Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thể tích toàn phổi

Thể tích toàn phổi

Tải bản đầy đủ - 0trang

49



Biểu đồ 3.12. Mối tương quan giữa dung tích tồn phổi (phế thân ký) và

thể tích tồn phổi (CT định lượng) (N=27)

Nhận xét:

- Dung tích phổi đo bằng phế thân ký (5,8 ± 1,3L) có giá trị trung bình

lớn hơn thể tích phổi đo bằng CT định lượng (4,7 ± 1,1L) (p < 0,05).

- Dung tích phổi đo bằng phế thân ký có tương quan mức độ mạnh với

thể tích phổi đo bằng CT định lượng với r = 0,70 và p < 0,05



50



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

4.1.1. Đặc điểm giới

Nghiên cứu của chúng tơi có 47 bệnh nhân được chẩn đốn xác định

BPTNMT. Trong đó nam giới chiếm tỷ lệ 87,2% (41 bệnh nhân), nhiều

hơn nữ giới 12,8% (6 bệnh nhân). Tỷ lệ nam/nữ ≈ 6,8/1. Kết quả này phù

hợp với nhiều nghiên cứu trước đây như Trương Thị Kim Nga (2006,

n=150) tỷ lệ nam giới là 88,8% [27], Nguyễn Thanh Thủy (2013, n=112) nam

giới chiếm 88,4%, nữ giới là 11,6% [28], Nguyễn Thị Thu Hà (2011, n=103)

nam (92,1%), nữ (7,9%) [29]. Kết quả này của chúng tôi cũng phù hợp với

thực tế ở Việt Nam là nam giới có thói quen hút thuốc lá, thuốc lào nhiều

hơn so với nữ giới, vì thế tỷ lệ mắc bệnh của nam giới cao hơn . Sự khác

biệt về tỉ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ do mức độ tiếp xúc với khói thuốc lá đã

được chỉ ra khá rõ ràng. Tuy nhiên sự khác biệt này còn có thể do sự khác

nhau về hình thái học của phổi, đáp ứng viêm, hormon hay nghề nghiệp...

giữa hai giới. Những điều này hiện nay vẫn chưa thực sự sáng tỏ.

Trên thế giới các nghiên cứu của các tác giả cho các kết quả khác nhau.

Nghiên cứu của Marin và cộng sự (2007) trên 1398 bệnh nhân thuộc các nước

Hoa Kỳ, Tây Ban Nha, Chile, Urugoay, cho thấy tỷ lệ nam giới là 85%, nữ

giới 15% [30], nghiên cứu Marc Miravitlles và Cs (2013) nam giới chiếm

88,2%, nữ 11,9% [31]. Nghiên cứu của Buist và cộng sự (2007) [32] tiến

hành ở Áo trên 1258 đối tượng từ 40 tuổi trở lên cho thấy tỉ lệ mắc bệnh là

tương đương nhau ở hai giới và các đối tượng đều có tiền sử hút thuốc lá

tương đương nhau. Điều này cho thấy hút thuốc có vai trò quan trọng trong

phân bố BPTNMT ở hai giới.



51



4.1.2. Đặc điểm tuổi

Trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu tuổi trung bình là 63,8 ± 10,5 tuổi.

Cao nhất là 83, thấp nhất là 38 tuổi. Trong nghiên cứu của chúng tôi không

gặp trường hợp nào ở độ tuổi thanh thiếu niên. Kết quả này phù hợp với tuổi

trung bình của bệnh nhân BPTNMT trong các nghiên cứu khác như Tạ Hữu

Duy (2011) là 67,9 ±8,8 tuổi [33], Nguyễn Thanh Thủy (2013, n=112) 68,3 ±

10,4 tuổi [28], Huỳnh Thanh Tuấn (2012) tuổi trung bình là 78,6 ± 6,45 [34].

Nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với các tác giả nước ngoài như

Marcia Maria Faganello và cộng sự (2010) là 64,8 ± 9,5 [35], của tác giả

Funk và cộng sự trên 122 bệnh nhân BPTNMT ổn định ở Úc và Áo (2009) là

65 ± 10 [36]. Theo kết quả nghiên cứu của Mamino và cộng sự (2002) cho

biết tần suất mắc bệnh tăng dần theo tuổi, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân > 60

tuổi [37]. Điều này phù hợp với khuyến cáo về BPTNMT chủ yếu gặp ở

người >40 tuổi. Các nghiên cứu đã chỉ ra tuổi già là yếu tố nguy cơ độc lập

tiên lượng nặng nề trong đợt cấp BPTNMT. Tuổi cao liên quan đến tăng tỷ lệ

các bệnh đồng mắc tim mạch, cơ xương khớp, suy giảm chức năng thơng khí

nặng nề, điều kiện kinh tế khó khăn, phụ thuộc dẫn đến việc quản lý và điều

trị BPTNMT ở những bệnh nhân cao tuổi rất khó khăn [38]. Do vậy việc sàng

lọc tại cộng đồng để phát hiện bệnh sớm đóng vai trò quan trọng trong việc

phòng và điều trị bệnh.

4.1.3. Tiền sử hút thuốc lá, thuốc lào

Nghiên cứu của chúng tơi có 39 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 83,0% có tiền sử

hút thuốc lá, thuốc lào với số bao- năm trung bình là 17,2 ± 11,6, trong đó có

3 bệnh nhân nữ chiếm tỷ lệ 7,7%. Kết quả này tương tự với kết quả nghiên

cứu của Đặng Thị Tuyết (2010) với tỷ lệ hút thuốc là 94,1%, số bao- năm

trung bình là 17,1 ± 11,4 bao- năm [39], nghiên cứu của các tác giả Hoàng

Thị Hồng (2013, n = 164) với tỷ lệ hút thuốc lá, thuốc lào là 86,3% và số



52



bao - năm: 23,6 ± 18,5 [40], Nguyễn Thanh Thủy (2013, n = 112): có

88,4% bệnh nhân hút thuốc với số bao- năm trung bình là 27,5 ± 13,5 [28].

Các tác giả nước ngồi cũng có những kết quả tương tự như nghiên cứu của

Douglas và cộng sự (2001) với 80,4% số bệnh nhân hút thuốc. Nghiên cứu

của Sarioglu và cộng sự (2009) số bao- năm trung bình là 40 [41], Barnes

và cộng sự (1997) nhận xét có khoảng 85% người mắc BPTNMT nghiện

thuốc lá và ở những người này thường có tiền sử hút thuốc lá trên 20 baonăm [42]. Tác động của thuốc lá, thuốc lào tới BPTNMT phụ thuộc vào

thời gian hút và số lượng hút, được tính bằng chỉ số bao- năm. Trong

nghiên cứu của chúng tơi có 97,4% số bệnh nhân hút thuốc từ trên 10 baonăm. Theo GOLD 2015, hút thuốc lá trên 10 bao- năm được xem là nguy

