Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Đặc điểm lâm sàng biến dạng mi mắt dưới

2 Đặc điểm lâm sàng biến dạng mi mắt dưới

Tải bản đầy đủ - 0trang

13



kinh III, hội chứng Horner, chứng sụp mi khi há miệng Marcus Gunn,

ngược lại với chứng Marcus Gunn, liệt mi do đau nửa đầu, đa xơ cứng.

-



Sa trễ do cơ: mô tả các yếu tố cản trở sự phát triển hay chức năng



bình thường của cơ nâng mi. Những yếu tố này bao gồm dị dạng cơ nâng

mi bẩm sinh (sụp mi bẩm sinh), xơ hóa bẩm sinh các cơ quanh mắt, loạn

dưỡng mắt hầu, tiến triển mạn tính bên ngoài mắt hầu, hẹp khe mi và nhược

cơ nặng.

-



Sa trễ do cân: đây là thể thường gặp nhất trong các loại sa trễ. Nó



liên quan đến sự tách hoặc bong cân nâng mi. Trong trường hợp kéo giãn

hoặc tác động cân nâng mi để điều trị chứng trợn mắt có thể dẫn đến sự sụp

mi mắt trên. Sa trễ mi sau mổ đục thủy tinh thể là ví dụ điển hình cho việc

sưng nề có thể làm nặng hơn tình trạng mỏng dần theo tuổi hoặc bong tách

của cân nâng mi. Tuy nhiên, mạc nâng mi có thể bị suy yếu do nhiễm trùng,

xâm nhập viêm, rách trong chấn thương, giữ nước hay sự kéo giãn. Một số

yếu tố liên quan đến sa trễ cân như tuổi tác, tình trạng sau sưng nề mi mắt

hay vùng mặt (sau mổ đục thủy tinh thể, sau chấn thương, khi mang thai),

viêm cấp hoặc mạn tính (chấn thương, viêm mơ tế bào, thâm nhiễm tế bào

Lympho, sưng mi mắt, chứng dysthyroid orbitopathy), rách trực tiếp hoặc dị

tật bẩm sinh.

-



Sa trễ do cơ học: đề cập đến tình trạng về mặt giải phẫu có sự tồn



tại của cơ nâng mi nhưng nó khơng thực sự làm việc như bình thường do sự

tác động của các yếu tố xung quanh như: trọng lực, cấu trúc giải phẫu, sẹo.

Các yếu tố liên quan đến tình trạng sa trễ do cơ học có thể kể đến như: sa

trễ vùng trán, thừa da mi trên, khối u nguyên phát hay di căn (u máu, u xơ

thần kinh, u vú, u hắc tố), thiếu hổng tổ chức (tật không nhãn cầu, tật lõm

nhãn cầu, tật mắt nhỏ), sẹo vùng kết mạc hoặc mi mắt và mắt lác.



14



Hình1.

5: Thừa da mi mắt dưới. [15]

1.2.2 Thừa mỡ mi dưới

Ba túi mỡ mi mắt dưới ngăn cách nhau bởi cơ chéo dưới và phân bố

rộng ra 2 bên. Ba túi này được gọi là túi mỡ trong hay túi mỡ cạnh mũi, túi

mỡ giữa và túi mỡ ngoài hay túi mỡ cạnh thái dương. Trong khi thăm khám,

điều quan trọng là phải nói bệnh nhân nhìn lên vì các túi mỡ dễ dàng nhận

thấy hơn khi bệnh nhân nhìn lên. Có một cách khác cũng rất hữu ích là cho

bệnh nhân nằm ra giống như lúc đang mổ để xem mức độ hướng ra sau của

các túi mỡ trước khi phẫu thuật. Tổng khối lượng chất béo trong và bên

ngoài ở mi mắt dưới được nhận thấy là tăng dần đến năm 60 tuổi sau đó

giảm dần. (trong một nghiên cứu tính toán dựa trên CT thực hiện ở 22

người Hàn Quốc). Do đó sự tăng thể tích mỡ ở mi mắt dưới là nguyên nhân

nổi bật dẫn đến sự lồi lên của mi dưới ở người châu Á. [13]



15



Mỡ mi mắt dưới



Sa trế mỡ mi dưới

Cơ vòng mi



Hình:1.6: thừa mỡ mi mắt dưới, vị trí túi mỡ tương ứng [15]

1.2.3 Phân độ rãnh lệ và các yếu tố liên quan đến sự sa trễ.

Hiểu được giải phẫu vùng rãnh lệ là rất quan trọng trong việc điều chỉnh tối

ưa những biến dạng vùng rãnh lệ. Sự biến dạng rãnh lệ (tear trough deformity –



16



TTD) đề cập đến những hình dạng khác nhau của của vùng tiếp giáp giữa mi mắt và

gò má. TTD là một trong những mối quan tâm về vấn đề thẩm mỹ lớn nhất đối với

những người mong muốn trẻ hoá vùng mắt. Như cầu chỉnh sửa TTP (tear trough

deformity - biến dạng rãnh lệ) tăng một cách đáng kể, trở thành một trong những

hình thức phổ biến nhất của phẫu thuật trẻ hoá vùng mắt.

