu của chúng tôi: chủ yếu là những người có nghề nghiệp

lao động chân tay như công nhân, nông dân chiếm 48,6%. Công chức, nhân

viên văn phòng, sinh viên chiếm 40%. Chỉ 11,4% bệnh nhân thuộc nhóm

nghề nghiệp ít tác động đến cột sống (nội trợ, hưu trí). Kết quả của chúng tơi

cũng phù hợp với các tác giả nghiên cứu trên bệnh nhân phẫu thuật cột sống

[38][35]

4.1.4. Phân bố bệnh nhân theo ASA

Chúng tôi lựa chọn bệnh nhân có phân loại tình trạng sức khỏe theo ASA

là ASAI và ASAII để đưa vào nghiên cứu . Với độ phân loại bệnh tật trung

bình của hai nhóm trong nghiên cứu, thì tình trạng sức khỏe của bệnh nhân

của chúng tôi tốt hơn các tác giả khác do các tác giả khác do một số tác giả

còn nghiên cứu trên bệnh nhân có tình trạng sức khỏe ASA III. Phân loại tình

trạng sức khỏe ASA của bệnh nhân ở hai nhóm khác nhau khơng có ý nghĩa

thống kê (p>0.05).

4.1.5. Đặc điểm về huyết động, hô hấp trước mổ

Bệnh nhân ở hai nhóm có chỉ số về huyết động và hô hấp khá tương

đồng nhau. Tần số tim trung bình của nhóm H là 79.03 6.47 lần/ phút, của

nhóm H là 79.14 7.02 lần/ phút , thấp nhất là 60 lần/ phút, cao nhất là 92

lần / phút. HATB của nhóm H là 86.4 5.69 mmHg, của nhóm D là 85.59 



55



5.09 mmHg.Tần số thở của hai nhóm đều trong giới hạn bình thường , thấp

nhất là 17 nhịp/ phút, cao nhất là 20 nhịp / phút.

4.1.6. Đặc điểm về phẫu thuật

4.1.6.1. Nguyên nhân và vị trí phẫu thuật

Nguyên nhân phẫu thuật thể hiện ở bảng 3.2

Bệnh nhân trong nghiên cứu chủ yếu bị bệnh lý như trượt cột sống, thoát

vị cột sống là những bệnh lý thường gặp do sai tư thế hoặc hẹp ống sống, u

trong ống sống chiếm tỷ lệ cao…Bệnh nhân có nguyên nhân chấn thương dẫn

đến vỡ cột sống chiếm tỷ lệ thấp hơn.

Vị trí bệnh lý thường gặp là ở cột sống thắt lưng từ L1 - L5, S1 (92.9%)

Một phần nhỏ mắc ở cột sống ngực từ D10, D11, D12 (7.1%).

Ngun nhân và vị trí phẫu thuật của hai nhóm khác nhau khơng có ý

nghĩa thống kê (p>0.05) . Đặc điểm này cũng phù hợp với các tác giả khác về

phẫu thuật cột sống [38][35].

4.1.6.2 Phương pháp vôn cảm và thuốc dùng trong gây mê

Do phẫu thuật cột sống nằm sấp, thời gian mổ có thể kéo dài > 2 giờ,

trong mổ có thể mất máu nhiều nên tất cả các bệnh nhân trong nghiên cứu của

chúng tôi đều được gây mê nội khí quản cùng một phác đồ. Với việc sử dụng

phương pháp gây mê NKQ thuận lợi cho PT do đảm bảo hô hấp, giãn cơ đầy

đủ cũng như đáp ứng được thời gian mổ kéo dài, tuy nhiên các nghiên cứu

cũng chỉ ra rằng phương phá gây mê NKQ cũng làm tăng tỷ lệ NBNSM so

với các phương pháp gây tê vùng [15][19][39]. Liều lượng các thuốc mê và

giảm đau được trình bày ở bảng. Chúng tơi thấy việc sử dụng thuốc gây mê

trong 2 nhóm là như nhau khác nhau khơng có ý nghĩa thống kê (p>0.05).

