Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
6 Thực trạng về phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ mi dưới

6 Thực trạng về phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ mi dưới

Tải bản đầy đủ - 0trang

25



với quan sát các kỹ thuật truyền thống đã dẫn đến quan điểm nâng cao thể

tích vùng mi dưới.

Ngày nay thẫm mỹ mi dưới đã phát triển rất phong phú cả về kỹ thuật

lẫn phạm vi ứng dụng. Đặc biệt trong nhu cầu về tạo hình thẫm mỹ, thẩm

mỹ mi dưới ngày càng chiếm tỷ lệ cao. Theo một thống kê nhu cầu thẩm mỹ

mi mắt ngày càng tăng ở nhóm người gốc Đơng Á của Hoa Kỳ. Trong một

báo cáo thống kê phẫu thuật thẫm mỹ năm 2013, những người Châu Á/Thái

Bình Dương chiếm 6,2% các trường hợp tạo hình mi mắt ở Mỹ, tỷ lệ này là

cao nhất so với tất cả các phẫu thuật thẫm mỹ khác [34]. Để đạt được thành

cơng đối với tạo hình mi cho người châu Á, điều quan trọng nhất là phải

hiểu rõ những đặc tính đặc trưng của mi mắt người châu Á. Da mặt người

châu Á có nhiều sắc tố melanin và da dày hơn, vì vậy các vết sẹo sau phẫu

thuật có thể bị lồi hoặc sẫm màu.

Cùng với sự phát triển của các chất liệu và phương pháp tạo hình

thẩm mỹ, thẩm mỹ mi mắt ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong các yêu cầu

thẩm mỹ vùng mặt. Đặc biệt trong việc giải quyết các biến đổi giải phẫu mi

dưới do yếu tố môi trường hoặc biến chứng phẫu thuật. [22, 23].

1.6.2 Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ mi dưới tại Việt Nam.

Ở Việt Nam người ta vẫn quen gọi phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ một

cách khơng đầy đủ là phẫu thuật thẩm mỹ hay giải phẫu thẩm mỹ. Hiện nay,

trong các văn bản pháp quy và trong các tài liệu chuyên môn thường sử

dụng tên gọi phẫu thuật thẩm mỹ.

Những cơ sở làm đẹp đầu tiên theo mơ hình Thẩm mỹ viện đã ra đời

từ những năm 1960 với các kỹ thuật giải phẫu thẩm mỹ phổ biến là nâng

mũi, cắt mí mắt... và các dịch vụ chăm sóc sắc đẹp. Các kỹ thuật làm đẹp

cũng được du nhập và sử dụng phong phú hơn như xăm thẩm mỹ, bơm

silicone, căng da mặt... Từ sự phát triển đó, một hiệp hội nghề nghiệp đầu



26



tiên của các bác sĩ thẩm mỹ miền Nam đã ra đời với tên gọi Hội Giải phẫu

Thẩm mỹ Việt Nam do bác sĩ Nguyễn Đăng Các làm Tổng thư ký.

Sau năm 1975, đất nước thống nhất, ngành phẫu thuật tạo hình khơng

chỉ tập trung giải quyết di chứng chiến tranh mà còn nhanh chóng tiếp cận

kỹ thuật mới để đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ làm đẹp ngày càng cao. Giáo sư

Nguyễn Huy Phan là người đầu tiên triển khai các kỹ thuật như nâng mũi,

cắt mí mắt, nâng ngực, tạo hình thành bụng... rất thành cơng tại Bệnh viện

108. Ơng cũng là người tổ chức và lãnh đạo đầu tiên của ngành phẫu thuật

tạo hình Việt Nam, là người tổ chức và dẫn dắt Bộ mơn Phẫu thuật Tạo hình

đầu tiên tại Đại học Y Hà Nội.

Tiếp theo đó, Khoa Phẫu thuật Tạo hình thẩm mỹ Bệnh viện Việt

Đức, Khoa Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ Bệnh viện Da Liễu Trung ương

cũng trở thành những trung tâm hàng đầu của ngành phẫu thuật tạo hình

thẩm mỹ. Một số chuyên khoa phẫu thuật thẩm mỹ cũng ra đời trong các

bệnh viện tư như Bệnh viện Thu Cúc, Hồng Ngọc… cùng với sự bùng nổ

dịch vụ làm đẹp của hàng loạt thẩm mỹ viện, trong đó có 30 cơ sở được

phép phẫu thuật thẩm mỹ.

Từ 1975 cho đến cuối những năm 1980, các cơ sở giải phẫu thẩm mỹ

ở Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) được giao cho ngành văn hóa cấp

phép và quản lý nên cung cách hoạt động có vẻ ngoại đạo với ngành y

tế. Đến năm 1989 có một bước ngoặt khi các cơ sở giải phẫu thẩm mỹ được

đưa trở lại dưới sự quản lý của Sở Y tế. Đầu những năm 1990, các cơ sở

giải phẫu thẩm mỹ được nâng cấp thẩm định và cấp giấy phép bởi Bộ Y tế.