Nhiều hệ thống phân loại đã được thảo luận để đưa ra một phương tiện khách

quan để đánh giá TTP và giúp phẫu thuật viên lựa chọn cách điều trị thích hợp

Trong năm 2010, Hirmand đã đề xuất một hệ thống phân loại TTD dựa trên đánh

giá lâm sàng (Hình 3):[14]

Nhóm I: bệnh nhân bị giảm thể tích nhẹ ở rãnh nước mắt. Những bệnh nhân

này cũng có thể có sự dát mỏng mở rộng dần về phía trung tâm má.

Nhóm II: Bệnh nhân biểu hiện sự thiếu hụt thể tích trong vùng ổ mắt ngồi

cạnh vùng ổ mắt giữa và có thể cho thấy sự thiếu hụt thể tích vừa phải ở má giữa

làm vùng trên má phẳng hơn.

Nhóm III: bệnh nhân biểu hiện rõ sự thiếu hụt toàn bộ dọc theo chi vu đường

bao quanh ổ mắt từ giữa ra đến ngồi.



Nhóm I



Nhóm II



Nhóm III



Hình 1.7: Hệ thống phân loại của Hirmand [14].

Barton và các cộng sự đã đưa ra một hệ thống phân loại dựa trên giải phẫu để

phân tích khách quan kết quả sau mổ:



17



- Lớp 0: vắng mặt các đường giữa hoặc bên ngoài phân định ranh giới của

AM (arcus marginalis – nơi bám của vách ổ mắt vào xương ổ mắt) hoặc

bờ viền ổ mắt và đường viền phẳng nhẹ. Khơng có khu vực chuyển tiếp

ở nơi giao nhau giữa ổ mát và gò má.



- Lớp I: sự hiện diện nhẹ, phảng phất của đường giữa hoặc bóng của nó và

sự chuyển mượt của từ vùng mí sang gò má



- Lớp II: tình trạng lồi lên ở mức trung bình của đường ranh giới thấy rõ

của vùng giao nhua giữa mi và gò má, ửo rộng giần từ giữa ra ngoài.



- Lớp III: sự phân chia rõ ràng của vùng ranh giới giữa ổ mắt và gò má, với

một nấc rõ ràng giữa vùng mi và gò má.

Sadick và các đồng nghiệp đã phát triển một thang đo tear trough (TTRS).

Theo TTRS, người ta thấy rằng rãnh lệ không đơn giản chỉ là biến dạng do tuổi tác.

Nó cũng thường liên quan đến việc phát triển về phía trước của phần xương gò má

trên, và có thể xảy ra phổ biến hơn ở những bệnh nhân bị thiểu sản xương hàm trên

bẩm sinh hoặc do tuổi. TTRS được phát triển để đánh giá khách quan và chủ quan

sự xuất hiện lâm sàng của rãnh lệ liên quan đến độ sâu của rãnh, tăng sắc tố mô,

mức độ sa trễ mỡ và tình trạng nhăn da. Một số điểm sau đó đã được chỉ định với

sự ngặt nghèo. [14]

1 – Đọ sâu của rãnh lệ: tính từ đỉnh phía trước của tuyến lệ đến chỗ sâu nhất

của rãnh lệ, mỗi milimet tính 1 điểm.

2- Chứng tăng sắc tố: rối loạn sắc tố mặc dù không phải là nguyên nhân trực

tiếp gây ra độ sâu của rãnh lệ tuy nhiên nó tạo ra một cảm giác về chiều sâu. Khơng

có tăng sắc tố cho 1 điểm, tăng nhẹ cho 2 điểm, tăng trung bình cho 3 điểm và tăng

sắc tố mạnh hoặc sâu cho 4 điểm., sự sậm màu da do giãn tĩnh mạch cũng được

đánh giá như tăng sắc tố.

3- Sự sa trễ của túi mỡ trọng: sự sa trể nổi bật của túi mỡ trong làm nổi bật

độ sâu của rãnh lệ. Cho điểm 1 với mức nhẹ, 2 với trung bình và 3 với mức rõ rệt.

4- Tình trạng nhăn da: tình trạng nhăn da mi dưới sẽ làm nổi bật them sự sa

trễ mỡ và độ sâu của rãnh lệ, tình trạng nhăn da được đánh giá theo thang đo từ 1



18



đến 4 (nhẹ, vừa, nặng, nghiêm trọng theo thang đo của Glogau) và cho điểm tương

ứng với từng cấp độ.

Jen vào năm 2014 đã thiết kế một phân loại động của rãnh lệ và phân loại nó

thành 3 loại, loại I tương ứng với sự co lại của cơ vòng ổ mắt ở trên rãnh lệ khi mỉm

cười. Loại II ứng với sự co lại của cơ sẽ làm giảm giảm bớt rãnh khi mỉm cười, và

Loại III là sự co lại của cơ sẽ làm biến mất rãnh lệ.

