Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ phụ nữ ĐTĐTK có tăng nồng độ glucose lúc đói (≥ 5,1 mmol/l) là 45%, nồng độ glucose lúc đói trung bình là 4,97 ± 0,64 mmol/l cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm MTBT 4,19 ± 0,44 mmol/l (p < 0,05). Không có sự khác

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ phụ nữ ĐTĐTK có tăng nồng độ glucose lúc đói (≥ 5,1 mmol/l) là 45%, nồng độ glucose lúc đói trung bình là 4,97 ± 0,64 mmol/l cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm MTBT 4,19 ± 0,44 mmol/l (p < 0,05). Không có sự khác

Tải bản đầy đủ - 0trang

58



trên 83 thai phụ bình thường và 65 phụ nữ ĐTĐTK thấy nồng độ glucose máu

khi đói của các nhóm lần lượt là 4,73 ± 0,11 mmol/l; 4,69 ± 0,07 mmol/l

khơng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm (p > 0,05).

Giá trị glucose máu lúc đói trong nghiệm pháp dung nạp glucose bằng

đường uống chẩn đoán ĐTĐ thai kỳ là yếu tố dự báo sự tiến triển thành ĐTĐ

sau sinh, giá trị này càng cao thì tỉ lệ tiến triển thành ĐTĐ sau sinh càng cao.

Nghiên cứu của Tạ thùy Linh (2015) [6] khi so sánh giá trị glucose máu lúc

đói trung bình tại thời điểm chẩn đốn đái tháo đường thai kì giữa 2 nhóm

bệnh nhân thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm bệnh nhân đái

tháo đường sau sinh 6,22 ± 1,83 mmol/L và nhóm bình thường sau sinh 5,32

± 0,69 mmol/L (p < 0,05). Nghiên cứu của Kwak và cộng sự thấy giá trị

glucose máu lúc đói trung bình khi chẩn đốn ĐTĐTK ở nhóm khơng bị ĐTĐ

sau sinh là 5,0 ± 0,9 mmol/L và nhóm đái tháo đường sau sinh là 6,4 ± 1,7

mmol/L, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

4.1.4. Đặc điểm về rối loạn chuyển hóa Lipid

Ở phụ nữ mang thai, chuyển hóa lipid có đặc điểm là tăng thủy phân

lipid, tăng tạo thể ceton và tăng nồng độ triglycerid. Hiện tượng tăng

triglycerid máu là do sự kết hợp của 3 yếu tố : Tăng nồng độ acid béo tự do và

tăng insulin máu dẫn đến tăng tổng hợp triglycerid ở gan, tăng ăn do hạ

glucose khi đói làm tăng hấp thu chylomicron từ ruột và giảm hoạt động

lipoprotein lipase ở mô mỡ [2].

Khi nghiên cứu trên 100 phụ nữ ĐTĐTK và 40 phụ nữ mang thai bình

thường chúng tơi thấy tỉ lệ thai phụ có rối loạn lipid máu rất cao, ở nhóm

ĐTĐTK là 94% cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm MTBT 75% (p <

0,05). Trong các thành phần lipid máu thì tỉ lệ tăng triglycerid và tăng

cholesterol ở nhóm ĐTĐTK lần lượt là 76% và 73% cao hơn có ý nghĩa thống

kê so với nhóm MTBT 55% và 52,5% (p < 0,5).



59



Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự với các nghiên cứu

khác. Nghiên cứu của Vũ Hiền Trinh (2013) [15] trên 91 phụ nữ ĐTĐTK tại

bệnh viện Nội tiết Trung ương thấy tỉ lệ rối loạn lipid máu là 90,1%. Nghiên

cứu của Nguyễn Giang Nam (2015) [5] trên 83 phụ nữ mang thai thấy tỉ lệ rối

loạn lipid máu chiếm 74,7%. Nghiên cứu của Dongyu Wang và cộng sự

(2013) [33] trên 30 phụ nữ ĐTĐTK và 60 thai phụ bình thường ở Trung Quốc

thấy nồng độ các thành phần lipid máu của các nhóm đối tượng lần lượt là:

Triglyceride 2,07 ± 0,53 mmol/l, với 1,93 ± 0,62 mmol/l; cholesterol 6,48 ±

1,01 mmol/l, với 6,16 ± 0,86 mmol/l, LDL 3,57 ± 0,8 mmol/l, với 3,42 ± 0,7

mmol/l, khơng có sự khác nhau về nồng độ các thành phần lipid máu ở 2

nhóm (p > 0,05).

Vậy kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng như các kết quả nghiên cứu

của tác giả khác đều cho thấy ở phụ nữ mang thai thường có các chỉ số lipid

máu cao hơn bình thường. Tỷ lệ rối loạn chuyển hóa lipid cao điều này có thể

do thời kỳ thai sản là thời kỳ thai phụ có chế độ ăn dao động lớn nhất, với

khối lượng thức ăn đưa vào lớn để đảm bảo năng lượng cung cấp cho mẹ

và thai nhi hàng ngày, đây cũng là nguy cơ chủ yếu dẫn đến rối loạn

chuyển hóa lipid máu của mẹ [28]. Hơn nữa, việc tăng cân nhiều của thai

phụ ở 3 tháng cuối thai kỳ để đảm bảo nguồn năng lượng cho mẹ sau thời

kỳ hậu sản, làm tăng lượng mỡ dưới da, tăng acid béo tự do trong máu,

tăng chuyển hóa cũng tiềm ẩn nguy cơ rối loạn lipid máu… Hơn nữa, các tế

bào mỡ ở tạng có tỷ lệ phân hủy lipid cao, đây là lý do làm tăng lượng acid

béo tự do trong máu, tăng acid béo tự do đồng thời với tăng triglyceride

gây ra các rối loạn chuyển hóa lipid, q trình này có thể ở cơ vân, gan, tế

bào beta tụy, dẫn đến kháng insulin ở mơ đích và rối loạn bài tiết insulin [43]





60



4.1.5. Đặc điểm về tuổi thai

Kết quả nghiên cứu của chúng tơi cho thấy tuổi thai trung bình ở nhóm

ĐTĐTK là 30,05 ± 5,16 tuần.

