Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Tác dụng của viên nang cứng Tiêu thực Kim Linh trên mô hình gây rối loạn lipid máu theo cơ chế ngoại sinh.

2 Tác dụng của viên nang cứng Tiêu thực Kim Linh trên mô hình gây rối loạn lipid máu theo cơ chế ngoại sinh.

Tải bản đầy đủ - 0trang

66



chuyển hố cholesterol thành acid mật, vì vậy gây được mơ hình có độ ổn định, độ

đồng nhất cao hơn và rút ngắn thời gian nghiên cứu. Tuy nhiên, acid cholic phải đặt

mua từ nước ngoài với giá tương đối cao, vì vậy trong nghiên cứu này chúng tơi đã

áp dụng mơ hình của Nassiri [54], đồng thời điều chỉnh hàm lượng acid cholic và

PTU theo nghiên cứu của Nguyễn Phương Thanh [52], với mục đích vẫn gây được

mơ hình RLLPM theo cơ chế ngoại sinh để đánh giá tác dụng của thuốc, nhưng hạn

chế được số lượng acid cholic phải sử dụng. Theo đó, Mai Phương Thanh (2013) đã

sử dụng hỗn hợp dầu cholesterol có hàm lượng đã điều chỉnh của acid cholic và

PTU thấp hơn này để gây mơ hình tăng cholesterol ngoại sinh đạt kết quả tốt [37].

Atorvastatin - thuốc điều trị RLLPM thuộc dẫn xuất statin được chọn làm

thuốc chứng dương. Liều của atorvastatin trên người là 10 - 80 mg/ngày [6]. Chúng

tôi chọn liều dùng ở chuột cống trong nghiên cứu là 10mg/kg/ngày (liều có tác dụng

tương đương với liều khuyến cáo tối đa trên người, tính theo hệ số 6). Đây cũng là

liều atorvastatin được sử dụng làm thuốc chứng dương trong một số nghiên cứu

khác trên thế giới [101], [102].

Liều dự kiến dùng trên người của TTKL là 9 viên/ngày tương đương 0,07g cao

khô DL/kg/ngày. Chúng tôi chọn hai liều TTLK: liều thấp là 0,42 g cao khơ dược

liệu/kg/ngày (liều có tác dụng tương đương liều dùng dự kiến trên người, tính theo

hệ số 6) và liều cao là 1,26g cao khô DL/kg/ngày (cao gấp 3 lần liều trên).

Trước nghiên cứu, trọng lượng và các chỉ số lipid máu của chuột cống trắng

không có sự khác biệt giữa các lơ (biểu đồ 3.4 và bảng 3.15). Trong thời gian

nghiên cứu, trọng lượng chuột ở lơ mơ hình (uống hỗn hợp dầu cholesterol nhưng

khơng uống thuốc) giảm có ý nghĩa thống kê so với lô chứng (biểu đồ 3.4), quan sát

thấy chuột ăn uống ít hơn, có lẽ do uống hỗn hợp dầu cholesterol nhiều ngày liên

tiếp, dẫn đến chuột có hiện tượng chán ăn, gầy sút cân. Các lô uống atorvastatin 10

mg/kg/ngày, TTKL 0,42 g/kg/ngày và 1,26 g/kg/ngày đều không làm thay đổi thể

trọng chuột có ý nghĩa thống kê so với lơ mơ hình ở tất cả các thời điểm nghiên cứu.

Khơng có sự khác biệt về trọng lượng chuột giữa các lô uống TTKL và lô uống

atorvastatin.



67



Từ số liệu biểu đồ 3.5 và bảng 3.16 cho thấy, uống hỗn hợp dầu cholesterol đã

gây được tình trạng RLLPM rõ rệt trên chuột cống trắng. Ở lơ mơ hình, sau 2 tuần

uống hỗn hợp dầu cholesterol, nồng độ cả 4 chỉ số TG, TC, HDL-C và non-HDL-C

đều tăng có ý nghĩa thống kê so với lô chứng sinh học. Sau 4 tuần, chuột bị RLLPM

rõ rệt hơn so với thời điểm sau uống cholesterol 2 tuần, cả 4 chỉ số TG, TC, HDL-C

và non-HDL-C đều tăng cao hơn và có khác biệt rõ rệt so với lô chứng sinh học (p <

0,01 và 0,001). Như vậy, mơ hình gây RLLPM theo cơ chế ngoại sinh đã thành

công và được dùng để đánh giá tác dụng của thuốc thử.