cơ cao mắc BPTNMT [43]. Nhiều cơng trình nghiên cứu trên thế giới đã cho

thấy khói thuốc lá là nguy cơ hàng đầu của BPTNMT. Nghiên cứu của Cheng

và cộng sự (1999) xác định hút thuốc là nguyên nhân gây ra 71,6% bệnh nhân

mắc BPTNMT [44]. Trong một nghiên cứu khác 50% bệnh nhân hút thuốc lá

có nguy cơ tiến triển thành BPTNMT [45], [46]. Những người hút thuốc lá có

triệu chứng hơ hấp và bất thường chức năng phổi với tỷ lệ cao hơn, tốc độ

giảm FEV1 hàng năm nhiều hơn người không hút thuốc lá. Hút thuốc lào hay

xì gà đều có nguy cơ như hút thuốc lá. Tình trạng hút thuốc, số bao- năm còn

liên quan đến các yếu tố tiên lượng tử vong ở BPTNMT. Tại Việt Nam

BPTNMT chủ yếu liên quan đến tiếp xúc với khói thuốc lá, thuốc lào. Nghiên

cứu trên các công nhân của 4 nhà máy ở Hà Nội, nhóm tác giả Chu Thị

Hạnh, Ngơ Q Châu, Nguyễn Văn Tường (2006) cho biết số bệnh nhân có

hút thuốc lá với số lượng 15 bao- năm thì nguy cơ mắc BPTNMT cao gấp

6,7 lần so với những người hút thuốc < 15 bao- năm và người không hút

thuốc [47]. Trong một nghiên cứu khác của Phan Thu Phương, Ngô Quý

Châu (2009), những đối tượng hút thuốc lá có nguy cơ mắc BPTNMT cao



53



gấp 4,3 lần những người khơng hút thuốc [48]. Như vậy, có thể thấy hút

thuốc lá, thuốc lào càng nhiều, thời gian hút càng lâu nghĩa là số bao - năm

càng lớn thì nguy cơ mắc BPTNMT càng cao.

4.1.4. Thời gian mắc bệnh

Trong nghiên cứu của chúng tơi có 41 bệnh nhân đã phát hiện mắc

BPTNMT trước thời điểm nghiên cứu, thời gian phát hiện bệnh dài nhất là

15 năm. Thời gian phát hiện bệnh trung bình là 3,9 ± 3,8 năm. Kết quả này

thấp hơn so với nghiên cứu của tác giả Phan Thị Hạnh (2012) với thời gian

mắc bệnh trung bình là 5,64 ± 4,97 (năm) [49], Nguyễn Thanh Thủy (2013)

nghiên cứu trên 112 bệnh nhân thời gian mắc bệnh trung bình là 5,11 ± 4,3

năm [28], hoặc các tác giả nước ngoài như Sarioglu và cộng sự (2010) là 5

năm [41]. Sự khác biệt này có thể do có nhiều bệnh nhân trước đó khơng đi

khám bệnh mà khi có những triệu chứng lâm sàng nặng mới đi khám và mới

được chẩn đoán mắc BPTNMT. Điều này cho thấy việc tầm soát BPTNMT

đối với nhóm có nguy cơ cao bằng theo dõi chức năng hô hấp là cần thiết để

phát hiện sớm bệnh và tư vấn điều trị, do những bệnh nhân đã có thời gian

mắc bệnh trên 5 năm thường có những ảnh hưởng rõ rệt đến sức khỏe hoặc

có các biểu hiện ở cơ quan khác do hậu quả của BPTNMT (bệnh lý tim

mạch, bệnh lý nhiễm trùng, bệnh lý rối loạn chuyển hóa...).

4.1.5 Tiền sử đợt cấp trong 12 tháng

Đợt cấp BPTNMT là hiện tượng quan trọng trong quá trình diễn biến

của bệnh vì ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, mất

nhiều thời gian hồi phục lâm sàng và chức năng hô hấp, làm đẩy nhanh tốc

độ sụt giảm chức năng phổi, tăng gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội,

tăng tỷ lệ tử vong [43]. Bệnh nhân có đợt cấp thường xuyên có tỷ lệ tử vong

cao hơn, chất lượng cuộc sống kém hơn, tăng viêm đường hô hấp và suy

giảm nhanh chóng chức năng phổi so với những người đợt cấp ít thường



54



xuyên hơn. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi số đợt cấp trung bình là 1,9 ±

0,9/năm, 100% bệnh nhân có tiền sử ≥ 1 đợt cấp phải nhập viện (bảng 3.4).

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự của tác giả Nguyễn Thanh Thủy

(2013) số đợt cấp 2,45 ± 0,9 [28], thấp hơn kết quả nghiên cứu của Phan Thị

Hạnh (2012) số đợt cấp 4,02 ± 2,56/năm [49], Donadsol và cộng sự (2006)

số đợt cấp trung bình: 2,5 - 3 đợt/ năm [50].

