Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong các loại tổn thương phổi kèm theo loại tổn thương tổ chức kẽ là loại tổn thương gặp nhiều nhất với 37 bệnh nhân (chiếm 78,7%). Loại tổn thương dày thành phế quản mức độ vừa đến nặng và tổn thương đông đặc cùng gặp ở 14 bệnh nhân (chiếm 29,8%), tổn t

Trong các loại tổn thương phổi kèm theo loại tổn thương tổ chức kẽ là loại tổn thương gặp nhiều nhất với 37 bệnh nhân (chiếm 78,7%). Loại tổn thương dày thành phế quản mức độ vừa đến nặng và tổn thương đông đặc cùng gặp ở 14 bệnh nhân (chiếm 29,8%), tổn t

Tải bản đầy đủ - 0trang

43



3.3.2.3 Các thơng số trên cắt lớp vi tính định lượng



 Thể tích tồn phổi và tỉ trọng trung bình tồn phổi

Bảng 3.10. Thể tích tồn phổi và tỉ trọng trung bình tồn phổi (N = 47)

Thể tích phổi (ml)

Tỉ trọng trung bình

tồn phổi (HU)



X ±SD

4779,9±1078,0



Nhỏ nhất

2392



Lớn nhất

7176



-846,1±35,9



-895



-714



Nhận xét:

- Thể tích tồn phổi trung bình là 4779,9±1078,0 ml, nhỏ nhất là

2392 ml, lớn nhất là 7176 ml.

- Tỷ trọng trung bình tồn phổi thì hít vào của đối tượng nghiên cứu là

-846,1±35,9 HU, thấp nhất là -895 HU, cao nhất là -714 HU.



 Tỷ lệ phần trăm thể tích KPT của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.11. Tỷ lệ phần trăm KPT theo các thùy phổi (N = 47)

LAV950%

Toàn phổi

Thùy trên phổi trái

Thùy dưới phổi trái

Thùy trên phổi phải

Thùy giữa phổi phải

Thùy dưới phổi phải



X ±SD (%)

28,6±7,9

29,5±9,1

28,0±9,3

28,9±8,9

28,9±7,3

27,3±8,6



Nhỏ nhất



Lớn nhất



9,8

8,0

8,2

8,8

11,6

7,5



44,6

47,9

45,0

47,0

46,7

49,4



Nhận xét:

Tỷ lệ phần trăm thể tích KPT trung bình của đối tượng nghiên cứu với

ngưỡng giá trị thấp -950HU (LAV950) là 28,6±7,9%, nhỏ nhất là 9,8%, cao

nhất là 44,6%. Tỷ lệ trung bình này cao hơn ở thùy trên phổi trái, tuy nhiên sự

khác biệt giữa các thùy phổi khơng có ý nghĩa thống kê (p>0,05).

3.3.2.4 Phân loại kiểu hình BPTNMT của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.12. Phân loại kiểu hình BPTNMT của đối tượng nghiên cứu

(N=47)



44



Kiểu hình



Số bệnh nhân



Tỷ lệ %



A



0



0



E



34



72,3



M



13



27,7



Tổng: n =47



100%



Nhận xét:

Đối tượng nghiên cứu gồm 2 loại kiểu hình E và M, khơng có bệnh

nhân nào thuộc kiểu hình A (tổn thương đường dẫn khí, khơng có tổn thương

KPT). Trong đó bệnh nhân kiểu hình E (chủ yếu KPT) chiếm tỷ lệ 72,3%,

bệnh nhân kiểu hình M (tổn thương hỗn hợp cả KPT và đường dẫn khí)

chiếm tỷ lệ 27,7%.