Atorvastatin đã thể hiện rõ tác dụng điều chỉnh RLLPM sau 4 tuần uống

thuốc, làm giảm có ý nghĩa nồng độ TC và non-HDL-C so với lơ mơ hình (TC giảm

30,8%, non-HDL-C giảm 44,8% ), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê cao (p < 0,001).

Nồng độ TG sau 4 tuần có xu hướng giảm so với lơ mơ hình, nhưng sự khác biệt

chưa có ý nghĩa thống kê. Kết quả này phù hợp với đặc điểm tác dụng của nhóm

statin, trong lâm sàng được ưu tiên lựa chọn trong trường hợp tăng TC, LDL-C máu

và chỉ thể hiện rõ tác dụng sau 4 tuần điều trị.

Trên chuột cống trắng, TTKL liều 0,42 g/kg/ngày uống trong 2 tuần và 4 tuần

có xu hướng làm giảm nồng độ các chỉ số lipid máu so với lô mơ hình, tuy nhiên sự

khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Tác dụng điều chỉnh RLLPM của TTKL được thể hiện rõ ở lô chuột uống

TTKL liều cao1,26g/kg/ngày. Ở liều này, nồng độ TG, TC và non-HDL-C đã giảm

rõ rệt so với lơ mơ hình ở thời điểm sau 2 tuần (TG giảm 22,3%, TC giảm 19,5%,

non-HDL-C giảm 32,1%) và 4 tuần nghiên cứu (giảm 27,8%, 23,2% và 28,5% theo

thứ tự). Tác dụng làm giảm nồng độ TG của TTKL liều cao 1,26g/kg/ngày tốt hơn

atorvastatin (p < 0,05).

Tuy mơ hình có sự điều chỉnh thành phần hỗn hợp dầu cholesterol theo nghiên

cứu của Nguyễn Phương Thanh (2011) song tình trạng RLLPM trong nghiên cứu

của chúng tơi có một số điểm khác: nồng độ HDL-C tăng rõ rệt so với lô chứng sinh

học, trái ngược với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Phương Thanh có nồng độ

HDL-C khơng bị ảnh hưởng [52]. Nguyên nhân gây tăng nồng độ HDL-C ở đây có



68



thể do chuột khơng có CETP, do đó, khoảng 70% lượng cholesterol trong huyết

tương được vận chuyển trong các phân tử HDL [103]. Như vậy, khi có tăng nồng độ

cholesterol huyết tương có thể sẽ làm tăng nồng độ HDL-C ở chuột. Kết quả của

chúng tôi cũng tương tự như trong nghiên cứu của một số tác giả khác [37], [85].

Nồng độ HDL-C ở lô uống atorvastatin và 2 lô uống TTKL không khác biệt so

với lô mơ hình. Khơng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ các chỉ số

TC, non-HDL-C, HDL-C giữa lô uống atorvastatin và 2 lô uống TTKL tại thời điểm

sau 2 tuần và 4 tuần nghiên cứu.

Tác dụng làm giảm nồng độ TG, TC và non-HDL-C của TTKL là sự phối hợp

tác dụng của một số vị dược liệu trong bài thuốc. Trên thế giới đã có nhiều cơng

trình nghiên cứu chỉ ra cơ chế giúp giải thích phần nào tác dụng điều chỉnh RLLPM

của một số vị thuốc có trong bài thuốc. Một trong những cơ chế đó là khả năng ức

chế sự hấp thu lipid trong thức ăn của thân rễ Đại hồng thơng qua tác dụng nhuận

tràng làm giảm thời gian lưu trữ thức ăn tại ruột, đồng thời có tác dụng ức chế

enzym lipase tụy làm giảm q trình nhũ tương hóa lipid [73]. Sơn tra là vị thuốc

được sử dụng trong nhiều bài thuốc YHCT điều trị hội chứng RLLPM [104]. Một

nghiên cứu ở Trung Quốc năm 2009 thấy Sơn tra có tác dụng làm tăng biểu hiện của

apolipoprotein IV-A (ApoA-IV)- một glycoprotein lưu hành trong máu, được tổng

hợp chủ yếu ở ruột non, có tác dụng vận chuyển chất béo trong cơ thể. Nó là thành