Trong nhiều tài liệu nghiên cứu, các tác giả đều chứng minh rằng việc sử

dụng opioid và các dẫn xuất của nó có ảnh hưởng đến tỷ lệ NBNSM [11][40]

[41]. Trong nghiên cứu này chúng tơi có kiểm sốt chặt chẽ việc sử dụng



56



fentanyl trong mổ của bệnh nhân. Lượng thuốc giảm đau fentanyl của nhóm

H là (0,31 0,06) mg và nhóm D là (0,32 0,06) mg sự khác nhau khơng có ý

nghĩa thống kê( p>0,05). Lượng thuốc ngủ và giãn cơ của hai nhóm nghiên

cứu cũng khơng có sự khác biệt (p>0.05). Kết quả chúng tôi cũng tương tự

nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Thạch về phẫu thuật cột sống

4.1.6.3.Thời gian phẫu thuật

Thời gian phẫu thuật được thể hiện ở bảng 3.3

Thời gian phẫu thuật trung bình là 114  43 phút, phẫu thuật ngắn nhất

trong 55 phút và dài nhất trong 210 phút. Thời gian phẫu thuật trung bình của

hai nhóm nghiên cứu khơng có sự khác biệt (p>0.05)

Theo hội gây mê hồi sức thế giới [13][21] thời gian phẫu thuật kéo dài sẽ làm

tăng nguy cơ NBNSM, theo đó thời gian phẫu thuật cứ kéo dài thêm 30 phút thì

tỷ lệ NBNSM tăng thêm 60% nghĩa là tăng tỷ lệ NBNSM cơ bản từ 10% lên

16%. Thời gian phãu thuật của chúng tôi tương tự thời gian phẫu thuật của

Nguyễn Ngọc Thạch về phẫu thuật cột sống 130 phút [38], nhưng dài hơn nghiên

cứu của Feng FH [18] trên bệnh nhân phẫu thuật túi mật nội soi 80 25 phút

4.1.6.4. Lượng dịch và máu truyền trong mổ

Dịch truyền trong mổ trung bình của nhóm H là 1371 451 ml, của

nhóm D là 1234 335 ml. thấp nhất là 600ml, cao nhất là 2100ml.Số lượng

dịch truyền trung bình giữa hai nhóm nghiên cứu khơng có sự khác biệt

(P>0.05)

Theo một số nghiên cứu thì truyền nhiều dịch trong mổ sẽ làm giảm

nguy cơ buồn nôn, nôn ở giai đoạn 24 giờ đầu sau mổ [32]. Tuy nhiên truyền

nhiều dịch trong mổ lại gây ra những hệ lụy khác, Do đó tùy từng bệnh nhân,

bệnh lý cụ thể mà chúng ta cho bệnh nhân truyền dịch cho phù hợp.

Máu: Theo nhiều nghiên cứu thì mất máu tùy mức độ sẽ có những ảnh

hưởng khác nhau trên bệnh nhân. Mất máu mức độ 1 (dưới15%) thể tích máu



57



thì cơ thể sẽ có những bù trừ và chưa cần phải truyền máu. Tuy nhiên nếu

bệnh nhân mất máu mức độ cao hơn, Nếu mất máu mức độ 2 ( mất 15-30%)

thì cân nhắc việc truyền máu. Cơ thể sẽ có những biến đổi về huyết động như

nhịp tim nhanh, hạ huyết áp thì cần bù dịch tinh thể, dịch keo và xét truyền

máu cho bệnh nhân nếu dự doán khả năng tiếp tục mất máu. Khi mất máu trên

30% thể tích máu cơ thể thì bắt buộc phải truyền máu cho bệnh nhân. Số

lượng máu mất căn cứ dựa vào số lượng máu được hút ra ở bình hút và thấm

gạc. Nếu chưa chắc chắn thì được làm xét nghiệm khí máu để xác định nhanh

lượng huyết sắc tố, hematocrit của bệnh nhân để có chỉ định truyền máu hợp

lý. Truyền máu với tỷ lệ 1 đơn vị hồng cầu khối đi kèm 1 đơn vị huyết tương

tươi để phòng tránh rối loạn đơng máu có thể gặp.

Trong nghiên cứu này tỷ lệ bệnh nhân phải truyền máu ở nhóm H là

28.5%, nhóm D là 22.8%. Sự khác biệt giữa hai nhóm nghiên cứu là khơng có

ý nghĩa thống kê (p>0.05). Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với những

nghiên cứu khác về phẫu thuật cột sống [38][35]

4.1.7. Về lượng morphin sử dụng:

Lượng morphin cần sử dụng của hai nhóm sau mổ được thể hiện ở bảng

3.15, trong đó lượng morphin được chuẩn độ của nhóm H là 2.87  0.34 mg,

của nhóm D là 2.83  0.3mg. Sự khác biệt giữa hai nhóm nghiên cứu là

khơng có ý nghĩa thống kê.