3.3.3 Đánh giá liên quan thể tích khí phế thũng trên CT định lượng với

một số chỉ số chức năng hô hấp ở bệnh nhân BPTNMT

3.3.3.1. Liên quan thể tích khí phế thũng với phân độ GOLD

Bảng 3.13. Tỷ lệ phần trăm KPT ở các nhóm BN theo phân độ GOLD

(N=47)

Phân

độ



GOLD 2



GOLD 3



GOLD 4



(n = 25)



(n = 14)



(n = 8)



25,6 ± 8,2



30,6 ± 6,0



35,2 ± 5,0



P



Chỉ số

LAV950 (%)



p<0,05



Nhận xét:

Theo bảng 3.12 thấy tỷ lệ phần trăm thể tích KPT trung bình của nhóm

bệnh nhân GOLD 2, GOLD 3, GOLD 4 lần lượt là 25,6%, 30,6%, 35,2%.

Như vậy tỷ lệ phần trăm KPT tăng dần theo mức độ nặng của bệnh theo



45



GOLD và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05).



3.3.3.2 Tương quan giữa tỷ lệ phần trăm thể tích khí phế thũng với một số chỉ

số chức năng hô hấp

50

45

40

35



LAV%



30

25

20

15

10

5

0

10



20



30



40



50



60



70



80



90



FEV1%

Biểu đồ 3.9. Mối tương quan giữa chỉ số LAV950 và FEV1% (N=47)



46



50

45

40

35



LAV%



30

25

20

15

10

5

0

30



35



40



45



50



55



60



65



70



75



FEV1/FVC%



Biểu đồ 3.10. Mối tương quan giữa chỉ số LAV950 và FEV1/FVC% (N=47)

Bảng 3.14. Tương quan giữa chỉ số LAV950 với các chỉ số FEV1%,

FEV1/FVC% theo các thùy phổi (N=47)

Chỉ số

Vùng phổi



FEV1%



FEV1/FVC%



r



p



r



p



Toàn phổi



-0.33



<0,05



-0.37



<0,05



Thùy trên phổi trái



-0.25



>0,05



-0.34



<0,05



Thùy dưới phổi trái



-0.33



<0,05



-0.34



<0,05



Thùy trên phổi phải



-0.35



<0,05



-0.38



<0,05



Thùy giữa phổi phải



-0.04



>0,05



-0.002



>0,05



Thùy dưới phổi phải



-0.34



<0,05



-0.34



<0,05



47



Nhận xét:

Dựa vào biểu đồ 3.9, biểu đồ 3.10 và bảng 3.13 thấy rằng: Tỷ lệ phần

trăm thể tích KPT (LAV950) của tồn phổi có mối tương quan yếu với chỉ số

FEV1% (r= -0,33) và chỉ số FEV1/FVC% (r= -0,37). Trong các thùy phổi thì

mức độ tương quan được tìm thấy cao nhất ở thùy trên phổi phải với r= -0,35

đối với chỉ số FEV1% và r= -0,38 đối với chỉ số FEV1/FVC%.

Bảng 3.15. Tương quan giữa chỉ số LAV950 với chỉ số FEV1% và

FEV1/FVC% theo các nhóm kiểu hình (N=47)

Chỉ số



FEV1%



FEV1/FVC%



r



p



r



P



Kiểu hình E (n=34)



-0,45



<0,05



-0,47



<0,05



Kiểu hình M (n=13)



-0,28



>0,05



-0,02



>0,05



Kiểu hình



Nhận xét:

Theo bảng 3.14 trong nhóm bệnh nhân kiểu hình E, tỷ lệ phần trăm thể

tích KPT (LAV950) có mối tương quan nghịch mức độ trung bình với chỉ số

FEV1% và tương quan yếu với chỉ số FEV1/FVC%. Trong nhóm bệnh nhân

kiểu hình M, chỉ số LAV950 khơng tương quan với cả hai chỉ số FEV1% và

FEV1/FVC%.



48



Biểu đồ 3.11. Mối tương quan giữa thể tích khí phế thũng LAV (Lít) và thể

tích khí cặn RV đo bằng phế thân ký (Lít) (N=27)

Nhận xét:

Có 27 bệnh nhân có cả kết quả đo phế thân ký và CT định lượng.

Thể tích khí phế thũng (LAV) có tương quan mức độ trung bình với thể

tích khí cặn RV (đo bằng phế thân ký) với r = 0,42 và p < 0,05.