phần chính của HDL-C (một lipoprotein có tác dụng bảo vệ, giúp làm giảm lượng

cholesterol và ngăn ngừa xơ vữa động mạch). Quan trọng hơn, ApoA-IV có thể

tham gia vào sự kiểm soát lượng thức ăn và sự hấp thu thức ăn vào cơ thể. Khi kích

thích được sự biểu hiện của apolipoprotein này sẽ giúp cho cơ thể giảm lượng

cholesterol và ngăn ngừa được xơ vữa động mạch. Trên thực nghiệm, Sơn tra còn

có tác dụng làm giảm các yếu tố kích thích tế bào 3T3-L1 hoạt động. Tế bào 3T3L1 là một dòng tế bào có nguồn gốc từ chuột, được sử dụng trong nghiên cứu sinh

học trên mô mỡ. Tế bào này tăng tổng hợp chất béo trung tính, rất nhạy cảm với các

kích thích và thuốc tăng tổng hợp hoặc phân hủy lipid [105]. Kou DH (2009)

nghiên cứu thấy Sơn tra có tác dụng hoạt hóa PPAR (peroxisome proliferator-



69



activated receptor) trong tế bào gan, làm tăng vận chuyển thu hồi cholesterol từ máu

về gan, đồng thời làm tăng hoạt tính lipoproteinase, từ đó làm giảm nồng độ TG

trong máu [56]. Thành phần acid triterpenic (acid oleanolic, acid ursolic) và các

polyphenol (epicatechin, isoquercitrin, hyperoside...) được cho là có tác dụng làm

giảm VLDL và LDL cholesterol huyết tương bằng cách ức chế enzym acyl CoAcholesterol acyl tranferase (ACAT) tại ruột - enzym có vai trò trong q trình

chuyển hóa mevalonate để tổng hợp cholesterol [106]. Một số nghiên cứu sàng lọc

bước đầu cũng đã chỉ ra tác dụng điều chỉnh RLLPM của thân rễ Bạch truật trên các

mơ hình nội sinh và ngoại sinh [60]. Nghiên cứu của Kim và cộng sự (2011) cho

thấy, Bạch truật làm giảm đáng kể trọng lượng chuột và nồng độ TG huyết thanh ở

chuột bị béo phì. Trên invitro, Bạch truật cũng đã làm giảm mạnh sự biểu hiện của

phospho-Akt- một con đường quan trọng ảnh hưởng đến sự biệt hóa của tế bào mỡ

3T3-L1 [107].

Hiệu quả của TTKL trong điều chỉnh RLLPM còn được tăng cường nhờ khả

năng hạ lipid máu của một số dược liệu khác như dịch chiết từ Hậu phác có tác

dụng làm giảm lượng triglycerid và cholesterol ở gan chuột được nuôi bằng chế độ

ăn giàu chất béo trong 6 tuần [108]. Hỗn hợp tinh dầu táo, Hậu phác nam và một số

vị thuốc khác có tác dụng làm giảm trọng lượng của chuột cống được nuôi dưỡng

bằng chế độ ăn giàu chất béo [109].



70



KẾT LUẬN

Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi rút ra các kết luận như sau về viên nang

cứng Tiêu thực Kim Linh.



1. Độc tính của viên nang cứng Tiêu Thực Kim Linh.

1.1. Độc tính cấp

Viên nang cứng Tiêu thực Kim Linh uống với liều lên tới 41,57g cao khô dược

liệu/kg trên chuột nhắt trắng (gấp 49,5 lần liều tương đương liều dự kiến điều trị

trên người, tính theo hệ số ngoại suy là 12) khơng thấy có biểu hiện ngộ độc và

khơng có chuột nào chết sau 7 ngày uống thuốc thử. Do đó chưa xác định được độc

tính cấp và LD50 của viên nang cứng Tiêu thực Kim Linh trên chuột nhắt trắng theo

đường uống.