Kết quả nghiên cứu ECLIPSE trên 2138 bệnh nhân theo dõi đợt cấp

trong 3 năm. Các đợt cấp xuất hiện thường xuyên hơn và mức độ nặng hơn

khi mức độ nghiêm trọng của BPTNMT gia tăng, tỷ lệ trầm trọng gia tăng

trong năm đầu tiên theo dõi là 0,85 mỗi người cho các bệnh nhân giai đoạn

2; 1,34 cho bệnh nhân giai đoạn 3 và 2,00 cho bệnh nhân giai đoạn 4. Yếu tố

đơn độc tiên lượng đợt cấp tốt nhất trong tất cả các giai đoạn của BPTNMT

chính là tiền sử mắc đợt cấp [51].

4.1.6. Đặc điểm chỉ số khối cơ thể BMI

BPTNMT thường xuất hiện tình trạng rối loạn dinh dưỡng biểu hiện rõ

nhất bằng việc khối lượng cơ bị giảm dần. Ở bệnh nhân BPTNMT đặc biệt là

các bệnh nhân ở giai đoạn bệnh nặng thường có tình trạng suy dinh dưỡng,

thiếu hụt vitamin và các yếu tố vi lượng. Có nhiều ngun nhân gây suy dinh

dưỡng, do q trình tiêu hóa, hấp thu thức ăn kém, tình trạng stress, lo lắng

bệnh tật, khó thở gây cản trở việc ăn uống, tiêu tốn nhiều năng lượng cho q

trình hơ hấp, tình trạng kém hiểu biết về dinh dưỡng hay điều kiện sống kém.

Hậu quả của suy dinh dưỡng ở người bệnh gây suy giảm miễn dịch, tạo điều

kiện thuận lợi cho các nhiễm khuẩn bùng phát, làm bệnh tiến triển nhanh và

nặng [52].

Trong nghiên cứu của chúng tơi BMI trung bình của nhóm đối tượng

nghiên cứu là 20,2 ± 3,0 (kg/m²), tương tự với kết quả của tác giả Hoàng

Thị Hồng (2013) với BMI trung bình: 20,1 ± 3,09 [40]. So với nghiên cứu



55



của các tác giả nước ngồi cho thấy có sự khác biệt, Funk và cộng sự

(2009) trên 122 BN là 25,8 ± 6,8(kg/m²) [36]; Fanny và cộng sự (2010) là

21,41 ± 4,7 (kg/m²). Điều này có thể giải thích vì các bệnh nhân BPTNMT

ở nước ngồi có tình trạng dinh dưỡng tốt hơn ở Việt Nam nên chỉ số BMI

trung bình cao hơn.

Trong nghiên cứu của chúng tơi nhóm đối tượng có BMI < 18,5(kg/m²)

chiếm 27,7%. Kết quả này phù hợp với nhận xét của tác giả Pouw và cộng sự

(2000), suy dinh dưỡng gặp ở 25 - 40% bệnh nhân BPTNMT [53]. Điều này

cho thấy một phần không nhỏ bệnh nhân BPTNMT ở Việt Nam có tình trạng

suy dinh dưỡng từ nhẹ đến nặng. Cũng theo các tác giả Montes de Oca và

cộng sự (2005) trong nghiên cứu PLATINO trên 5571 bệnh nhân ở Châu Mỹ

La tinh nhận thấy phần lớn các bệnh nhân có BMI thấp hơn mức bình thường

và chỉ có khoảng ½ số bệnh nhân có BMI > 25 (kg/m²).

