Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tỷ lệ phần trăm thể tích KPT (LAV950)

Tỷ lệ phần trăm thể tích KPT (LAV950)

Tải bản đầy đủ - 0trang

64



trăm thể tích KPT trung bình của nhóm bệnh nhân GOLD 2, GOLD 3, GOLD

4 lần lượt là 25,6 ± 8,2; 30,6 ± 6,0; 35,2 ± 5,0. So với nghiên cứu của

Schroeder và cộng sự (2013), tỷ lệ phần trăm thể tích KPT (LAV 950) trong

nghiên cứu của chúng tơi và nghiên cứu của Fernandes và cộng sự (2015) cao

hơn ở từng nhóm GOLD (chỉ trừ GOLD 1 là nhóm mà nghiên cứu chúng tơi

khơng có bệnh nhân. Điều này có thể lý giải là do nghiên cứu của Schroeder và

CS (2013) thực hiện trên quy mô rộng, số lượng bệnh nhân lớn còn nghiên cứu

của chúng tơi thực hiện ở những bệnh nhân nội trú thường là những bệnh nhân ở

giai đoạn lâm sàng vừa và nặng, khơng có những bệnh nhân giai đoạn nhẹ.

Ngồi ra có thể nhận thấy rằng trong nghiên cứu của chúng tôi khi phân

độ GOLD càng nặng chỉ số LAV 950 càng tăng, kết quả này cũng giống như

trong nghiên cứu của Schroeder và cộng sự (2013) [77].

4.3.2.4 Phân loại kiểu hình BPTNMT của đối tượng nghiên cứu

Kiểu hình E

Kiểu hình M

Kiểu hình A

22.67%



28.00%

51.74%



25.58%



72.00%



Fujimoto và CS (2006)

(N = 172)



Chúng tôi

(N = 47)



Biểu đồ 4.1. So sánh phân loại kiểu hình trong nghiên cứu chúng tôi và

của Fujimoto và CS (2006) [17].



65



Theo biểu đồ 4.3 thấy rằng tỷ lệ kiểu hình trong nghiên cứu của chúng

tơi là: kiểu hình E chiếm 72,3%, kiểu hình M chiếm 27,7% và khơng có bệnh

nhân nào kiểu hình A.

Trong nghiên cứu của Fujimoto và CS (2006), kiểu hình E chiếm 51,7%,

kiểu hình M chiếm 25,6%, kiểu hình A chiếm 22,7%.

Như vậy tỷ lệ kiểu hình E chiếm tỷ lệ cao nhất trong cả nghiên cứu của

chúng tôi và nghiên cứu của Fujimoto với tỷ lệ lần lượt là 72% và 51,7%. Tỷ

lệ kiểu hình M trong 2 nghiên cứu khơng có sự khác biệt q lớn, trong

nghiên cứu của chúng tơi là 28% còn trong nghiên cứu của Fujimoto là

25,6%. Tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi không có bệnh nhân kiểu

hình A, trong khi tỷ lệ kiểu hình này trong nghiên cứu của Fujimoto là 22,7%.

Điều này có thể là do số lượng đối tượng nghiên cứu của chúng tôi nhỏ hơn

nhiều so với nghiên cứu của Fujimoto.

4.3.3 Đánh giá liên quan thể tích khí phế thũng trên CT định lượng với

một số chỉ số chức năng hơ hấp ở bệnh nhân BPTNMT

4.3.3.1. Tồn phổi

Theo biểu đồ 3.9, 3.10 và bảng 3.14: Tỷ lệ phần trăm thể tích KPT

(LAV950) của tồn phổi có mối tương quan nghịch mức độ yếu với cả 2 chỉ số

FEV1% (r= -0,33) và FEV1/FVC% (r= -0,37). Điều này có nghĩa là khi chỉ số

FEV1 càng giảm thì chỉ số LAV950 càng tăng lên, mức độ tổn thương nhu mô

phổi càng nhiều, tuy nhiên mức độ tương quan yếu. Đã có rất nhiều nghiên

cứu đi tìm mối tương quan giữa chỉ số LAV 950 và chỉ số FEV1%, FEV1/FVC

%.