1.2.



Độc tính bán trường diễn

Viên nang cứng Tiêu thực Kim Linh liều 0,42g cao khô dược liệu/kg/ngày

(liều có tác dụng tương đương liều dự kiến trên người) và liều 1,26g cao khô dược

liệu /kg/ngày, uống liên tục trong 4 tuần khơng gây độc tính bán trường diễn trên

chuột cống trắng, thể hiện không ảnh hưởng tới tình trạng chung của chuột, khơng

làm thay đổi các chỉ số về sự gia tăng trọng lượng cơ thể, các chỉ số đánh giá chức

năng tạo máu, chức năng gan và tổn thương gan, chức năng thận, không gây tổn

thương đại thể các cơ quan và cấu trúc vi thể gan, thận chuột .



2. Tác dụng của viên nang cứng Tiêu thực Kim Linh trên mơ hình gây rối loạn

2.1.



lipid máu thực nghiệm

Trên mơ hình gây rối loạn lipid máu theo cơ chế nội sinh.

Viên nang cứng Tiêu thực Kim Linh liều 0,84g cao khô dược liệu/kg/ngày và

liều 2,52g cao khơ dược liệu/kg/ngày có tác dụng hạn chế rõ rệt RLLPM trên mơ

hình gây rối loạn lipid máu nội sinh bằng P-407 trên chuột nhắt trắng, thể hiện làm

giảm nồng độ TC (14,87% và 15,13%) và giảm nồng độ non-HDL-C (19,72% và

21,99%) so với lơ mơ hình.



71



2.2.



Trên mơ hình gây rối loạn lipid máu theo cơ chế ngoại sinh

Trên mơ hình gây RLLPM theo cơ chế ngoại sinh bằng uống hỗn hợp dầu

cholesterol, viên nang cứng Tiêu thực Kim Linh liều 1,26g cao khơ dược

liệu/kg/ngày có tác dụng điều chỉnh rối loạn lipid máu rõ rệt, thể hiện qua giảm

nồng độ TG (27,8%), TC (23,2%) và non-HDL-C ( 28,5%) so với lơ mơ hình sau 4

tuần uống thuốc thử. Tác dụng làm giảm nồng độ TC và non-HDL-C của TTKL

tương đương atorvastatin, nhưng TTKL 1,26g cao khô dược liệu /kg làm giảm TG

tốt hơn atorvastatin (p < 0,05).



72



KIẾN NGHỊ

Rối loạn lipid máu là bệnh lý ngày càng phổ biến trên thế giới cũng như tại

Việt Nam. Việc tìm ra và áp dụng các phương thuốc mới từ nguồn dược liệu trong

nước có hiệu quả, an tồn, giá thành hợp lý để điều trị hội chứng rối loạn lipid máu

là rất cần thiết.

Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy viên nang cứng Tiêu thực Kim Linh có

độ an tồn cao và có khả năng tốt trong điều trị rối loạn lipid máu. Để hướng tới có

thể sử dụng thuốc rộng rãi trong cộng đồng, cần tiếp tục nghiên cứu đầy đủ hơn về

Tiêu thực Kim Linh:



- Tìm hiểu thêm về cơ chế tác dụng của viên nang cứng Tiêu thực Kim Linh.

- Xin phép Bộ Y tế được đưa viên nang cứng Tiêu thực Kim Linh vào thử

nghiệm lâm sàng để đánh giá hiệu quả điều trị, độ an toàn của viên nang cứng

Tiêu thực Kim Linh.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.



World Health Organization (2014). Chapter 1.Global target 1: At least 25%

relative reduction in the overall mortality from cardiovascular diseases, cancer,

diabetes, or chronic respiratory diseases, Global status report on



2.



noncommunicable diseases 2014, 9-22.

Jenkins AJ, Rowley KG, Lyons TJ, et al. (2004). Lipoproteins and diabetic



3.



microvascular complications. Curr Pharm Des. 10(27), 3395-418.

Valentisn Fuster and Bridget B Kelly (2010). Promoting Cardiovascular

Health in the Developing World: A critical Challenge to Achieve Global



4.



