Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Các phương pháp phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ mi dưới

3 Các phương pháp phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ mi dưới

Tải bản đầy đủ - 0trang

20



Phương pháp này thường được ứng dụng với những bệnh nhân có sa trễ mỡ

kèm thừa da nhiều. Những bệnh nhân lớn tuối.

Nhược điểm là để lại một vết sẹo ngoài da ở bờ dưới mi. Thường tiến

triển sẹo là tốt và khó bị nhìn thấy trừ một vài trường hợp cơ địa sẹo bất ổn.

Ngoài ra, phương pháp này thường dẫn đến một biến chứng hay gặp là trễ

mi sau phẫu thuật tạo hình mi dưới do cắt quá nhiều da thừa hoặc do sự suy

yếu của cân mạc mi dưới. Việc khắc phục tình trạng này tương đối khó khăn

và cũng là một thách thức đối với các phẫu thuật viên.



Hình1.9: Phẫu thuật tạo hình mi dưới qua đường mổ qua da [24]

1.3.2 Tạo hình mi mắt qua đường kết mạc.

Tạo hình mi qua đường kết mạc sử dụng đường rạch qua kết mạc

mi dưới. Qua đường rạch, phẫu thuật viên có thể phẫu tích rõ vách ổ mắt và

mở qua vách để tiếp cận các túi mỡ mi dưới. Các túi mỡ được lấy ra, giải

phóng khỏi cơ chéo dưới và được cắt bỏ một phần để giảm phần lồi mi

dưới. Sau khi cầm máu kỹ thì đường rạch qua kết mạc có thể được đính bởi

một mũi chỉ nilon 7.0 hoặc để lành thương tự nhiên. Phương pháp này



21



đường mổ nhỏ, can thiệp tối thiểu. Thường sử dụng với những trường hợp

chỉ bị sa trễ mỡ mi dưới mà không thừa da. [17, 18]

Ưu điểm của phương pháp là không thấy sẹo mổ. Can thiệp tối

thiểu nên ít gây phù nề hơn các phương pháp khác. Ngồi ra, khơng bị biến

chứng trễ mi như phương pháp mổ qua da.

Nhược điểm của nó là đường mổ gần nhãn cầu, có nhiều nguy cơ

gây tổn thương giác mạc hay nhãn cầu hơn. Phẫu trường nhỏ nên can thiệp

hạn chế hơn. Có thể tổn thương cơ chéo gây song thị.



Hình 1.10: Phẫu thuật tạo hình mi dưới qua đường kết mạc [27]

1.3.3 Phương pháp dàn mỡ ổ mắt

Phương pháp này thường được thực hiện cùng với 1 trong 2 đường mổ

trên. Bản chất của phương pháp này là không lấy bỏ mỡ mà sau khi phẫu

tích các túi mỡ sẽ dàn trải, sắp xếp lại để giảm phần lồi mi dưới nhưng vẫn

giữ sự đầy đặn và liên tục của vùng mi dưới. Điểm mấu chốt trong phương



22



pháp này là đường rạch qua phía dưới điểm bám của vách ổ mắt vào màng

xương ổ mắt dưới để dàn tải mỡ và làm mất rìa dưới của bọng mỡ mi dưới.

[18, 19]

Ưu điểm của phương pháp này là có thể giảm phần lồi mi dưới kèm cắt

bỏ da thừa (nếu mổ theo đường qua da) mà vẫn giữ lại sự đầy đặn, tự nhiên

của vùng mi dưới. Tránh tình tạng lõm của mi dưới do lấy mỡ quá nhiều.

1.4 Các biến chứng của phẫu thuật thẩm mỹ mi dưới. [20, 21]

1.5.1 Phù và sưng nề kết mạc.

Sau những phẫu thuật thẫm mỹ mi dưới với đường mổ qua kết mạc

mắt hoặc qua da có thể xảy ra tình trạng sưng nề lan rộng do chấn thương

trong phẫu thuật. Chứng viêm sưng nề kết mạc mắt thường xảy ra bất đối

xứng, một bên rất sưng nề, một bên lại ít hoặc bình thường. Tránh tình trạng

này, cách tốt nhất là tiến hành phẫu thuật một cách cẩn thận, tránh làm dập

mô, và theo dõi sau mổ, có thể tăng cường bằng một mũi tiêm corticoid hay

mơt đường rạch giải phóng sưng nề. Việc này thường không cần thiết nhưng

lại rất hữu ích trong trường hợp sưng nề kết mạc dẫn đến đẩy mi dưới ra xa

nhãn cầu có thể làm đứt đường khâu hoặc tiến triển lộn mi. Đối với những

mi bị lộn cần sữa chữa bằng cách khâu lại đường mổ và cố định lại mi mắt.