3.3.4 Đánh giá liên quan dung tích tồn phổi trong phế thân ký với thể

tích tồn phổi trên CT định lượng ở bệnh nhân BPTNMT

Có 27 bệnh nhân có cả kết quả đo phế thân ký và CT định lượng

Bảng 3.16. Dung tích tồn phổi (phế thân ký) và thể tích tồn phổi (CT

định lượng) (N = 27)

N

Dung tích tồn phổi

(Phế thân ký)

Thể tích tồn phổi

(CT định lượng)



X ±SD (Lít)



27



5,8 ± 1,3



27



4,7 ± 1,1



49



Biểu đồ 3.12. Mối tương quan giữa dung tích tồn phổi (phế thân ký) và

thể tích tồn phổi (CT định lượng) (N=27)

Nhận xét:

- Dung tích phổi đo bằng phế thân ký (5,8 ± 1,3L) có giá trị trung bình

lớn hơn thể tích phổi đo bằng CT định lượng (4,7 ± 1,1L) (p < 0,05).

- Dung tích phổi đo bằng phế thân ký có tương quan mức độ mạnh với

thể tích phổi đo bằng CT định lượng với r = 0,70 và p < 0,05



50



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

4.1.1. Đặc điểm giới

Nghiên cứu của chúng tơi có 47 bệnh nhân được chẩn đốn xác định

BPTNMT. Trong đó nam giới chiếm tỷ lệ 87,2% (41 bệnh nhân), nhiều

hơn nữ giới 12,8% (6 bệnh nhân). Tỷ lệ nam/nữ ≈ 6,8/1. Kết quả này phù

hợp với nhiều nghiên cứu trước đây như Trương Thị Kim Nga (2006,

n=150) tỷ lệ nam giới là 88,8% [27], Nguyễn Thanh Thủy (2013, n=112) nam

giới chiếm 88,4%, nữ giới là 11,6% [28], Nguyễn Thị Thu Hà (2011, n=103)

nam (92,1%), nữ (7,9%) [29]. Kết quả này của chúng tôi cũng phù hợp với

thực tế ở Việt Nam là nam giới có thói quen hút thuốc lá, thuốc lào nhiều

hơn so với nữ giới, vì thế tỷ lệ mắc bệnh của nam giới cao hơn . Sự khác

biệt về tỉ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ do mức độ tiếp xúc với khói thuốc lá đã

được chỉ ra khá rõ ràng. Tuy nhiên sự khác biệt này còn có thể do sự khác

nhau về hình thái học của phổi, đáp ứng viêm, hormon hay nghề nghiệp...

giữa hai giới. Những điều này hiện nay vẫn chưa thực sự sáng tỏ.

Trên thế giới các nghiên cứu của các tác giả cho các kết quả khác nhau.

Nghiên cứu của Marin và cộng sự (2007) trên 1398 bệnh nhân thuộc các nước

Hoa Kỳ, Tây Ban Nha, Chile, Urugoay, cho thấy tỷ lệ nam giới là 85%, nữ

giới 15% [30], nghiên cứu Marc Miravitlles và Cs (2013) nam giới chiếm

88,2%, nữ 11,9% [31]. Nghiên cứu của Buist và cộng sự (2007) [32] tiến

hành ở Áo trên 1258 đối tượng từ 40 tuổi trở lên cho thấy tỉ lệ mắc bệnh là

tương đương nhau ở hai giới và các đối tượng đều có tiền sử hút thuốc lá

tương đương nhau. Điều này cho thấy hút thuốc có vai trò quan trọng trong

phân bố BPTNMT ở hai giới.



51



4.1.2. Đặc điểm tuổi

Trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu tuổi trung bình là 63,8 ± 10,5 tuổi.

Cao nhất là 83, thấp nhất là 38 tuổi. Trong nghiên cứu của chúng tôi không

gặp trường hợp nào ở độ tuổi thanh thiếu niên. Kết quả này phù hợp với tuổi

trung bình của bệnh nhân BPTNMT trong các nghiên cứu khác như Tạ Hữu

Duy (2011) là 67,9 ±8,8 tuổi [33], Nguyễn Thanh Thủy (2013, n=112) 68,3 ±

10,4 tuổi [28], Huỳnh Thanh Tuấn (2012) tuổi trung bình là 78,6 ± 6,45 [34].

Nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với các tác giả nước ngoài như

Marcia Maria Faganello và cộng sự (2010) là 64,8 ± 9,5 [35], của tác giả

Funk và cộng sự trên 122 bệnh nhân BPTNMT ổn định ở Úc và Áo (2009) là

65 ± 10 [36]. Theo kết quả nghiên cứu của Mamino và cộng sự (2002) cho

biết tần suất mắc bệnh tăng dần theo tuổi, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân > 60

tuổi [37]. Điều này phù hợp với khuyến cáo về BPTNMT chủ yếu gặp ở

người >40 tuổi. Các nghiên cứu đã chỉ ra tuổi già là yếu tố nguy cơ độc lập

tiên lượng nặng nề trong đợt cấp BPTNMT. Tuổi cao liên quan đến tăng tỷ lệ

các bệnh đồng mắc tim mạch, cơ xương khớp, suy giảm chức năng thơng khí

nặng nề, điều kiện kinh tế khó khăn, phụ thuộc dẫn đến việc quản lý và điều

trị BPTNMT ở những bệnh nhân cao tuổi rất khó khăn [38]. Do vậy việc sàng

lọc tại cộng đồng để phát hiện bệnh sớm đóng vai trò quan trọng trong việc

phòng và điều trị bệnh.

4.1.3. Tiền sử hút thuốc lá, thuốc lào

Nghiên cứu của chúng tôi có 39 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 83,0% có tiền sử

hút thuốc lá, thuốc lào với số bao- năm trung bình là 17,2 ± 11,6, trong đó có

3 bệnh nhân nữ chiếm tỷ lệ 7,7%. Kết quả này tương tự với kết quả nghiên

cứu của Đặng Thị Tuyết (2010) với tỷ lệ hút thuốc là 94,1%, số bao- năm

trung bình là 17,1 ± 11,4 bao- năm [39], nghiên cứu của các tác giả Hoàng

Thị Hồng (2013, n = 164) với tỷ lệ hút thuốc lá, thuốc lào là 86,3% và số



52



bao - năm: 23,6 ± 18,5 [40], Nguyễn Thanh Thủy (2013, n = 112): có

88,4% bệnh nhân hút thuốc với số bao- năm trung bình là 27,5 ± 13,5 [28].

Các tác giả nước ngồi cũng có những kết quả tương tự như nghiên cứu của

Douglas và cộng sự (2001) với 80,4% số bệnh nhân hút thuốc. Nghiên cứu

của Sarioglu và cộng sự (2009) số bao- năm trung bình là 40 [41], Barnes

và cộng sự (1997) nhận xét có khoảng 85% người mắc BPTNMT nghiện

thuốc lá và ở những người này thường có tiền sử hút thuốc lá trên 20 baonăm [42]. Tác động của thuốc lá, thuốc lào tới BPTNMT phụ thuộc vào

thời gian hút và số lượng hút, được tính bằng chỉ số bao- năm. Trong

nghiên cứu của chúng tơi có 97,4% số bệnh nhân hút thuốc từ trên 10 baonăm. Theo GOLD 2015, hút thuốc lá trên 10 bao- năm được xem là nguy