Nakano và cộng sự (2000) tiến hành nghiên cứu trên 114 bệnh nhân và

đưa kết quả hệ số tương quan giữa LAV 950 với chỉ số FEV1%, FEV1/FVC%

lần lượt là r = -0,529 và -0,650 [79].



66



Akira và cộng sự (2009) tiến hành nghiên cứu trên 72 bệnh nhân và đưa

ra hệ số tương quan cao giữa LAV 950 với chỉ số FEV1%, FEV1/FVC% lần

lượt là r = -0,659 và -0,712 [80].

Schroeder và cộng sự (2013) cũng tìm thấy mối tương quan cao giữa

LAV950 với FEV1%, FEV1/FVC% lần lượt là r = -0,67 và -0,76 [77].

Trong khi một số nghiên cứu khác còn khơng tìm thấy mối tương quan

giữa chỉ số LAV950 và chỉ số FEV1% như: Washko và cộng sự [81], Fernandes

và cộng sự (2015) [78].

Như vậy có thể thấy rằng mức độ tương quan giữa LAV 950 với FEV1%,

FEV1/FVC% trong nghiên cứu của chúng tơi và nhiều nghiên cứu khác

khơng có sự tương đồng với nhau, điều này được một số tác giả giải thích

rằng do mơ hình nghiên cứu của các tác giả khác nhau, đặc biệt là sự phân bố

kiểu hình trong các nghiên cứu là khác nhau dẫn đến sự tương quan giữa chỉ

số LAV950 với chỉ số FEV1%, FEV1/FVC% cũng khơng tương đồng, phụ

thuộc vào đặc điểm của mơ hình nghiên cứu.

4.3.3.2. Theo các thùy phổi và các vùng phổi

Chỉ số LAV950 trung bình của thùy trên, thùy giữa, thùy dưới phổi phải

lần lượt là 28,9 ± 8,9%; 28,9 ± 7,3%; 27,3 ± 8,6% và thùy trên, thùy dưới

phổi trái lần lượt là 29,5 ± 9,1%; 28,0 ± 9,3%. Như vậy có thể thấy trong

nghiên cứu của chúng tơi tỷ lệ phần trăm KPT trung bình (LAV 950) cao nhất ở

thùy trên hai phổi.

Theo nghiên cứu của Poerio và cộng sự (2017) tỷ lệ phần trăm KPT

trung bình của tồn phổi là 18%, của thùy trên, thùy giữa, thùy dưới phổi phải

lần lượt là 17%, 10%, 11% và của thùy trên và thùy dưới phổi trái lần lượt là

16% và 12% [82]. Như vậy có sự phù hợp về sự phân bố KPT ở các thùy phổi

giữa nghiên cứu của chúng tôi và nghiên cứu của Poerio và cộng sự (2017).

Kết quả này tương tự kết luận trong nghiên cứu của tác giả Schroeder

(2013), Smith (2014) [77], [13].



67



Sự tương đồng này có thể giải thích là do trong nghiên cứu của chúng

tôi cũng như các nghiên cứu khác KPT thể trung tâm tiểu thùy là loại chiếm

tỷ lệ cao nhất, đây là loại KPT thường liên quan tiền sử hút thuốc và thường

phân bố tập trung ở vùng phía trên của phổi [17].

Nghiên cứu của Smith và cộng sự (2014) cho thấy rằng mức độ nặng

của KPT thể trung tâm tiểu thùy và thể cạnh vách ở phổi phải cao hơn so với

phổi trái (p<0,05) còn mức độ nặng của KPT thể tồn tiểu thùy khơng có sự

khác biệt ở hai bên. Mức độ nặng của KPT thể trung tâm tiểu thùy ở vùng trên

của phổi cũng cao hơn so với vùng dưới của phổi (p<0,05) [13].