Trong nghiên cứu của chúng tôi morphin được chuẩn độ khi bệnh nhân

thở tốt, mức độ an thần  1 và VAS >4. Mục tiêu đưa VAS về dưới 4.Chuẩn

độ: ban đầu tiêm tĩnh mạch cho BN 2mg morphin, đánh giá lại sau 10 phút,

nếu VAS ≥ 4 tiếp tục tiêm tĩnh mạch 1mg. Ở đây chúng tôi chủ yếu chỉ cần

tiêm tĩnh mạch 1 lần là điểm VAS đã về dưới 4.

Lượng morphin sử dụng của bệnh nhân qua các thời điểm: Tại thời điểm

sau mổ 24 giờ, tổng lượng morphin sử dụng của nhóm H là 28.5 12.6 mg,



58



nhóm D là 24.2 10.6 mg. Tương tự, tổng lượng morphin được sử dụng sau

mổ 48 giờ ở nhóm H là 47.1 17.6 mg, nhóm D là 43.6 17.1 mg.Tổng lượng

morphin sử dụng trong 72 giờ của nhóm H là 58.7 21.3 mg, nhóm D là: 54.7

22.5 mg



Như vậy, tổng lượng morphin dùng ở ngày đầu tiên sau mổ là cao nhất,

giảm dần ở ngày thứ 2 và thứ 3. Điều này cũng phù hợp với các nghiên cứu

trước về giảm đau PCA do mức độ đau sẽ giảm dần sau mổ theo thời gian

[36]. Theo một số nghiên cứu thì việc sử dụng dexamethasone trước mổ có

thể làm giảm mức tiêu thụ morphin sau mổ ở phẫu thuật cột sống như nghiên

cứu của Nielsen RV năm 2015 [18], việc sử dụng haloperidol phòng nơn

khơng làm giảm tiêu thụ morphin sau mổ như nghiên cứu của EBNeshahidi A

năm 2013 [42]. Trong nghiên cứu này lượng morphin tiêu thụ sau mổ của

nhóm H cao hơn nhóm D, tuy nhiên sự khác biệt là khơng có ý nghĩa thống kê

(p>0.05).

4.2 Hiệu quả dự phòng nơn và buồn nơn sau mổ

Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng haloperidol 1.5 mg tiêm bắp khi khởi

mê để dự phòng nơn và buồn nơn sau mổ cho bệnh nhân. Sở dĩ chúng tôi

chọn con số 1.5 mg haloperidol vì trên thế giới đã có những nghiên cứu về dự

phòng nơn cuả haloperidol ở những liều khác nhau. Cụ thể có những nghiên

cứu sử dụng haloperidol liều 5mg, 2mg,1 mg, 0.5 mg trong đó liều dưới 0.5

mg tỏ ra hiệu quả khơng cao hơn so với nhóm khơng được dự phòng [3],[43].

Nghiên cứu sử dụng liều 5 mg có hiệu quả dự phòng nơn và buồn nơn sau mổ

nhưng bệnh nhân sau mổ lại có mức an thần cao dù nghiên cứu đó khơng sử

dụng morphin sau mổ [31].

Nghiên cứu của Parlow JL sử dụng haloperidol đơn độc liều 1mg và 2

mg cho kết quả khả quan, trong dó nhóm sử dụng haloperidol liều 2 mg có

hiệu quả hơn nhưng có xu hướng làm tăng mức an thần so với việc sử dụng



59



haloperidol liều 1mg. Tuy nhiên sự khác biệt là khơng có ý nghĩa thống kê

(p>0.05) [16].

Một thực tế khác nữa là haloperidol được sử dụng rất rộng rãi ở bệnh

nhân có triệu chứng kích động tâm thần ở dạng viên nén được sản xuất với

hàm lượng 1.5 mg. Nghiên cứu đa phân tích trên 400 bệnh nhân sử dụng liều

haloperidol 3 mg cho kết quả không có bệnh nhân nào mắc tác dụng phụ

ngoại tháp – một tác dụng phụ người ta lo ngại nhất khi sử dụng haloperidol

liều cao và kéo dài [28]. Như vậy việc sử dụng haloperidol liều 1.5 mg liều

duy nhất khi khởi mê được cho là an toàn cho bệnh nhân trong nghiên cứu.