Các phân loại được mô tả trước đây của TTD chủ yếu dựa vào độ sâu, chiều

dài, tăng sắc tố và tình trạng nhăn da. Việc phân loại mới của TTD dựa trên hình

thái của rãnh lệ. Hình dạng lõm trũng xuống của ổ mắt được nhìn thấy dưới mọi

hình thức của TTD.



- Hệ thống phân loại mới được đề nghị bởi Mohammed G. Turkmani [14]

Loại 1: Đồi

Loại 2: thung lũng

Loại 3: đồi – thung lũng

Loại 4: đồi – thung lũng – đồi – thung lũng

Loại 5: hỗn hợp.

Phân loại 1 dựa trên sự thoát vị dưới da của túi mỡ phía dưới ổ mắt. Hình

dạng nhìn thấy là một đồi vồng lên, theo sau là 1 thung lũng lõm xuống.

Loại 2 bắt nguồn từ việc giảm mỡ má và thay đổi của da (sự lão hoá và lỏng

lẻo)

Đối với loại 3: đồi là sản phẩm cuả sự suy yếu của phân chia ổ mắt giữa cơ

vòng ổ mắt (giảm độ chắc và sự căng giãn của các sợi cơ) với sự giữ lại của dây

chằng. Thung lũng, đuôi của ngọn đồi, là kết quả của việc giảm mỡ và biến đổi da.

Loại 4, nguyên nhân của nó là như sau (từ đầu đến đi), đồi phía trên là do

sự cong xuống của phần mi của cơ vòng mi, thung lũng phía trên là kết quả của tác

dụng neo giữ của cơ vòng giữ lại phức hợp ranh lệ dây chằng. Đồi phía dưới là do

sự võng xuống của phần ổ mắt của cơ vòng mi, và phần cuồi (thung lũng thấp nhất)

là do sự giảm mỡ và biến đổi da



19



Loại 5 là kết quả của sự kết hợp giữa 1 loại ở 1 bên và các loại khác ở phía

bên kia.



Hình 1.8: Phân loại của Mohammed G. Turkman [14]

1.3 Các phương pháp phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ mi dưới

1.3.1 Tạo hình mí dưới theo đường mổ qua da.

Phương pháp này sử dụng đường mổ ở bờ dưới mi dưới, bóc tách và

phẫu tích qua cơ vòng mi để tìm đến 3 túi mỡ mi dưới. Các túi mỡ sẽ được

bộc lộ và được lấy bớt một phần để giảm phần lồi của mi dưới. Sau khi cầm

máu kỹ và kiểm soát các lớp phẫu tích, phẫu thuật viên sẽ xác định lượng da

thừa ở cả tư thế nhìn thẳng và nhìn lên trước khi cắt bỏ da. Khâu đóng vết

mổ bằng mũi khâu đơn hoặc khâu vắt. Cắt chỉ sau 5 ngày. [15, 16]

Ưu điểm của phương pháp này là có thể lấy được cả mỡ và da thừa.

Đường mổ rộng, phẫu trường rõ ràng cho phép thao tác lấy mỡ dễ dàng.



20



Phương pháp này thường được ứng dụng với những bệnh nhân có sa trễ mỡ

kèm thừa da nhiều. Những bệnh nhân lớn tuối.

Nhược điểm là để lại một vết sẹo ngoài da ở bờ dưới mi. Thường tiến

triển sẹo là tốt và khó bị nhìn thấy trừ một vài trường hợp cơ địa sẹo bất ổn.

Ngoài ra, phương pháp này thường dẫn đến một biến chứng hay gặp là trễ

mi sau phẫu thuật tạo hình mi dưới do cắt quá nhiều da thừa hoặc do sự suy

yếu của cân mạc mi dưới. Việc khắc phục tình trạng này tương đối khó khăn

và cũng là một thách thức đối với các phẫu thuật viên.



Hình1.9: Phẫu thuật tạo hình mi dưới qua đường mổ qua da [24]

1.3.2 Tạo hình mi mắt qua đường kết mạc.

Tạo hình mi qua đường kết mạc sử dụng đường rạch qua kết mạc

mi dưới. Qua đường rạch, phẫu thuật viên có thể phẫu tích rõ vách ổ mắt và

mở qua vách để tiếp cận các túi mỡ mi dưới. Các túi mỡ được lấy ra, giải

phóng khỏi cơ chéo dưới và được cắt bỏ một phần để giảm phần lồi mi

dưới. Sau khi cầm máu kỹ thì đường rạch qua kết mạc có thể được đính bởi

một mũi chỉ nilon 7.0 hoặc để lành thương tự nhiên. Phương pháp này



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Đặc điểm lâm sàng biến dạng mi mắt dưới

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×