Trong nghiên cứu của chúng tơi, khi so sánh giữa các thùy phổi thì mức

độ tương quan được tìm thấy cao nhất ở thùy trên phổi phải với r= -0,35 đối

với chỉ số FEV1% và r= -0,38 đối với chỉ số FEV1/FVC%. Điều này được

giải thích là do KPT tập trung ở vùng phía trên phổi nhiều hơn so với vùng

phía dưới phổi.

Theo nghiên cứu của Smith và cộng sự (2014) thấy rằng sự phân bố của

KPT thể trung tâm tiểu thùy và thể cạnh vách có sự khác biệt theo mức độ

nặng của bệnh nhân BPTNMT với p<0,05, tuy nhiên sự phân bố KPT thể tồn

tiểu thùy khơng có sự khác biệt theo mức độ nặng của bệnh [13]. Như vậy chỉ

số FEV1% và FEV1/FVC% có sự liên quan với sự phân bố của các loại KPT,

đặc biệt trong nghiên cứu của chúng tôi KPT thể trung tâm tiểu thùy và thể

cạnh vách là các thể chiếm tỷ lệ chủ yếu.

4.3.3.3. Theo các nhóm kiểu hình

Bệnh nhân nghiên cứu của chúng tơi thuộc hai nhóm kiểu hình:

Kiểu hình E (chủ yếu KPT) và kiểu hình M (gồm cả KPT và dày thành phế

quản), trong đó hệ số tương quan của chỉ số LAV950 với FEV1%, FEV1/FVC

% lần lượt là r = -0,45 và -0,47 trong nhóm bệnh nhân kiểu hình E và khơng

có sự tương quan trong nhóm kiểu hình M.



68



Nghiên cứu của Fujimoto và cộng sự (2006) cũng cho kết luận rằng

mối tương quan giữa chỉ số LAV950 với chỉ số FEV1%, FEV1/FVC% ở kiểu

hình E cao hơn so với kiểu hình M [17]. Như vậy có sự phù hợp giữa nghiên

cứu của chúng tôi và nghiên cứu của Fujimoto.

Sự khác biệt giữa 2 nhóm kiểu hình này được giải thích là do trong

nhóm kiểu hình M có sự phối hợp của cả tổn thương KPT và tổn thương

đường dẫn khí (dày thành phế quản), do đó việc chỉ đánh giá tổn thương KPT

không thể phản ánh đúng mức độ nặng của bệnh nhân BPTNMT. Trong kiểu

hình E tổn thương chủ yếu là KPT nên việc đánh giá mức độ nặng của KPT

phản ánh tốt mức độ nặng của bệnh hơn trong kiểu hình M.

4.3.4 Đánh giá liên quan dung tích tồn phổi trong phế thân ký với thể

tích tồn phổi trên CT định lượng ở bệnh nhân BPTNMT

Trong nghiên cứu của chúng tơi, dung tích phổi đo bằng phế thân ký

(5,8 ± 1,3L) có giá trị trung bình lớn hơn thể tích phổi đo bằng CT định lượng

(4,7 ± 1,1) (p < 0,05). Dung tích phổi đo bằng phế thân ký có tương quan mức

độ mạnh với thể tích phổi đo bằng CT định lượng với r = 0,70 và p < 0,05.

Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Garfield và cộng sự (2012, n = 71),

dung tích phổi đo bằng phế thân ký (6,46 ± 1,28L) có giá trị trung bình lớn

hơn thể tích phổi đo bằng CT định lượng (5,34 ± 1,20L) (p < 0,05), và dung

tích phổi (phế thân ký) tương quan mức độ mạnh với thể tích phổi đo bằng

CT định lượng với r = 0,92 và p < 0,01 [23].

Sự khác biệt giữa giá trị dung tích phổi đo bằng phế thân ký và thể tích

tồn phổi đo bằng CT định lượng có liên quan đến tình trạng ứ khí phế nang

và bẫy khí. Các giá trị RV% và FRC% có thể dự đốn được sự khác biệt này.

Do đó, việc lựa chọn phương pháp nào để đánh giá thể tích tồn phổi, đặc biệt

ở những bệnh nhân có tình trạng ứ khí nặng phụ thuộc vào các đặc điểm lâm

sàng, khả năng hợp tác của bệnh nhân [23].