Các phẫu thuật viên có thể tránh biến chứng sưng nề kết mạc và chảy dịch

dưới kết mạc bằng cách sau: gây tê tại chỗ vùng sưng nề kết mạc bằng

lidocain 4%, mở vết thương, nặn hết dịch và băng ép trong vòng 24h.

Phương pháp này sẽ giúp bệnh nhân nhìn rõ hơn ngay lập tức và tránh tình

trạng lộn mi. Nếu tình trạng sưng nề tái diễn có thể lập lại q trình trên lần

nữa.

1.5.2 Chảy máu.

Biến chứng chảy máu có thể gây ra mảng bầm máu hoặc khối máu tụ.

Trường hợp nhẹ có thể tự khỏi sau 7-10 ngày, trường hợp tụ máu lớn phải



23



mở lại vết mổ để lấy khối máu tụ. Ngun nhân có thể do chấn thương mơ

trong khi phẫu thuật hoặc cầm máu khơng kỹ.

1.5.3. Sót túi mỡ mắt.

Một số bác sĩ có thể bỏ sót túi mỡ trong những phẫu thuật mi mắt dưới.

Phương pháp xử lý hiệu quả là loại bỏ phần chất béo còn sót này như cách

mổ thẩm mỹ mi dưới. Bác sĩ cũng có thể rạch một đường rạch nhỏ ngay

dưới lơng mi ở vị trí phía trên khối mỡ thừa, bóc tách và cắt bỏ hoặc đốt bỏ

bằng dao đốt lưỡng cực.

15.4. Co kéo mi mắt, lộn mi.

Việc cắt bỏ quá nhiều da mi dưới có thể dẫn đến co kéo mi dưới hoặc

lật mi, tình trạng này có thể dẫn đến biến dạng mi dưới gây mất thẩm mỹ

hoặc viêm kết mạc do hở mi. Bác sĩ có thể tránh tình trạng lộn mi bằng cách

nói bệnh nhân mở miệng trong khi đang đo lường lượng da cần cắt. Việc

này giống như dùng trọng lực để ước lượng lượng da cần cắt thích hợp.

15.4. Tổn thương nhãn cầu.

Biến chứng nghiêm trọng nhất của phẫu thuật tạo hình mi mắt là mù

lồ, rất hiếm gặp, với tỷ lệ ước tính ít hơn 1 trên 10.000 trường hợp.

Nguyên nhân phổ biến nhất của chứng mù là tình trạng xuất huyết hậu nhãn

cầu, xuất hiện trong khoảng 1 trong 2000 trường hợp và thường biểu hiện

trong vòng 24 giờ đầu tiên của phẫu thuật. Thường gặp hơn là các biến

chứng nhỏ, chẳng hạn như trầy xước giác mạc, sưng viêm kết mạc nhãn cầu

và mụn nước. Trầy xước giác mạc nhỏ có thể được điều trị bằng thuốc mỡ

kháng sinh; nếu một bệnh nhân phàn nàn về các triệu chứng sau 24 đến 36

giờ sau phẫu thuật thì nên gửi đến bác sĩ nhãn khoa thăm khám. Sưng viêm

kết mạc nhãn cầu biểu hiện bằng phù kết mạc và có thể tiến triển thứ cấp

khiến cho khơng khép được mí mắt. Nó thường xuất hiện một tuần hoặc



24



nhiều hơn sau khi phẫu thuật. Có thể điều trị bằng thuốc nhỏ mắt loại

steroid tại chỗ để giảm nhanh phù nề. Chỉ nên sử dụng ở những bệnh nhân

khơng có tiền sử tăng nhãn áp. Mụn viêm dọc theo đường khâu có thể xuất

hiện ở 2% đến 5% bệnh nhân sau phẫu thuật tạo hình mi

1.5.5. Chứng song thị

Rất khó gây ra chứng song thị sau phẫu thuật mí dưới, nhưng vẫn

có thể sảy ra. Biến chứng này có thể là kết quả của xuất huyết sau phẫu

thuật. Biến chứng này cần được chẩn đón chính xác và được xử lý sớm nếu

nó đang can thiệp vào chức năng thị giác. Có thể chấn thương cơ chéo dưới,

cần chú ý xác định rõ và tránh tác động vào cơ chéo dưới khi lấy bỏ túi mỡ.