Theo nhiều tác giả, trong cơ chế bệnh sinh của BPTNMT, ngoài các ảnh

hưởng đến cấu trúc và chức năng phổi còn có những hậu quả tồn thân đó là

viêm hệ thống, rối loạn chức năng cơ bao gồm sự mất dần khối cơ và những

bất thường năng lực sinh học [54]. Theo tác giả Schols AM, sút cân là biến

chứng thường xảy ra và là yếu tố đánh giá tình trạng sức khỏe, khả năng hoạt

động và tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân BPTNMT [55]. Sút cân ở bệnh nhân

BPTNMT là hậu quả của sự mất cân đối giữa gia tăng nhu cầu năng lượng

của cơ thể và sự cung cấp từ nguồn thức ăn, cũng như có sự mất cân đối giữa

tổng hợp và giáng hóa protein dẫn đến giảm sút chỉ số khối mỡ tự do ở một số

bệnh nhân. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy suy dinh dưỡng là một

trong các bệnh đồng mắc với BPTNMT, đồng thời là những yếu tố tiên lượng

tử vong độc lập với các biến số khác một cách có ý nghĩa [56],[57].



56



4.2. Đặc điểm lâm sàng nhóm bệnh nhân nghiên cứu:

4.2.1. Triệu chứng cơ năng khi bắt đầu nhập viện

Những triệu chứng hay gặp nhất ở bệnh nhân BPTNMT trong nghiên

cứu của chúng tôi là khó thở (95,7%), ho (59,5%), khạc đờm (53,2%) và đau

ngực (23,4%). Kết quả của chúng tôi cũng tương tự kết quả nghiên cứu của

một số tác giả như nghiên cứu của Lê Thị Huyền Trang (2007, n=76) thấy ho

(76,8%), khạc đờm (78%), khó thở (90,2%), tức ngực (54,9%) [58], nghiên

cứu của Hồng Thị Hồng (2013, n = 164) khó thở khi gắng sức (87,3%), khạc

đờm mạn tính (74,7%), ho mạn tính (62,1%), tức ngực (27,8%) [40]. Nghiên

cứu của Vũ Duy Thướng (2008) thấy 30/30 (100%) bệnh nhân có khó thở,

74,3% khạc đờm, 80% ho, trong đó 100% đờm đục [59]. Khó thở là nguyên

nhân chủ yếu đưa bệnh nhân đi khám và nhập viện, điều này phù hợp vì

nghiên cứu của chúng tơi có đến 70,2% số bệnh có mức độ khó thở theo

mMRC ≥ 2.

4.2.2. Đánh giá triệu chứng thơng qua bộ câu hỏi mMRC

Khó thở là thuật ngữ mơ tả cảm giác khó chịu khi thở, là triệu chứng

chính của BPTNMT, là mối quan tâm lớn nhất của người thầy thuốc cũng như

bệnh nhân. Có một số bảng câu hỏi điều tra đã được công nhận dùng để đánh

giá các triệu chứng ở bệnh nhân, có thể sử dụng để phân loại các bệnh nhân

có triệu chứng trầm trọng với các bệnh nhân có ít triệu chứng nghiêm trọng

hơn, trong đó mMRC là thang đo mức độ khó thở theo hội đồng nghiên cứu y

khoa Anh Quốc.

Trong nghiên cứu của chúng tơi, có 70,2% bệnh nhân có mức độ khó thở

mMRC ≥ 2, và điểm cho mức độ khó thở trung bình là 2,6 ± 1,2. Kết quả

này tương tự của Trương Thị Tuyết (2015, n = 207): mMRC 2- 4 chiếm

77,7% [60], Hoàng Thị Hồng (2013, n = 190): mMRC 2-4 chiếm 71,6%

[40]; thấp hơn so với nghiên cứu của tác giả Tạ Hữu Duy (2011) mức độ



57



khó thở trung bình là 3,18 ± 0,18 [33], cao hơn so với các nghiên cứu của

tác giả nước ngoài như Funk và cộng sự (2009) là 1,9 ± 1,3 [36]; nghiên

cứu của Ong K.C (2005) trên 127 bệnh nhân Singapore, điểm mMRC trung

bình là 1,9 ± 1,2 [61].