Các bác sĩ thẩm mỹ cũng được đào tạo chuyên khoa chính thức. Các cơ sở

phẫu thuật tạo hình chính thống của hệ thống y tế cơng cũng lần lượt ra đời

tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh.



27



Bên cạnh đó, là làn sóng ra đời của các khoa Phẫu thuật tạo hình

thẩm mỹ tại các bệnh viện như Trưng Vương, Bình Dân, An Sinh, Nguyễn

Tri Phương... và các bệnh viện chuyên khoa thẩm mỹ như Bệnh viện Sài

Gòn, Thanh Vân…, các mơ hình bệnh viện ban ngày như Bệnh viện Văn

Lang, Việt Mỹ, Á Âu... Hiện nay tại TP. HCM có 80 cơ sở có giấy phép

phòng khám phẫu thuật thẩm mỹ đang hoạt động. Hội nghề nghiệp của các

bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ ra đời với tên gọi Hội Phẫu thuật Thẩm mỹ TP.

HCM. Tiếp theo đó là sự ra đời của Hội Phẫu thuật Tạo hình TP. HCM, Hội

Phẫu thuật Tạo hình Hà Nội.

Sự giao lưu thường xuyên và ý thức tự học hỏi đã giúp cho các phẫu

thuật viên tạo hình thẩm mỹ Việt Nam bước đầu làm chủ những kỹ thuật

phẫu thuật thẩm mỹ tiên tiến.



28



CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1



Đối tượng nghiên cứu:

Các trường hợp có chỉ định cắt mi dưới được tiến hành cắt mi dưới tại



bệnh viện Xanh Pôn từ tháng 6/2016 đến tháng 9/2017.

2.2



Địa điểm nghiên cứu:

Tại khoa Phẫu thuật tạo hình (PTTH), bệnh viện Xanh Pơn, Hà Nội



2.3 Thời gian nghiên cứu:

Từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 9 năm 2017

2.4 Thiết kế nghiên cứu: trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng thiết kế

nghiên cứu mô tả loạt ca.

2.5 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

Căn cứ vào các tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ đối tượng

nghiên cứu, với thời gian và địa điểm nghiên cứu đã xác định, cỡ mẫu không

được đưa ra, nghiên cứu tất cả các trường hợp, được gọi là mẫu thuận tiện.

Thực tế, trong thời gian nghiên cứu trên, chúng tôi đã khảo sát được 28

trường hợp.

2.5.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Những người trên 18 tuổi có chỉ định phẫu thuật mi dưới: sa trễ da,

thừa mỡ mi dưới đến điều trị tại khoa PTTH bệnh viện Xanh Pôn, Hà Nội từ

tháng 6 năm 2016 đến tháng 9 năm 2017

- Những người đồng ý cung cấp thông tin cho nghiên cứu.

2.5.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Trường hợp trong chỉ định nhưng đang có viêm nhiễm vùng cần can

thiệp hoặc các bệnh về mắt.

- Những trường hợp mổ mi dưới do chấn thương hay dị tật bẩm sinh

- Những trường hợp tâm lý khơng ổn định, có biểu hiện tâm thần.



29



- Những trường hợp khơng hợp tác trong q trình nghiên cứu.

2.6 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu

2.6.1 Phương pháp thu thập số liệu:

Số liệu được thu thập bằng cách: quan sát và ghi nhận qua hình ảnh;

phỏng vấn đối tượng nghiên cứu theo bộ câu hỏi soạn sẵn.

Quy trình thu thập số liệu:

- Tiếp đón khách hàng, xác định đối tượng phù hợp với tiêu chí lựa chọn

vào nghiên cứu, hỏi các thông tin trước mổ theo bộ câu hỏi soạn sẵn,

gồm:

o Hỏi lý do vào viện

o Ghi nhận thơng tin phần hành chính

o Chụp ảnh trước mổ dưới các góc độ: tồn bộ khn mặt, các biểu

cảm nhìn thẳng, nhìn lên, nhìn xuống, nhắm mắt, nghiêng 45o.

o Ghi nhận triệu chứng lúc vào viện…

- Tiến hành làm hồ sơ phẫu thuật:Thăm khám các triệu chứng trước mổ

theo bộ câu hỏi soạn sẵn

- Thực hiện các xét nghiệm cần thiết trước khi tiến hành phẫu thuật, thử

text lidocain.

- Tiến hành phẫu thuật theo chỉ định tương ứng với từng trường hợp

- Chụp ảnh sau mổ: chụp ảnh mặt chính diện nhắm mắt, mở mắt, mắt

nhìn lên, chụp nghiêng 45o.

- Chăm sóc sau mổ:

o Chườm đá: cho bệnh nhân nằm ngửa, đặt 1 gạc nhỏ lên trên mỗi

bên mắt, để yên trong 30 phút.

o Kê đơn thuốc uống: efferalgan 500mg x 3 viên uống khi đau,

alpha choay x 18 viên uống 1 lần 2 viên ngày 3 lần (uống thêm

một đợt nữa đối với các trường hợp sưng nề kéo dài)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

6 Thực trạng về phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ mi dưới

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×