Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Tác dụng của viên nang cứng Tiêu thực Kim Linh trên mô hình gây rối loạn lipid máu theo cơ chế nội sinh.

1 Tác dụng của viên nang cứng Tiêu thực Kim Linh trên mô hình gây rối loạn lipid máu theo cơ chế nội sinh.

Tải bản đầy đủ - 0trang

61



năng gây RLLPM thông qua một số cơ chế liên quan đến các enzym tham gia vào

q trình chuyển hóa lipid, làm tăng tổng hợp cholesterol tại gan [41], [48]. Trước

đây, Tween 80 đã được Kell, Correl và Ladd sử dụng trên thỏ để gây RLLPM

nhưng kết quả thu được không ổn định, không làm rối loạn rõ rệt nồng độ lipid máu

của động vật thí nghiệm [43]. Moreover Paoletti gây tăng cholesterol máu bằng

Triton WR-1339, thành phần lipid tăng chủ yếu là TG. Ở nghiên cứu này, chúng tôi

chọn P-407 (Pluronic® F-127, P-407) vì có khả năng gây tăng lipid máu cao hơn

và an toàn hơn so với Triton WR-1339 [48]. Mơ hình gây RLLPM nội sinh bằng

các chất hoạt động bề mặt như P-407 là phương pháp thường được sử dụng để đánh

giá sàng lọc một cách nhanh chóng tác dụng điều chỉnh rối loạn lipid máu của một

thuốc mới hoặc một sản phẩm mới [41]. Bên cạnh đó, cường độ tác dụng của P-407

là phụ thuộc liều, mức độ RLLPM thấp nếu dùng liều thấp và ngược lại [91]. Trên

thế giới, một số nghiên cứu đã sử dụng mức liều P-407 trên chuột nhắt trắng là

1g/kg [48], [92]. Tại Việt Nam, Nguyễn Phương Thanh (2011) đã tiến hành nghiên

cứu tác dụng điều chỉnh RLLPM của Monacholes trên mơ hình gây RLLPM nội

sinh bằng P-407 liều 500 mg/kg. Thuốc chuẩn (lovastatin) và thuốc thử được uống

ngay sau khi tiêm màng bụng P-407, lượng thuốc được chia ra làm 3 lần, mỗi lần

cách nhau 2 giờ. Kết quả cho thấy, tất cả các chỉ số lipid máu (TG, TC, HDL-C,

LDL-C) đều tăng lên rất cao, trong đó nồng độ TC cao gấp khoảng 10 lần so với

nhóm chứng. Lovastatin mặc dù có xu hướng làm giảm các chỉ số TC (giảm

13,7%), LDL-C (giảm 15,2%) so với lơ mơ hình nhưng sự khác biệt chưa có ý

nghĩa thống kê [52]. Để đánh giá hiệu quả của các thuốc tốt hơn, Mai Phương

Thanh (2013) đã lựa chọn liều P-407 là 200 mg/kg, giảm hơn một nửa so với liều

P-407 trong nghiên cứu của Nguyễn Phương Thanh. Với việc giảm liều P-407 đã

cho thấy mức tăng vừa phải của các chỉ số TC và non-HDL-C (gấp khoảng 3 lần so

với nhóm chứng), đồng thời chuột được uống thuốc kéo dài từ 7 ngày trước khi gây

mơ hình RLLPM, vì vậy có thể nhận thấy sự thay đổi rõ rệt của nồng độ chỉ số

lipid máu ở lơ mơ hình và các lơ điều trị thuốc thử [37].

Áp dụng mơ hình gây RLLPM theo cơ chế nội sinh bằng Poloxamer 407 (P-



62



407) của Millar và cộng sự [48] và điều chỉnh theo nghiên cứu của Mai Phương

Thanh [37], trong nghiên cứu này chúng tôi chọn liều P-407 2% là 200mg/kg. Sau

khi tiêm màng bụng chuột, nồng độ lipid máu bắt đầu tăng và đạt cực đại sau 24

giờ, sau đó sẽ dần trở về bình thường. Do đó, chúng tơi chọn thời điểm 24 giờ sau

tiêm P-407 để định lượng các chỉ số lipid máu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tiêm

màng bụng dung dịch P-407 2% liều 200 mg/kg (0,1mL/10g) có tác dụng gây

RLLPM rõ rệt, thể hiện thông qua sự biến đổi có ý nghĩa thống kê của các chỉ số

lipid máu: Nồng độ TC tăng 188,9%; TG tăng tới 1287,1%; HDL-C tăng 105,0%

và non-HDL-C tăng 239,1% so với lô chứng sinh học (bảng 3.13). Tất cả chuột ở

các lô sau khi được tiêm P-407 đều khơng có dấu hiệu bất thường nào về tình trạng

chung, chuột vẫn hoạt động bình thường, nhanh nhẹn, lơng mượt, mắt sáng, phân

khơ, khơng có chuột nào chết. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu

trước đó tiến hành trên chuột nhắt trắng [37], [38], [52], [85]. Điều này cho thấy P407 làm tăng cả TG và cholesterol, đồng thời khá an tồn trong việc gây mơ hình

rối loạn lipid máu nội sinh trên động vật thí nghiệm.

