Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Không thấy sự khác biệt về nồng độ insulin máu và nồng độ C-peptid giữa các quý thai (p > 0,05).

Không thấy sự khác biệt về nồng độ insulin máu và nồng độ C-peptid giữa các quý thai (p > 0,05).

Tải bản đầy đủ - 0trang

53



y = 0,172x + 10,07; r = 0,248; p < 0,05

Biểu đồ 3.1. Mối tương quan giữa chỉ số HOMA2-IR với glucose máu ở

thời điểm sau 1 giờ

Nhận xét: Có mối tương quan thuận mức độ ít giữa chỉ số kháng insulin với

nồng độ glucose máu ở thời điểm sau 1 giờ (r = 0,248; p < 0,05).



Y = 0,13x = 8,88; r = 0,173; p < 0,05

Biểu đồ 3.2. Mối tương quan giữa chỉ số HOMA2-IR với glucose máu ở

thời điểm sau 2 giờ

Nhận xét: Có mối tương quan thuận mức độ ít giữa chỉ số kháng insulin với

nồng độ glucose máu ở thời điểm sau 2 giờ (r = 0,173; p < 0,05).



54



y = 72,71x = 1510,51; r = 0,20; p < 0,05

Biểu đồ 3.3. Mối tương quan giữa chỉ số HOMA2-IR với trọng lượng thai

Nhận xét: Có mối tương quan thuận mức độ ít giữa chỉ số kháng insulin với

trọng lượng thai (r = 0,20; p < 0,05).



Y = 0,003x + 8,59; r = 0,21; p < 0,05

Biểu đồ 3.4. Mối tương quan giữa chỉ số HOMA2-%B với glucose máu ở

thời điểm sau 2 giờ.

Nhận xét: Có mối tương quan thuận mức độ ít giữa chỉ số HOMA2-%B với

nồng độ glucose máu ở thời điểm sau 2 giờ (r = 0,21; p < 0,05).



55



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

4.1.1. Đặc điểm về tuổi của đối tượng nghiên cứu

Theo kết quả nghiên cứu của chúng tơi, tuổi trung bình của nhóm

ĐTĐTK là 30,63 ± 5,48 tuổi. Tuổi thấp nhất là 19, tuổi cao nhất là 46 và độ

tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất 63% là 25 – 35 tuổi, bởi đây là độ tuổi phù hợp nhất

cả về mặt sinh lý và xã hội để sinh con.

Kết quả này của chúng tôi cũng tương tự với nghiên cứu của Nguyễn

Thị Mai Phương [10] trên 331 phụ nữ ĐTĐTK tại bệnh viện Phụ sản Hải

Phòng năm 2015, tuổi trung bình là 30,03 ± 5,3 tuổi.

Nghiên cứu của Janes E Hurst và cộng sự trên 2772 phự nữ mang thai ở

TP HCM (2012) [42] nhằm sàng lọc ĐTĐTK thấy tuổi trung bình của nhóm

đối tượng ĐTĐTK là 31,21 ± 4,2 tuổi cao hơn so với kết quả nghiên cứu của

chúng tơi. Điều này có thể do cỡ mẫu của chúng tôi nhỏ hơn cỡ mẫu nghiên

cứu của tác giả.

4.1.2. Đặc điểm về BMI của thai phu trước khi mang thai

Trong nghiên cứu của chúng tôi khi thai phụ đến khám sẽ được hỏi cân

nặng gần nhất trước khi mang thai mà thai phụ nhớ, đo chiều cao từ đó tính

chỉ số BMI trước mang thai của thai phụ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, BMI

trung bình của nhóm ĐTĐTK là 21,85 ± 3,21 kg/m2 cao hơn có ý nghĩa

thống kê so với nhóm MTBT là 20,03 ± 1,92 kg/m2 (p < 0,05). Giá trị BMI

của nhóm ĐTĐTK chủ yếu nằm trong khoảng 18,5 – 23 kg/m 2 chiếm tỉ lệ

66%, sau đó đến nhóm ≥ 23 kg/m 2 chiếm tỉ lệ 25%, thấp nhất là nhóm < 18,5

kg/m2 chiếm tỉ lệ 9%. Như vậy theo tiêu chuẩn phân loại BMI của tổ chức Y



56



tế thế giới cho người châu Á – Thái Bình Dương thì các bệnh nhân ĐTĐTK

của chúng tơi chủ yếu có thể trạng trung bình.

Kết quả này cũng tương tự với nghiên cứu của Tạ Thùy Linh tại khoa

Nội tiết – Đái tháo đường bệnh viện Bạch Mai năm 2015 [6], BMI trung bình

của 105 phụ nữ ĐTĐTK là 21,36 ± 2,41 kg/m 2 , trong đó nhóm có BMI trong

khoảng 18,5 – 23 kg/m2 chiếm tỉ lệ chủ yếu là 72,4%, nhóm có BMI ≥ 23

kg/m2 chiếm tỉ lệ 20%. Nghiên cứu của Lê Thị Thanh Tâm (2015) [12] thấy

BMI trung bình của nhóm ĐTĐTK là 21,0 ± 2,3 kg/m 2 cao hơn có ý nghĩa

thống kê so với nhóm MTBT là 20,2 ± 1,9 kg/m2 . So với người có chỉ số

khối cơ thể bình thường thì nguy cơ mắc ĐTĐTK giảm ở người gầy

(OR=0,6), tăng ở người thừa cân (OR=4,5) và béo phì (OR=11,2). Nếu gộp

chung người thừa cân, béo phì thì nguy cơ mắc ĐTĐTK tăng 6,1 lần (4,1 –

9,0) so với người bình thường (p < 0,05).

Nghiên cứu của Nguyễn Mai Phương trên 885 thai phụ tại bệnh viện

Phụ sản Hải Phòng năm 2015 [10] thấy BMI trung bình của nhóm ĐTĐTK là

20,99 ± 2,32 kg/m2 cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm MTBT là 20,18

± 2,28 kg/m2 (p < 0,05). Mặc dù giá trị BMI trung bình của nhóm ĐTĐTK

thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi, của Tạ Thùy Linh và Lê Thị Thanh

Tâm, điều này được lí giải bởi sự khác nhau trong lựa chọn đối tượng nghiên

cứu, với nghiên cứu của Nguyễn Mai Phương là phụ nữ có thai còn nghiên

cứu của chúng tôi, Tạ Thùy Linh và Lê Thị Thanh Tâm là trên đối tượng được

chẩn đoán ĐTĐTK. Nhưng kết quả nghiên cứu của chúng tôi và Nguyễn Mai

Phương đều chỉ ra giá trị BMI trung bình ở nhóm ĐTĐTK cao hơn so với

nhóm MTBT, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Thừa cân và béo phì trước khi mang thai là một yếu tố nguy cơ cao bị

ĐTĐTK và cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng cho sự tiến triển thành

ĐTĐ týp 2. Ở người béo phì, lượng mỡ phân phối chủ yếu ở các tạng dẫn đến



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Không thấy sự khác biệt về nồng độ insulin máu và nồng độ C-peptid giữa các quý thai (p > 0,05).

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×