Đa số bệnh nhân ở mức khó thở ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống sinh

hoạt. Họ đi lại chậm hơn người cùng tuổi do khó thở, có một số bệnh nhân

nặng không thể tiến hành được các hoạt động tối thiểu: thay quần áo, vệ sinh.

Tất cả các hoạt động này đều cần sự giúp đỡ của người thân, họ không thể ra

khỏi nhà, giao tiếp xã hội bị hạn chế. Điều này minh chứng chất lượng cuộc

sống của bệnh nhân BPTNMT bị ảnh hưởng một cách nghiêm trọng.

4.2.3. Đánh giá triệu chứng thông qua bộ câu hỏi CAT

Thang điểm CAT là tổng điểm chung của các lĩnh vực nghiên cứu lâm

sàng cốt lõi liên quan đến tác động của bệnh lý BPTNMT đến chất lượng

cuộc sống của bệnh nhân BPTNMT. Bảng câu hỏi này ngắn gọn và đáng tin

cậy để đánh giá tình trạng sức khỏe và tác động của BPTNMT lên người

bệnh. Trong nghiên cứu của chúng tôi điểm CAT được phỏng vấn vào thời

điểm bệnh nhân ổn định ra viện thấy có 78,7% bệnh nhân điểm CAT ≥ 10,

trong đó điểm CAT 20-29 chiếm tỷ lệ cao nhất (42,6%), điểm CAT trung bình

là 21,1 ± 8,5. Kết quả này của chúng tôi cao hơn kết quả của tác giả Đỗ Quyết

và cộng sự (2010) với điểm CAT trung bình lúc ra viện là 18,59 ± 4,66 [62];

Tạ Hữu Duy (2011) [33] với điểm CAT trung bình là 20,01 ± 4,45. Kết quả

này có sự khác biệt với nghiên cứu của tác giả Lee S.D và cộng sự (2014) trên

495 bệnh nhân thấy có 361 bệnh nhân có điểm CAT ≥ 10 chiếm tỷ lệ 72,9%,

trong đó điểm CAT từ 10- 19 chiếm tỷ lệ cao nhất (47,7%), điểm CAT trung

bình là 14,8 ± 7,7 [63]. Có sự khác biệt này có thể là do trong nghiên cứu của

chúng tơi hầu hết là các bệnh nhân kiểm sốt bệnh khơng tốt, điều trị khơng

thường xun và khi có triệu chứng thực sự ảnh hưởng đến chất lượng cuộc



58



sống mới khiến bệnh nhân phải nhập viện điều trị, các bệnh nhân này đa số

nhập viện vì đợt cấp, trong khi đối tượng nghiên cứu của tác giả Lee S.D và

cộng sự là các bệnh nhân từ phòng khám ngoại trú.

4.2.4. Triệu chứng thực thể

Về dấu hiệu suy hô hấp: Trong nghiên cứu của chúng tơi khơng có

bệnh nhân nào rối loạn ý thức khi vào viện, có 80,9% bệnh nhân nói được

câu dài, 25,5% biểu hiện co kéo cơ hơ hấp và 12,8% bệnh nhân có tím mơi.

Kết quả này thấp hơn nghiên cứu của Vũ Duy Thướng (2008) 70% bệnh

nhân có tím, co kéo cơ hơ hấp 10/30 (33,3%) [59]. Sự khác biệt này là do

các bệnh nhân trước khi vào Trung tâm Hô hấp- bệnh viện Bạch Mai điều

trị đã được xử trí tình trạng nặng tại khoa cấp cứu.