Kết quả bảng 3.13 cũng cho thấy: tình trạng RLLPM sau khi tiêm màng bụng

P-407 trên chuột nhắt trắng chưa hồn tồn giống với tình trạng RLLPM trên người.

RLLPM ở người được đặc trưng bởi sự tăng nồng độ cholesterol (TG và LDL-C)

và/hoặc giảm nồng độ HDL-C trong máu. Kết quả gây RLLPM bằng P-407 ở chuột

nhắt trắng cho thấy HDL-C tăng cao so với nhóm chứng, sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê với p ≤ 0,001.

Cơ chế gây RLLPM của P-407 đã được chứng minh có liên quan đến nhiều

enzym khác nhau trong q trình chuyển hóa lipid: ức chế các enzym lipoprotein

lipase (LPL) huyết tương và cholesterol 7α-hydroxylase (C7H) [50], [93]; tăng số

lượng và hoạt động của 3-hydroxy-3-methylglutaryl coenzyme A (HMG-CoA)

reductase, giảm số lượng LDL receptor (LDLr) tại gan [94]; Thêm vào đó,

Olorunnisola và cộng sự (2012) còn chỉ ra rằng: P-407 ức chế hoạt động của hepatic

lipase (HL) và kích thích hoạt động của lecithin cholesteryl acyl transferase

(LCAT). Cùng với LPL, hepatic lipase (HL) là một enzym liên quan đến quá trình



63



chuyển hóa TG. HL chủ yếu thủy phân phospholipid và TG của một số nhóm

lipoprotein: CM tàn dư, IDL và HDL [95]. LCAT là enzym chịu trách nhiệm chuyển

cholesterol thành cholesterol ester trên bề mặt của các phân tử HDL [96]. Tác dụng

gián tiếp làm tăng hoạt động LCAT của P-407 làm cho quá trình chuyển cholesterol

thành cholesterol ester trên bề mặt các phân tử HDL mới sinh (nascent HDL) diễn

ra nhanh hơn, làm tăng nồng độ HDL trưởng thành giàu cholesterol ester. Sự thay

đổi hoạt động của LCAT và HL do P-407 gây ra có thể ảnh hưởng đến nồng độ

HDL-C [97].

Ở nghiên cứu này, atorvastatin - thuốc điều trị RLLPM thuộc dẫn xuất statin

được chọn làm thuốc chứng dương. Các dẫn xuất statin có cấu trúc gần giống với

HMG-CoA nên ức chế cạnh tranh với HMG-CoA reductase, làm giảm tổng hợp

cholesterol, đồng thời làm tăng sinh LDLr ở màng tế bào, vì vậy dẫn xuất statin

được ưu tiên lựa chọn trong những trường hợp tăng cholesterol máu [6]. Bên cạnh

đó các thuốc trong nhóm statin cũng có tác dụng hạ TG máu do làm tăng số lượng

LDLr đồng thời làm giảm nồng độ các LP tiền thân của LDL (VLDL và IDL), giảm

tổng hợp cholesterol, từ đó làm giảm lắp ráp VLDL tại gan [15]. Dựa vào khả năng

hạ TG và cholesterol của các dẫn xuất statin, chúng tơi lựa chọn nhóm statin làm

thuốc đối chứng để so sánh với hiệu quả của thuốc thử trong mơ hình gây RLLPM

theo cơ chế nội sinh bằng P-407. Các dẫn xuất statin được sử dụng hiện nay có mức

độ hạ TG và cholesterol máu mức độ khác nhau. Một số nghiên cứu đã chỉ ra mức

độ hạ cholesterol của các statin theo thứ tự giảm dần như sau: rosuvastatin >

atorvastatin >simvastatin > lovastatin > pravastatin > fluvastatin [98], [99]. Do giá

thành của rosuvastatin khá đắt, nên sử dụng atorvastatin làm thuốc đối chứng sẽ là

một lựa chọn hợp lý. Liều của atorvastatin trên người là 10 - 80 mg/ngày [6]. Do

thời gian thực hiện mơ hình nội sinh ngắn nên liều atorvastatin cũng như thuốc thử

sử dụng trong nghiên cứu cần cao hơn so với liều điều trị thông thường mới có thể