Nguyên nhân của tổn thương này có thể do phẫu tích không rõ ràng hoặc

kẹp nhầm vào cơ chéo dưới. Cũng có thể tổn thương cơ thẳng dưới mặc dù

điều này khó xảy ra hơn. Nếu bác sĩ phẫu thuật tạo ra một vết mổ sau kết

mạc và mất kiểm soát do sự thay đổi cấu trúc giải phẫu thì rất có thể gây tổn

thương cơ thẳng dưới.

1.6 Thực trạng về phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ mi dưới

1.6.1 Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ mi dưới trên thế giới

Mơ tả đầu tiên về phẫu thuật tạo hình mi dưới là một ấn bản về một

đường rạch dưới lông mi xuất bản vào năm 1907 bởi Charles Conrad Miller.

Phương pháp cắt bỏ túi mỡ thừa mi dưới với đường mổ qua kết mạc được

mô tả vào năm 1942 bởi Bourguet và cuối cùng tiến đến kỹ thuật hiện đại

“subtractive” cắt bỏ da và túi mỡ được mô tả bởi Castanares năm 1951. Ba

mươi năm sau kỹ thuật giữ lại mỡ như những túi mỡ “trượt” đã được giới

thiệu bởi Loeb và sau đó được cải tiến bởi Hamra. Phương pháp lấy bỏ cả

da và mỡ thừa tiếp tục được sử dụng đến giữa năm 1990 khi Shorr và cộng

sự chính thức miêu tả những tiến bộ trong phương pháp tạo hình thẫm mỹ

mi. Việc cải thiện hiểu biết về giải phẫu quanh mắt và tầng mặt giữa cùng



25



với quan sát các kỹ thuật truyền thống đã dẫn đến quan điểm nâng cao thể

tích vùng mi dưới.

Ngày nay thẫm mỹ mi dưới đã phát triển rất phong phú cả về kỹ thuật

lẫn phạm vi ứng dụng. Đặc biệt trong nhu cầu về tạo hình thẫm mỹ, thẩm

mỹ mi dưới ngày càng chiếm tỷ lệ cao. Theo một thống kê nhu cầu thẩm mỹ

mi mắt ngày càng tăng ở nhóm người gốc Đơng Á của Hoa Kỳ. Trong một

báo cáo thống kê phẫu thuật thẫm mỹ năm 2013, những người Châu Á/Thái

Bình Dương chiếm 6,2% các trường hợp tạo hình mi mắt ở Mỹ, tỷ lệ này là

cao nhất so với tất cả các phẫu thuật thẫm mỹ khác [34]. Để đạt được thành

cơng đối với tạo hình mi cho người châu Á, điều quan trọng nhất là phải

hiểu rõ những đặc tính đặc trưng của mi mắt người châu Á. Da mặt người

châu Á có nhiều sắc tố melanin và da dày hơn, vì vậy các vết sẹo sau phẫu

thuật có thể bị lồi hoặc sẫm màu.

Cùng với sự phát triển của các chất liệu và phương pháp tạo hình

thẩm mỹ, thẩm mỹ mi mắt ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong các yêu cầu

thẩm mỹ vùng mặt. Đặc biệt trong việc giải quyết các biến đổi giải phẫu mi

dưới do yếu tố môi trường hoặc biến chứng phẫu thuật. [22, 23].

1.6.2 Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ mi dưới tại Việt Nam.

Ở Việt Nam người ta vẫn quen gọi phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ một

cách khơng đầy đủ là phẫu thuật thẩm mỹ hay giải phẫu thẩm mỹ. Hiện nay,

trong các văn bản pháp quy và trong các tài liệu chuyên môn thường sử

dụng tên gọi phẫu thuật thẩm mỹ.

Những cơ sở làm đẹp đầu tiên theo mơ hình Thẩm mỹ viện đã ra đời

từ những năm 1960 với các kỹ thuật giải phẫu thẩm mỹ phổ biến là nâng

mũi, cắt mí mắt... và các dịch vụ chăm sóc sắc đẹp. Các kỹ thuật làm đẹp

cũng được du nhập và sử dụng phong phú hơn như xăm thẩm mỹ, bơm

silicone, căng da mặt... Từ sự phát triển đó, một hiệp hội nghề nghiệp đầu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Các phương pháp phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ mi dưới

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×