Kết quả này của chúng tôi cũng tương tự với nghiên cứu của Rivas và

cộng sự tại Venezuela năm 2007 [23], 117 bệnh nhân ĐTĐ thai kỳ tái khám

sau sinh có tuần thai chẩn đốn ĐTĐ thai kỳ là 30,01 ± 4,55 tuần.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Phương tại bệnh viện phụ sản Hải

Phòng năm 2015 [10], sàng lọc trên 885 thai phụ thấy tuổi thai trung bình ở

đồi tượng ĐTĐTK là 23,57 ± 6,28 tuần. Nghiên cứu của Tạ Thùy Linh tại

khoa Nội tiết bệnh viện Bạch Mai năm 2015 [6], 105 bệnh nhân ĐTĐTK tái

khám sau sinh có tuần thai chẩn đốn ĐTĐTK là 28,57 ± 5,45 tuần, thấp hơn

so với kết quả nghiên cứu của chúng tôi. Sự khác biệt này được giải thích bới

các lý do các nghiên cứu trên được tiến hành tại cơ sở y tế có chuyên khoa

sản, nghiên cứu nhằm sàng lọc phát hiện tỉ lệ ĐTĐTK (đối tượng nghiên cứu

mang thai ≤ 28 tuần), hoặc lựa chọn cả những phụ nữ mang thai ở quí 1 nên

các thai phụ được quản lý thai nghén tốt, được tầm soát và chẩn đoán ĐTĐTK

ở tuần thai sớm hơn. Trong khi nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành ở

bệnh viên Nội tiết Trung ương, đồi tượng đến khám chủ yếu khi đã có những

dấu hiệu nghi ngờ ĐTĐTK, chúng tôi chỉ lựa chọn những phụ nữ mang thai ở

q 2 và q 3 của thai kì nên tuần thai trung bình phát hiện ĐTĐTK trong

nghiên cứu của chúng tôi cao hơn.

Từ kết quả nghiên cứu này cho thấy vấn đề quản lý, sàng lọc phát hiện

sớm ĐTĐTK cần phải được quan tâm hơn nữa. Vì việc chẩn đốn sớm có vai

trò to lớn đối với mẹ và thai nhi trong suốt thai kì.

4.2. Kháng insulin và chức năng tế bào beta ở phụ nữ đái

tháo đường thai kì

4.2.1. Đặc điểm về nồng độ insulin và C-peptid

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy:



61



Nồng độ insulin trung bình ở nhóm ĐTĐTK là 148,16 ± 127,04 pmol/l

(21,33 ± 18,29 µUI/ml) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm MTBT 68,72

± 27,72 pmol/l (9,89 ± 3,99 µUI/ml) và nhóm PNBT 57,14 ± 20,18 pmol/l (8,23

± 2,90 µUI/ml) (p < 0,001). Tỷ lệ tăng nồng độ insulin ở nhóm ĐTĐTK là

51,0% cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm MTBT 22,5% (p < 0,05).

Nồng độ C-peptid trung bình ở nhóm ĐTĐTK là 1,43 ± 1,058 nmol/l

cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm MTBT 0,82 ± 0,47 nmol/l và nhóm

PNBT 0,65 ± 0,25 nmol/l (p < 0,001 ). Tỷ lệ tăng nồng độ C-peptid ở nhóm

ĐTĐTK là 50% cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm MTBT là 22,5% (p

< 0,05).

C-peptid là một phân tử protein gồm 31 acid amin được sinh tổng hợp

từ tế bào beta của đảo tụy cùng lúc với insulin từ proinsulin dưới tác dụng của

enzym thủy phân proteinase. Tế bào beta của đảo tụy sản xuất, bài tiết insulin

và C-peptid với một lượng tương đương nhau vào tuần hồn qua đường tĩnh

mạch cửa. Vì vậy nồng độ insulin và C-peptid là hai chỉ số quan trọng thể

hiện chức năng tế bào beta của đảo tụy và tình trạng nhạy cũng như kháng

insulin ở ngoại vi. Người ta đã sử dụng hai thông số này cùng với nồng độ

glucose trong các mơ hình HOMA2 nhằm tính tốn các chỉ số HOMA (chức

năng tế bào beta, độ nhạy insulin, chỉ số kháng insulin).

Có nhiều nghiên cứu trong và ngồi nước đã đề cập đến nồng độ

insulin và C-peptid ở bệnh nhân ĐTĐ nói chung và ĐTĐTK nói riêng với

những kết quả khác nhau.

Nghiên cứu của Nguyễn Giang Nam (2015) [5] trên 43 thai phụ

ĐTĐTK và 40 thai phụ bình thường tại bệnh viện Nội tiết Trung ương thấy

nồng độ insullin trung bình của nhóm ĐTĐTK là 118,61 ± 80,42 pmol/l,

nhóm mang thai bình thường là 68,72 ± 27,72 pmol/l, nồng độ C-peptid

trung bình của nhóm ĐTĐTK là 1,18 ± 0,66 nmol/l, nhóm mang thai bình



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ phụ nữ ĐTĐTK có tăng nồng độ glucose lúc đói (≥ 5,1 mmol/l) là 45%, nồng độ glucose lúc đói trung bình là 4,97 ± 0,64 mmol/l cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm MTBT 4,19 ± 0,44 mmol/l (p < 0,05). Không có sự khác

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×