69



KẾT LUẬN



1. Đặc điểm lâm sàng của nhóm đối tượng nghiên cứu (N=47)

- Tuổi: tuổi trung bình 63,8 ± 10,5. Nhóm tuổi hay gặp nhất là 70 – 79

tuổi, chiếm tỷ lệ 34,0%. Tuổi thấp nhất là 38 tuổi và cao nhất là 83 tuổi.

- Giới: nam 87,2%, nữ 12,8%.

- Tình trạng hút thuốc lá: Số bao - năm trung bình là 17,2 ± 11,6; cao

nhất là 48 bao – năm và thấp nhất là 5 bao – năm.

- Triệu chứng cơ năng: hay gặp nhất là khó thở (95,7%), tiếp theo là

ho (59,5%), khạc đờm (53,2%). Điểm mMRC trung bình là 2,6 ± 1,2. Điểm

CAT trung bình là 21,1 ± 8,5.

- Triệu chứng thực thể: Dấu hiệu rì rào phế nang giảm chiếm tỷ lệ cao

nhất (74,5%), tiếp đến là rale rít rale ngáy (70,2%), ran ẩm ran nổ (27,7%), co

kéo cơ hô hấp (25,5%).

2. Đặc điểm chức năng thơng khí và cắt lớp vi tính định lượng phổi

- Đo chức năng hơ hấp: Gaensler trung bình là 51,3 ± 10,2; FEV1 trung

bình là 50,0 ± 18,7 (%).

- Đặc điểm hình ảnh tổn thương phổi:

+



KPT trung tâm tiểu thùy đơn thuần chiếm tỷ lệ cao nhất (57,4%),



KPT trung tâm tiểu thùy và KPT cạnh vách (31,9%). KPT thể trung tâm tiểu

thùy xuất hiện ở tất cả các bệnh nhân nghiên cứu.

+



Trong các tổn thương phổi kèm theo tổn thương KPT: tổn



thương tổ chức kẽ là loại tổn thương gặp nhiều nhất (78,7%), dày thành phế

quản mức độ vừa và nặng gặp ở 29,8%, tổn thương giãn phế quản gặp ở

19,1% số bệnh nhân.



70



- Liên quan giữa thể tích KPT và một số chỉ số chức năng hơ hấp:

-



Tỷ lệ phần trăm thể tích KPT (LAV950) của đối tượng nghiên



cứu là 28,6 ± 7,9%, nhỏ nhất là 9,8%, cao nhất là 44,6%.

-



Tỷ lệ phần trăm thể tích KPT cao hơn ở thùy trên và vùng trên



hai phổi, tuy nhiên sự khác biệt giữa các thùy và các vùng của phổi khơng có

ý nghĩa thống kê (p>0,05).

-



Phân loại kiểu hình: Kiểu hình E chiếm tỷ lệ 72,3%, kiểu hình M



chiếm tỷ lệ 27,7%, khơng có bệnh nhân nào kiểu hình A.

-



Tỷ lệ phần trăm thể tích KPT tăng dần theo phân độ GOLD và sự



khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).

-



Tỷ lệ phần trăm thể tích KPT có mối tương quan yếu với các chỉ số



FEV1% và FEV1/FVC% với r = -0,33 và -0,37. Hệ số tương quan trong kiểu hình

E lần lượt là r = -0,45 và -0,47, khơng có sự tương quan trong kiểu hình M.

- Dung tích phổi đo bằng phế thân ký có tương quan mức độ mạnh với

thể tích phổi đo bằng CT định lượng với r = 0,70 và p < 0,05.



71



KIẾN NGHỊ

Cắt lớp vi tính định lượng phổi có thể phát hiện và tính tốn thể tích khí

phế thũng. Đo chức năng thơng khí và chụp cắt lớp vi tính định lượng là hai

phương pháp hiệu quả để đánh giá tình trạng bệnh của bệnh nhân bệnh phổi

tắc nghẽn mạn tính. Ở Việt Nam phương pháp chụp CT định lượng phổi

vẫn chưa được ứng dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng. Vì vậy chúng

tơi kiến nghị phương pháp chụp CT định lượng phổi cần được sử dụng rộng

rãi hơn nữa.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.