Chúng tôi không sử dụng phương pháp nghiên cứu có đối chứng vì bệnh

nhân sử dụng PCA morphin là một trong những yếu tố nguy cơ cao làm tăng

tỷ lệ nôn và buồn nôn sau mổ. Nếu sử dụng một nhóm chứng khơng được dự

phòng sẽ vi phạm về y đức trong nghiên cứu. Do vậy chúng tôi sử dụng

phương pháp nghiên cứu tiến cứu lâm sàng ngẫu nhiên có so sánh. Nhóm so

sánh được chọn là nhóm được dự phòng bằng dexamethasone – một thuốc

kinh điển thường được dùng trong dự phòng nơn đã dược chứng minh là có

hiệu quả trong dự phòng NBNSM trong nhiều nghiên cứu [15][41][44].

Dexamethasone chúng tôi sử dụng liều 8 mg và được tiêm tĩnh mạch lúc khởi

mê. Theo nghiên cứu của Vũ Ngọc Hưng thì sử dụng dexamethasone tại thời

điểm sau gây mê tốt hơn thời điểm trước khi kết thúc phẫu thuật [15]. Theo

nghiên cứu của Yao L.Yang, việc sử dụng haloperidol lúc gây mê so với khi kết

thúc phẫu thuật cho hiệu quả dự phòng nơn như nhau [17], nhưng tác dụng phụ

về an thần của nhóm sử dụng lúc gây mê thấp hơn nhóm sử dụng trước khi kết

thúc phẫu thuật [17], do vậy chúng tôi chọn thời điểm dùng thuốc dự phòng của

cả hai nhóm là lúc khởi mê.

4.2.1 Tỷ lệ nôn và buồn nôn sau mổ

Tỷ lệ % nôn và buồn nôn sau mổ thể hiện ở bảng 3.9



60



Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tổng tỷ lệ NBNSM và tỷ lệ

BN vừa nôn và buồn nơn của nhóm H và nhóm D khác nhau khơng có ý

nghĩa thống kê (p>0.05). Tuy nhiên, tỷ lệ BN chỉ buồn nơn ở nhóm H là

14.2% cao hơn nhóm D là 2.8% có ý nghĩa thơng kê. Mặt khác, tỷ lệ BN chỉ

bị nơn ở nhóm H là 2.9% thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm D là 14.3%. Như

vậy việc sử dụng haloperidol bệnh nhân có tỷ lệ nơn thấp hơn nhưng tỷ lệ

bệnh nhân bị buồn nơn lại cao hơn nhóm sử dụng dexamethasone. Kết quả

của chúng tôi cũng phù hợp với các nghiên cứu trước khi các tác giả đều cho rằng

haloperidol là một thuốc chống nôn mạnh hơn là chống buồn nôn như nghiên cứu

củaYao L.Yang [17], còn dexamethasone lại có tác dụng chống buồn nôn tốt hơn là

chống nôn như nghiên cứu của Nguyễn Đình Long [41], Trần Thị Ánh Hiền [44]

Các nghiên cứu về tác dụng dự phòng NBNSM cho thấy tác dụng chống

nôn và buồn nôn sau phẫu thuật là tùy thuộc vào từng đối tượng nghiên cứu

và tùy thuộc vào số lượng bệnh nhân nghiên cứu.

4.2.2 Tỷ lệ NBNSM theo một số YTNC

Trong nghiên cứu của chúng tôi tất cả bệnh nhân đều có từ 1YTNC trở

lên do tất cả bệnh nhân đều sử dụng morphin PCA sau mổ để giảm đau.

Khơng có bệnh nhân nữ nào hút thuốc lá do vậy nam giới sẽ có thang điểm 1

hoặc 2, nữ giới sẽ có thang điểm 3 hoặc 4 về số YTNC nôn, buồn nôn sau mổ

theo Apfel.

Theo Apfel [23], yếu tố nguy cơ càng cao thì tỷ lệ bệnh nhân NBNSM

càng lớn. Các yếu tố nguy cơ là: giới nữ, tiền sử say tàu xe hoặc nôn sau phẫu

thuật, không hút thuốc lá và dùng opioid sau phẫu thuật [23],[24].

Có nhiều yếu tố nguy cơ gây ra nôn và buồn nôn sau mổ. Tùy theo

nghiên cứu mà các tác giả chọn đối tượng có các yếu tố nguy cơ khác nhau.