Về dấu hiệu tại phổi: Trong nghiên cứu của chúng tơi, rì rào phế nang

giảm chiếm 74,5%; rale rít, rale ngáy chiếm 70,2%, rale ẩm, rale nổ chiếm

27,7%, lồng ngực hình thùng chiếm 19,1%. Kết quả này cao hơn với kết quả

nghiên cứu của tác giả Trần Thị Hằng (2011) triệu chứng RRPN giảm là 55%,

rale rít, rale ngáy là 12,5% [64]. Nghiên cứu của tác giả Ngô Quý Châu và

Ngô Thị Thu Hương (2005) về triệu chứng lâm sàng của 151 bệnh nhân [65]

điều trị tại khoa Hô hấp bệnh viện Bạch Mai triệu chứng rì rào phế nang giảm

chiếm 92,7% cao hơn kết quả nghiên cứu của chúng tôi.

Về dấu hiệu suy tim phải: Trong nghiên cứu của chúng tôi, dấu hiệu gan

to và tĩnh mạch cổ nổi chiếm tỷ lệ 12,8%; gan to chiếm 10,6%. Kết quả này

thấp hơn so với nghiên cứu của tác giả Vũ Duy Thướng (2008) với gan to

chiếm 33,3%; phù chân 13,3% [59], nghiên cứu của Phan Thị Hạnh (2012)

gan to chiếm 31,7%; phù chân 15% [49]. Sự khác biệt này có thể do cỡ mẫu

trong nghiên cứu của chúng tơi còn nhỏ.



59



4.2.5. Đánh giá và phân loại giai đoạn COPD theo GOLD 2016

GOLD 2016 đánh giá và phân loại mức độ nặng theo nhóm (A,B,C,D),

dựa vào mức độ tắc nghẽn đường thở, số đợt cấp trong 12 tháng vừa qua,

triệu chứng hiện tại theo thang điểm CAT và mMRC. Khi đánh giá nguy cơ

chọn nguy cơ cao nhất theo mức độ tắc nghẽn luồng khí hay tiền căn đợt cấp

trong 12 tháng qua. Phân loại giai đoạn BPTNMT theo GOLD 2016 có ý

nghĩa quan trọng trong dự báo nguy cơ và tiên lượng bệnh ở bệnh nhân COPD.

Vì đợt cấp làm giảm nhanh chức năng hô hấp của bệnh nhân. Sau mỗi đợt cấp,

đường thở của bệnh nhân bị viêm nhiều hơn, chức năng phổi bị tổn thương

nghiêm trọng hơn, nhiều bệnh nhân thậm chí khơng thể phục hồi lại chức năng

phổi như trước khi gặp phải đợt cấp. Đặc biệt những đợt cấp nặng phải nhập

viện có nguy cơ phải đặt nội khí quản, thở máy, thậm chí tử vong.

Trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi, số bệnh nhân thuộc nhóm D nguy cơ cao, nhiều triệu chứng chiếm tỷ lệ lớn nhất 80,9%; nhóm C - nguy cơ

cao, ít triệu chứng chiếm tỷ lệ 19,1%. Khơng có bệnh nhân thuộc nhóm A và

nhóm B.

Kết quả của chúng tơi có sự khác biệt với kết quả nghiên cứu của

Johanessen và cộng sự (2013) [66] có tỷ lệ theo các nhóm tương ứng là: nhóm

A (21%), nhóm B (30%), nhóm C (6%), nhóm D (43%) thực hiện trên 912

bệnh nhân được chẩn đoán sàng lọc là BPTNMT tại cộng đồng và được theo

dõi trong 8 năm; kết quả của Soriano và cộng sự (2014) với n=15632 bệnh

nhân chẩn đoán BPTNMT từ 7 quốc gia [67] với tỷ lệ nhóm A (38%), nhóm

B (19%), nhóm C (13%), nhóm D (31%). Có sự khác biệt này là do các

bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu của chúng tơi số lượng còn ít, thời gian

theo dõi ngắn và các bệnh nhân phải nhập viện vì đợt cấp, vì vậy nhiều

bệnh nhân dù là đợt cấp đầu tiên phải nhập viện, khi phân loại theo GOLD

2016 đều thuộc nhóm nguy cơ cao.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thể tích toàn phổi

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×