đánh giá được tác dụng điều chỉnh RLLPM. Edenta và cộng sự (2014) đã dùng

atorvastatin 70 mg/kg trên chuột cống trắng để làm thuốc chuẩn so sánh [92]. Do

đó, chúng tơi chọn liều dùng atorvastatin ở chuột nhắt trắng trong nghiên cứu là



64



100mg/kg/ngày. Liều dự kiến dùng trên người của TTKL là 9 viên/ngày, tương

đương 0,07 g cao khơ dược liệu/kg/ngày. Vì vậy chúng tơi chọn hai liều TTLK: liều

thấp là 0,84 g cao khơ DL/kg/ngày (liều có tác dụng tương đương liều dùng dự kiến

trên người, tính theo hệ số 12) và liều cao là 2,52g cao khô DL/kg/ngày (gấp 3 lần

liều trên).

Từ số liệu bảng 3.14 cho thấy: Ở các lô chuột uống atorvastatin, TTKL liều

0,84g/kg và 2,52g/kg, nồng độ TC và non-HDL-C đều giảm có ý nghĩa thống kê so

với lơ mơ hình. Như vậy, viên nang cứng TTKL đã thể hiện tác dụng điều chỉnh

RLLPM khá tốt trên mơ hình gây RLLPM theo cơ chế nội sinh bằng P-407.

Tác dụng làm giảm nồng độ TC và non-HDL-C của TTKL là sự phối hợp tác

dụng hạ lipid máu của một số vị dược liệu như Trạch tả, Bạch truật, Sơn tra. Thành

phần quercetin trong Sơn tra có khả năng ức chế tổng hợp cholesterol nội bào do ức

chế hoạt động của HMG-CoA reductase, đồng thời làm tăng số lượng các mARN

của enzym cholesterol 7 hydroxylase (C7H), thúc đẩy chuyển cholesterol thành acid

mật, làm giảm nồng độ cholesterol trong gan và huyết tương [56]. Hong Dan (2011)

đã chỉ ra rằng, thân củ Trạch tả có chứa các thành phần triterpen, sesquiterpen làm

giảm rõ rệt nồng độ TC và TG, đồng thời làm tăng nồng độ HDL-C nhờ ức chế q

trình tổng hợp cholesterol tại gan thơng qua việc làm giảm đáng kể số lượng và hoạt

động mRNA của HMG-CoA reductase [55]. Trong nghiên cứu của Chengwu Song

(2014) cho thấy, dịch chiết của Trạch tả và Bạch truật có tác dụng hạ TG, TC đồng

thời mức HDL-C huyết thanh tăng lên đáng kể. Tác dụng này có thể liên quan đến

khả năng làm giảm biểu hiện gen quy định yếu tố gắn điều hòa tổng hợp sterol

(sterol regulatory element binding factor-2-SREBF-2). Con đường tổng hợp

cholesterol ở gan có sự tham gia của hơn 20 loại enzym khác nhau trong đó

SREBF-2 là yếu tố điều hòa sự biểu hiện của các enzym này. Ức chế tổng hợp

SREBF-2 ở gan sẽ làm giảm quá trình tổng hợp cholesterol [100].

Bên cạnh đó, Chỉ thực cũng đã được chứng minh là có tác dụng điều chỉnh

RLLPM khá tốt, thể hiện ở khả năng làm giảm nồng độ TC, LDL-C, TG và các acid

béo tự do trong máu. Tác dụng hạ lipid máu của Chỉ thực một phần nhờ khả năng



65



làm tăng số lượng các LDLr, đồng thời làm giảm số lượng của enzym HMG-CoA

reductase tại gan [58].

Cholesterol của HDL-C là cholesterol “tốt” vì chúng bảo vệ và khơng gây xơ vữa

thành mạch. Lượng HDL-C càng thấp thì nguy cơ bị xơ vữa thành mạch càng cao

và ngược lại [9]. Nghiên cứu này cho thấy, nồng độ HDL-C ở lô uống TTKL 2,52

g/kg có xu hướng tăng so với lơ mơ hình mặc dù sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống

kê. Mục tiêu chính trong quản lý và điều trị RLLPM là làm giảm nồng độ LDLC/non-HDL-C và tăng nồng độ HDL-C [21]. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả

của TTKL trong điều chỉnh RLLPM, thể hiện ở khả năng làm giảm TC, non-HDL-C

và tăng nồng độ HDL-C huyết thanh.

Nồng độ TG ở các lô uống atovastatin và TTKL mặc dù có xu hướng giảm so

với lơ mơ hình, tuy nhiên sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Điều

này có thể được giải thích một phần là do nồng độ TG ở các lô được tiêm màng

bụng P-407 tăng quá cao nên khó quan sát được sự khác biệt giữa các lô uống thuốc

và lô mơ hình.