Hồ Khả Cảnh [45], “đánh giá tần suất nôn và buồn nôn xảy ra sau phẫu thuật

ruột thừa viêm cấp bằng kỹ thuật nội soi”, tác giả quan tâm chủ yếu tới thời



61



gian gây mê và thời gian phẫu thuật. Hồ Xuân Huấn [39], các yếu tố liên quan

như giới, tiền sử say tàu xe, tiền sử hút thuốc lá, dị ứng, thời gian gây mê, thời

gian phẫu thuật và có sử dụng morphine để giảm đau sau mổ.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, phân loại bệnh nhân theo yếu tố nguy

cơ Apfel, các yếu tố nguy cơ là: nữ giới, tiền sử say tàu xe hoặc nôn buồn nôn

sau mổ, không hút thuốc lá và dùng thuốc opioid sau mổ.

4.2.2.1.Tỷ lệ NBNSM theo giới tính

Tỷ lệ NBNSM theo giới tính thể hiện ở bảng 3.10. Nữ giới là một trong

những YTNC được xác định là làm gây tăng tỷ lệ NBNSM so với nam giới

[22][23][24]. Kết quả nghiên cứu nhóm H có tỷ lệ NBNSM của nữ là 52.6%;

tỷ lệ NBNSM của nam là 12.5% . Nhóm D có tỷ lệ NBNSM của nữ là 47.6%,

của nam là 7.1%. Tỷ lệ NBNSM của hai nhóm ở từng giới khác nhau là

tương tự nhau (p>0.05), ở nữ cao hơn ở nam (p<0.05). Các tác giả đều ghi

nhận nữ giới có tỷ lệ nơn và buồn nơn sau mổ cao hơn nam giới [11] [22],

[23]. Nguyên nhân nữ giới có nguy cơ nơn, buồn nơn sau mổ cao hơn nam

giới vẫn chưa còn được biết rõ nhưng có thể được giải thích là do ảnh hưởng

của hormon sinh dục nữ mà nhất là Estrogen [11].

4.2.2.2 Tỷ lệ NBNSM theo tiền sử say tàu xe/NBNSM của hai nhóm

Chứng say tàu xe thường xảy ra ở những người có cơ quan tiền đình q

mẫn cảm, kém thích ứng với sự thay đổi vị trí của cơ thể. Chính sự mẫn cảm,

kém thích ứng này là giả thuyết được chấp nhận nhất để giải thích về mối

quan hệ giữa tiền sử say tàu xe với triệu chứng nôn, buồn nôn sau mổ. Tỷ lệ

NBNSM theo tiền sử say tàu xe/NBNSM thể hiện ở bảng 3.11

Theo dó tỷ lệ NBNSM ở bệnh nhân có tiền sử này ở nhóm H là 45%

tương tự nhóm D là 35% . Tỷ lệ NBNSM ở bệnh nhân khơng có tiền sử này

ở nhóm H là 20%, ở nhóm D là 26.7%. Ở mỗi nhóm NC thì bệnh nhân có

tiền sử say tàu xe/NBNSM đều có tỷ lệ NBNSM cao hơn ở bệnh nhân khơng



62



có tiền sử này. Theo Barbara J. Pleuvry [11], những bệnh nhân có tiền sử say

tàu xe hay lo lắng quá mức thì lượng serotonin, đặc biệt 5-HT 3 sẽ tăng lên và

dẫn truyền cảm giác nơn về trung ương, từ đó sẽ có phản hồi lại từ trung tâm

và có thể xảy ra hiện tượng nôn do trung tâm nôn điều hành. Điều này cho

thấy những bệnh nhân này cung phản xạ nơn của họ cũng hình thành sẵn. Một

số tác giả cũng chỉ ra rằng việc di chuyển cũng làm tăng tỷ lệ nôn buồn nôn

của việc sử dụng morphin [11][36][46].

4.2.2.3 Tỷ lệ NBNSM theo yếu tố hút thuốc lá của hai nhóm

Hút thuốc lá, thuốc lào có hại cho sức khỏe con người, có thể gây nên

bệnh lý tim mạch, hơ hấp do thuốc lá có nhiều chất độc hại. Tuy nhiên khi

khảo sát mối tương quan giữa hút thuốc lá với tình trạng nơn, buồn nơn sau

phẫu thuật nhiều tác giả đã kết luận hút thuốc lá làm giảm nguy cơ nôn và

buồn nôn [22], [23].