Health. National Academies Press, Washington DC, 19-49

Mozaffarian D, Donna K Arnett, Mary Cushman, et al. (2015). Heart Disease

and Stroke Statistics-2016 Update: A Report From the American Heart



5.



Association, Circulation,133(4), 38-60

Nilcoson G.L, Chang H.N, Freter C.E, et al. (2015). Fat – cardio metabolic

risk. International Conference On Lipid Science & Technology. San Francisco



6.



30/10-2/12/2015, OMISC group.

Nguyễn Trọng Thông (2016), Dược lý học, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam,



7.



Hà Nội, 419-428.

Nguyễn Nhược Kim (1996), Đàm và phương pháp điều trị đàm qua các bài



8.



thuốc cổ phương. Tạp chí Y học cổ truyền, 11, 7-8.

Trần Thúy và Vũ Nam (2006), Chứng Đàm, Chuyên đề nội khoa Y học cổ



9.



truyền, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 590-600.

Nguyễn Thị Hà (2001), Hóa học lipid, Hóa sinh, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội,



49-68, 318-376.

10. Bruce M. Koeppen, Bruce A. Stanton (2010), Chapter 38: Hormonal

Regulation of Energy Metabolism Physiology, Berne & Levy Physiology,

Elsevier HealthSciences, 664-695.

11. Marek H Dominiczak, Muriel J Caslake (2011). Apolipoproteins: metabolic

role and clinical biochemistry applications. Ann Clin Biochem, 48, 498 – 515.

12. Kenneth R Feingold, Carl Grunfeld (2015), Introduction to lipids and

lipoproteins, Endotext.



13. Ana Jonas (2002), Chapter 18: Lipoprotein structure. Biochemistry of Lipids

Lipoprotein and Membranes, 4th editon, Elsevier, Amsterdam, 484 – 503.

14. Nguyễn Đình Độ (2000). Rối loạn chuyển hóa lipid. Hóa sinh Y học, Học viện

Quân Y, Hà Nội, 456 – 476.

15. Brunton LL, Chabner BA, Knollmann BC, et al. (2016). Chapter 31: Drug

Therapy for Hypercholesterolemia and Dyslipidemia. Goodman & Gilman’s

The Pharmacological Basic of Therapeutics, 12th edition, The McbGaw-Hill,

California.

16. Katzung BG, Masters SB, Trevor AJ (2012). Chapter 35: Agents Used in

Dyslipidemia. Basic and Clinical Pharmacology, 13th edition, The McGawHill, California.

17. Lehinger AL, Nelson DL, Cox MM (2005). Lipid. Principle of Biochemistry,

4th edition, 343 – 369.

18. Paul M Ridker, et al. (2002). Risk factors for atherosclerotic disease heart

disease, Circulation, 105, 1135-1143.

19. Koba S, Hirano T (2011). Dyslipidemia and atherosclerosis. Nihon Rinsho,

69(1), 138-43.

20. Longo DL, Fauci AS, Kasper DL (2015). Chapter 425: Disorders of

Lipoprotein Metabolism. Harrison's Principles of Internal Medicine, 19th,

2435-49.

21. National Cholesterol Education Program (NCEP) Expert Panel (2002). Third

report of the National Cholesterol Education Program (NCEP) Expert Panel on

Detection, Evaluation, and Treatment of High Blood Cholesterol in Adults

(Adult Treatment Panel III) final report. Circulation, 106(25), 3143-3421.

22. Fredrickson DS, Lees RS (1965). A system of phenotyping

hyperlipoproteinemia, Circulation, 31, 321-327

23. Benlian P (2001). The metabolism of lipoproteins. Genetics of dyslipidemia,

Kluwer Academic Publishers, 1-40

24. Reaven G (2002). Metabolic syndrome: Pathophysiology and implications for

management of cardiovascular disease, Circulation, 106, 286-8.

25. WHO (1958). Classification of atherosclerotic lesions: Report of a Study

Group. World Health Organization Technical Report Series No. 143.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Tác dụng của viên nang cứng Tiêu thực Kim Linh trên mô hình gây rối loạn lipid máu theo cơ chế ngoại sinh.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×