2



Tác dụng của viên nang cứng Tiêu thực Kim Linh trên mơ hình gây rối loạn

lipid máu theo cơ chế ngoại sinh.

Mơ hình gây rối loạn lipid máu theo cơ chế ngoại sinh được tiến hành trên

chuột cống trắng vì đây là lồi động vật ăn tạp, thành phần thức ăn gần giống với

người, do đó sẽ cho kết quả đáng tin cậy hơn. Trước đây, một số nghiên cứu đã gây

mơ hình rối loạn lipid máu theo cơ chế ngoại sinh bằng cách cho chuột cống trắng

ăn hoặc uống cholesterol đơn thuần. Tuy nhiên, qua nghiên cứu thực nghiệm chúng

tôi nhận thấy: sự rối loạn lipid máu đạt được thường không cao, không đồng nhất

giữa các cá thể và phải dùng khá dài ngày ( 6 tuần). Nassiri và cộng sự (2009) đã

cho chuột uống hỗn hợp dầu cholesterol gồm 10g cholesterol, 10g acid cholic và 3g

propylthiouracil (PTU) pha trong dầu lạc vừa đủ 100ml trong 4 tuần. Kết quả cho

thấy ở nhóm sử dụng 10ml hỗn hợp dầu cholesterol/kg/ngày gây tăng TC, LDL-C

so với nhóm chứng, mức tăng có ý nghĩa thống kê với p < 0,01 [54]. Bổ sung acid

cholic và PTU là một biện pháp để làm tăng hấp thu cholesterol và làm giảm



66



chuyển hoá cholesterol thành acid mật, vì vậy gây được mơ hình có độ ổn định, độ

đồng nhất cao hơn và rút ngắn thời gian nghiên cứu. Tuy nhiên, acid cholic phải đặt

mua từ nước ngồi với giá tương đối cao, vì vậy trong nghiên cứu này chúng tôi đã

áp dụng mô hình của Nassiri [54], đồng thời điều chỉnh hàm lượng acid cholic và

PTU theo nghiên cứu của Nguyễn Phương Thanh [52], với mục đích vẫn gây được

mơ hình RLLPM theo cơ chế ngoại sinh để đánh giá tác dụng của thuốc, nhưng hạn

chế được số lượng acid cholic phải sử dụng. Theo đó, Mai Phương Thanh (2013) đã

sử dụng hỗn hợp dầu cholesterol có hàm lượng đã điều chỉnh của acid cholic và

PTU thấp hơn này để gây mơ hình tăng cholesterol ngoại sinh đạt kết quả tốt [37].

Atorvastatin - thuốc điều trị RLLPM thuộc dẫn xuất statin được chọn làm

thuốc chứng dương. Liều của atorvastatin trên người là 10 - 80 mg/ngày [6]. Chúng

tôi chọn liều dùng ở chuột cống trong nghiên cứu là 10mg/kg/ngày (liều có tác dụng

tương đương với liều khuyến cáo tối đa trên người, tính theo hệ số 6). Đây cũng là

liều atorvastatin được sử dụng làm thuốc chứng dương trong một số nghiên cứu

khác trên thế giới [101], [102].

Liều dự kiến dùng trên người của TTKL là 9 viên/ngày tương đương 0,07g cao

khô DL/kg/ngày. Chúng tôi chọn hai liều TTLK: liều thấp là 0,42 g cao khơ dược

liệu/kg/ngày (liều có tác dụng tương đương liều dùng dự kiến trên người, tính theo

hệ số 6) và liều cao là 1,26g cao khô DL/kg/ngày (cao gấp 3 lần liều trên).

Trước nghiên cứu, trọng lượng và các chỉ số lipid máu của chuột cống trắng

khơng có sự khác biệt giữa các lô (biểu đồ 3.4 và bảng 3.15). Trong thời gian

nghiên cứu, trọng lượng chuột ở lô mơ hình (uống hỗn hợp dầu cholesterol nhưng

khơng uống thuốc) giảm có ý nghĩa thống kê so với lơ chứng (biểu đồ 3.4), quan sát

thấy chuột ăn uống ít hơn, có lẽ do uống hỗn hợp dầu cholesterol nhiều ngày liên

tiếp, dẫn đến chuột có hiện tượng chán ăn, gầy sút cân. Các lô uống atorvastatin 10

mg/kg/ngày, TTKL 0,42 g/kg/ngày và 1,26 g/kg/ngày đều không làm thay đổi thể

trọng chuột có ý nghĩa thống kê so với lơ mơ hình ở tất cả các thời điểm nghiên cứu.

Khơng có sự khác biệt về trọng lượng chuột giữa các lô uống TTKL và lô uống

atorvastatin.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Tác dụng của viên nang cứng Tiêu thực Kim Linh trên mô hình gây rối loạn lipid máu theo cơ chế nội sinh.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×