Kết quả của chúng tôi trong số 11 bệnh nhân hút thuốc lá của hai nhóm

khơng có bệnh nhân nào NBNSM , trong khi tỷ lệ NBNSM ở những bệnh

nhân không hút thuốc lá của nhóm H là 41.4%%, ở nhóm D là 36.7%. Theo

Apfel C. C. và cộng sự [23], thực hiện trên 520 bệnh nhân tại trung tâm Olulu

và 2202 bệnh nhân tại trung tâm Wuerzburg đã rút ra kết luận những bệnh

nhân khơng hút thuốc lá có nguy cơ cao gấp trên 2 lần so với những bệnh

nhân không hút thuốc lá có ý nghĩa thống kê với p< 0.001. Theo Marsha M. C

và cộng sự [1], thì trong khói thuốc lá có chứa Nicotin được xem là thành

phần chính có tác dụng chống nơn do chất này ức chế các thụ thể Serotonin 5HT3, Histamin H1, và cholinergic… Bên cạnh đó phải kể đến các thành phần

khác trong khói thuốc lá như khí carbon monoxide, antabine, anabosine và

polycyclic cũng tham gia vào cơ chế chống nôn. Tuy nhiên trong nghiên cứu

này tồn bộ nữ giới khơng hút thuốc lá, chỉ có một phần nam giới có hút



63



thuốc lá nên tỷ lệ NBNSM ở nhuwngx bệnh nhân không hút thuốc lá chiếm

cao hơn nhiều so với nhóm có hút thuốc lá.

4.2.2.4 Tỷ lệ NBNSM theo thang điểm yếu tố nguy cơ Apfel

Trong số BN có 1YTNC thì khơng có bệnh nhân nào bị nơn, buồn nơn ở

cả hai nhóm nghiên cứu. Trong số bệnh nhân có 2 yếu tố nguy cơ thì nhóm H

có 2 /10bệnh nhân NBNSM (chiếm 20%), nhóm D có 1/9bệnh nhân NBNSM

(chiếm 11%). Trong số bệnh nhân có 3 YTNC thì nhóm H có 3/9 BN

NBNSM ( chiếm 33%), nhóm D có 4 /10 bệnh nhân NBNSM (chiếm 40%).

Trong số bệnh nhân có 4 YTNC thì nhóm H có 7/10 bệnh nhân NBNSM

(chiếm 70%), nhóm D có 6 /11bệnh nhân NBNSM (55%). Tỷ lệ số bệnh nhân

nôn, buồn nôn sau mổ theo thang điểm YTNC của Apfel giữa hai nhóm là như

nhau (p>0.05). Bệnh nhân có số YTNC theo Apfel càng cao thì tỷ lệ NBNSM

càng cao. Điều này cũng phù hợp với các nghiên cứu của Apfel và các nghiên

cứu khác về dự đoán nguy cơ NBNSM của bệnh nhân.

Theo dự đoán tỷ lệ NBNSM đơn giản của Apfel [23], [24] tỷ lệ NBNSM

ở BN có 1; 2; 3; 4 YTNC thì tỉ lệ NBNSM lần lượt là 20%; 40%; 60%; 80%.

Như vậy, tỷ lệ bệnh nhân NBNSM ở hai nhóm trong nghiên cứu thấp hơn dự

đoán của Apfel.

4.2.2.5 Tỷ lệ NBNSM theo nghề nghiệp

Trong NC của chúng tôi, phân bố tỷ lệ bệnh nhân ở hai nhóm theo nghề

nghiệp tương tự nhau (p>0.05). Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ NBNSM của hai

nhóm làm cơng nhân nơng dân của nhóm H là 38.9% nhóm D là 37.5% khác

nhau khơng có ý nghĩa thống kê (p>0.05). Tỷ lệ NBNSM ở bệnh nhân làm

nghề khác ở nhóm H là 29.4%, nhóm D là 26.3%. Như vậy nghề nghiệp của

bệnh nhân khơng có ảnh hưởng đến tỷ lệ NBNSM .



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nghiên cứu của chúng tôi tiến hành trên 70 bệnh nhân chia làm 2 nhóm mỗi nhóm 35 bệnh nhân theo phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên. Các bệnh nhân trong nghiên cứu đều là những người khỏe mạnh ASA I, II

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×