cơ cao mắc BPTNMT [43]. Nhiều cơng trình nghiên cứu trên thế giới đã cho

thấy khói thuốc lá là nguy cơ hàng đầu của BPTNMT. Nghiên cứu của Cheng

và cộng sự (1999) xác định hút thuốc là nguyên nhân gây ra 71,6% bệnh nhân

mắc BPTNMT [44]. Trong một nghiên cứu khác 50% bệnh nhân hút thuốc lá

có nguy cơ tiến triển thành BPTNMT [45], [46]. Những người hút thuốc lá có

triệu chứng hơ hấp và bất thường chức năng phổi với tỷ lệ cao hơn, tốc độ

giảm FEV1 hàng năm nhiều hơn người không hút thuốc lá. Hút thuốc lào hay

xì gà đều có nguy cơ như hút thuốc lá. Tình trạng hút thuốc, số bao- năm còn

liên quan đến các yếu tố tiên lượng tử vong ở BPTNMT. Tại Việt Nam

BPTNMT chủ yếu liên quan đến tiếp xúc với khói thuốc lá, thuốc lào. Nghiên

cứu trên các công nhân của 4 nhà máy ở Hà Nội, nhóm tác giả Chu Thị

Hạnh, Ngơ Q Châu, Nguyễn Văn Tường (2006) cho biết số bệnh nhân có

hút thuốc lá với số lượng 15 bao- năm thì nguy cơ mắc BPTNMT cao gấp

6,7 lần so với những người hút thuốc < 15 bao- năm và người không hút

thuốc [47]. Trong một nghiên cứu khác của Phan Thu Phương, Ngơ Q

Châu (2009), những đối tượng hút thuốc lá có nguy cơ mắc BPTNMT cao



53



gấp 4,3 lần những người không hút thuốc [48]. Như vậy, có thể thấy hút

thuốc lá, thuốc lào càng nhiều, thời gian hút càng lâu nghĩa là số bao - năm

càng lớn thì nguy cơ mắc BPTNMT càng cao.

4.1.4. Thời gian mắc bệnh

Trong nghiên cứu của chúng tơi có 41 bệnh nhân đã phát hiện mắc

BPTNMT trước thời điểm nghiên cứu, thời gian phát hiện bệnh dài nhất là

15 năm. Thời gian phát hiện bệnh trung bình là 3,9 ± 3,8 năm. Kết quả này

thấp hơn so với nghiên cứu của tác giả Phan Thị Hạnh (2012) với thời gian

mắc bệnh trung bình là 5,64 ± 4,97 (năm) [49], Nguyễn Thanh Thủy (2013)

nghiên cứu trên 112 bệnh nhân thời gian mắc bệnh trung bình là 5,11 ± 4,3

năm [28], hoặc các tác giả nước ngoài như Sarioglu và cộng sự (2010) là 5

năm [41]. Sự khác biệt này có thể do có nhiều bệnh nhân trước đó khơng đi

khám bệnh mà khi có những triệu chứng lâm sàng nặng mới đi khám và mới

được chẩn đoán mắc BPTNMT. Điều này cho thấy việc tầm soát BPTNMT

đối với nhóm có nguy cơ cao bằng theo dõi chức năng hô hấp là cần thiết để

phát hiện sớm bệnh và tư vấn điều trị, do những bệnh nhân đã có thời gian

mắc bệnh trên 5 năm thường có những ảnh hưởng rõ rệt đến sức khỏe hoặc

có các biểu hiện ở cơ quan khác do hậu quả của BPTNMT (bệnh lý tim

mạch, bệnh lý nhiễm trùng, bệnh lý rối loạn chuyển hóa...).

4.1.5 Tiền sử đợt cấp trong 12 tháng

Đợt cấp BPTNMT là hiện tượng quan trọng trong quá trình diễn biến

của bệnh vì ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, mất

nhiều thời gian hồi phục lâm sàng và chức năng hô hấp, làm đẩy nhanh tốc

độ sụt giảm chức năng phổi, tăng gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội,

tăng tỷ lệ tử vong [43]. Bệnh nhân có đợt cấp thường xuyên có tỷ lệ tử vong

cao hơn, chất lượng cuộc sống kém hơn, tăng viêm đường hơ hấp và suy

giảm nhanh chóng chức năng phổi so với những người đợt cấp ít thường



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong các loại tổn thương phổi kèm theo loại tổn thương tổ chức kẽ là loại tổn thương gặp nhiều nhất với 37 bệnh nhân (chiếm 78,7%). Loại tổn thương dày thành phế quản mức độ vừa đến nặng và tổn thương đông đặc cùng gặp ở 14 bệnh nhân (chiếm 29,8%), tổn t

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×