GOLD update (2016). Global Initiative for Chronic Obstructive Long

Disease Lung Disease, Management and Prevention of Chronic

Obstructive Pulmonary Disease, , accessed on 20

Oct 2016.



2.



Lopez A.D, Shibuya K, Rao C et al (2006). Chronic Obstructive

Pulmonary Disease: Current Burden and Future Projections. Eur Respir

J, 27, 397–412.



3.



Gierada D.S, Slone R.M, Yusen R.D (1998). Analysis of lung volume

and thoracic dimensions in patients with emphysema before and after

lung volume reduction surgery. AJR Am J Roentgenol, 170 (3), 707–714.



4.



Gulsvik A, Lungdback B, Albers M et al (2003). Epidemiological aspects

and early detection of COPD in the elderly. European Respiratory

Journal, 40, 3 - 9.



5.



Zielinski J, Bednarek M, Gorecka D et al (2006). Increasing COPD

awareness. Eur Respir Rev, 27, 833 – 852.



6.



Ngô Quý Châu (2005). Nghiên cứu dịch tễ học bệnh phổi tắc nghẽn mạn

tính trong dân cư thành phố Hà nội, Báo cáo nghiệm thu đề tài nghiên

cứu khoa học cấp bộ, Bộ Y tế 2005.



7.



Hughes J (2000). Lung Function Tests: Physiological Principles and

Clinical Applications. W.B Saunders.



8.



O’Donnell D.E, Laveneziana P (2006). Physiology and consequences of

lung hyperinflation in COPD. Eur Respir Rev, 15 (100), 61-67.



9.



Criee C.P (2011). Body plethysmography- its principles and clinical use.

Respir Med, 105 (7), 959-971.



10. Wanger J, Clausen JL, Coates A, et al (2005). Standardisation of the

measurement of lung volumes. Eur Respir J, 26 (3), 511–522.

11. Gevenois P.A, Koob M.C, Jacobovitz D. et al (1993). Whole lung

sections for computed tomographic-pathologic correlations. Modified

Gough-Wentworth technique. Investigative Radiology, 28 (3), 242–246.

12. David A.L, Mustafa L.A (2013). Quantitative CT in COPD. J Thorac

Imaging, 28 (5), 284–290.

13. Smith B.M, Austin J.H.M, Newell J.D et al (2014). Pulmonary

Emphysema Subtypes on Computed Tomography in Smokers. American

Journal of Medicine, 127 (1),

14. Madani A, Keyzer C, Gevenois P.A et al (2004). Lung CT assessment

and Pulmonary Emphysema. European Respiratory Monograph, 30,

145–160.

15. Kitano M, Iwano S, Matsuo K et al (2013). The effect of section

thickness on MDCT lung densitometry. European Congress of

Radiology 2013.

16. Roberts H.R, Milne D.G, Wells A.U et al (2000). Airflow obstruction in

bronchiectasis: correlation between computed tomography features and

pulmonary function tests. Thorax, 55 (3), 198–204.

17. Fujimoto K, Kitaguchi Y, Kubo K et al (2006). Clinical analysis of

chronic obstructive pulmonary disease phenotypes classified using highresolution computed tomography. Respirology, 11 (6), 731–740.

18. Han M.K, Agusti A, Calverley P.M et al (2010). Chronic obstructive

pulmonary disease phenotypes: the future of COPD. American Journal

of Respiratory and Critical Care Medicine, 182 (5), 598–604.

19. Park K.J, Bergin C.J, Clausen J.L (1999). Quantitation of emphysema

with three-dimensional CT densitometry: comparison with twodimensional analysis, visual emphysema scores, and pulmonary function

test results. Radiology, 211 (2), 541–547.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tỷ lệ phần trăm thể tích KPT (LAV950)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×