Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ung thư lưỡi giai đoạn I, II tại bệnh viện K từ năm 2010 - 2016.

Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ung thư lưỡi giai đoạn I, II tại bệnh viện K từ năm 2010 - 2016.

Tải bản đầy đủ - 0trang

3



CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giải phẫu và liên quan định khu

Lưỡi là một bộ phận dùng để nếm, nhai, nuốt, nói. Lưỡi nằm trong

khoang miệng gồm có hai mặt (trên và dưới), hai bờ (phải và trái), một đầu

nhọn phía trước và một đáy ở phía sau tương đối cố định [7], [8].

1.1.1. Hình thể ngồi

- Đỉnh lưỡi: tự do, đối diện với răng cửa.

- Bờ lưỡi là một bờ vòng, dày, liên quan ở mỗi bên với răng và lợi.

- Rễ lưỡi là phần dính vào sàn miệng và được cột chặt bởi các cơ đi từ

xương hàm dưới và xương móng tới.

- Mặt trên lưỡi: được chia làm 2 phần, 2/3 trước nằm trong khoang

miệng chính, 1/3 sau trong phần hầu miệng, ngăn cách nhau bởi một rãnh chữ

V, đỉnh quay ra sau gọi là rãnh tận. Đỉnh rãnh có lỗ tịt, là di tích của ống giáp

lưỡi trong bào thai.

+ Phần trước rãnh có một rãnh giữa, niêm mạc có nhiều nhú rất nhỏ gọi

là nhú lưỡi.

+ Phần sau rãnh tạo nên thành trước của phần hầu miệng, niêm mạc

phủ phần này khơng có các nhú nhưng có nhiều tuyến thanh dịch và có

nhiều nang bạch huyết nằm dưới niêm mạc. Những nang này tập trung tạo

thành hạnh nhân lưỡi.

- Mặt dưới lưỡi nhẵn, khơng có nhú và dính với nền miệng bởi một nếp

niêm mạc ở đường giữa, gọi là hãm lưỡi.

1.1.2. Cấu tạo

Lưỡi được cấu tạo bởi một khung xương sợi và các cơ vân, phủ bằng

một lớp niêm mạc.

- Khung xương sợi của lưỡi gồm xương móng và hai màng sợi (cân



4



lưỡi và vách lưỡi).



Hình 1.1: Mặt trên lưỡi

(Trích trong Atlas – Giải phẫu người của Frank H. Netter) [9]

+ Cân lưỡi nằm theo mặt phẳng đứng ngang, cao 1 cm, đi từ bờ trên

xương móng lên trên và lẫn vào rễ lưỡi.

+ Vách lưỡi nằm theo mặt phẳng đứng dọc, hình liềm, dính vào chính

giữa mặt trước cân lưỡi. Vách lưỡi ngăn cách các cơ của lưỡi thành hai nhóm

phải và trái.

- Các cơ của lưỡi bao gồm các cơ nội tại (cơ phát sinh và tận hết ngay

trong lưỡi) và các cơ ngoại lai (đi từ phần lân cận tới tận hết ở lưỡi). Hầu hết

các cơ của lưỡi là các cơ đôi.

+ Các cơ nội tại gồm cơ dọc trên, cơ dọc dưới, cơ ngang lưỡi, cơ đứng lưỡi.

+ Các cơ ngoại lai gồm cơ cằm lưỡi, cơ móng lưỡi, cơ sụn lưỡi, cơ trâm lưỡi.



5



1.1.3 .Mạch máu

Thần kinh lưỡi

Hạch dưới hàm

Động mạch lưỡi sâu và các tĩnh

mạch đi kèm



Cơ trâm lưỡi

Cơ khẩu cái lưỡi

Dây chằng trâm móng

Cơ trâm lưỡi

Cơ móng lưỡi

Động mạch lưỡi



Động mạch hãm lưỡi



Động mạch cảnh ngồi

Tĩnh mạch cảnh trong



Ống tuyến dưới hàm



Tĩnh mạch mặt

Thân chung của các tĩnh

mạch mặt



Động mạch và tĩnh mạch dưới lưỡi



Hình 1.2: Mạch máu, thần kinh và thành phần liên quan

(Trích trong Atlas – Giải phẫu người của Frank H. Netter)[9]

- Động mạch: động mạch lưỡi là nhánh của động mạch cảnh ngồi.

Động mạch này chia làm hai ngành chính: các nhánh lưng lưỡi và động mạch

lưỡi sâu.

- Tĩnh mạch: máu từ lưỡi theo các tĩnh mạch lưng lưỡi và tĩnh mạch lưỡi sâu đổ

vào tĩnh mạch lưỡi rồi đổ vào tĩnh mạch mặt trước khi về tĩnh mạch cảnh trong.

1.1.4. Thần kinh

- Thần kinh vận động các cơ của lưỡi là thần kinh dưới lưỡi (dây XII, dây IX).

- Thần kinh cảm giác gồm dây lưỡi, dây thiệt hầu, dây thanh quản trên.

+ Phần trước rãnh của lưỡi được chi phối bởi thần kinh lưỡi (nhánh của thần

kinh hàm dưới - V3), cảm giác chung. Thần kinh này còn mang theo các sợi của

thừng nhĩ, nhánh của thần kinh trung gian để cảm giác vị giác cho 2/3 trước lưỡi.



6



+ Phần sau rãnh của lưỡi tiếp nhận cảm giác chung và cảm giác vị giác

bằng các nhánh lưỡi của thần kinh IX.

1.1.5. Giải phẫu hệ thống hạch vùng đầu mặt cổ

- Tuần hồn bạch huyết của lưỡi rất phong phú, có nhiều vòng nối giữa

mạng lưới dưới niêm mạc với mạng lưới trong cơ và hai bên lưỡi:

+ Vùng đầu lưỡi dẫn về các hạch dưới cằm.

+ 2/3 trước lưỡi dẫn về các hạch dưới cằm và dưới hàm, rồi từ đây

về các hạch nhóm sau dưới và hạch cảnh.

+ 1/3 sau lưỡi dẫn về các hạch trên của chuỗi hạch nhóm sau dưới.

- Có sự tiếp nối phong phú ngang qua đường giữa các mạch bạch huyết

của 1/3 sau lưỡi, do đó một khối u ác tính ở một bên dễ di căn sang các hạch

bên đối diện. Nhưng ở 2/3 trước lưỡi có ít mạch tiếp nối ngang nên ít di căn

sang hạch cổ bên đối diện nếu bệnh chưa đến giai đoạn muộn [7],[8].

- Hạch bạch huyết vùng cổ có khoảng 300 hạch vùng, chúng có thể được

phân loại theo nhiều cách khác nhau [10]. Henri Rouvire đề ra một phân loại có

tầm ảnh hưởng lớn vào năm 1938, tuy nhiên, hệ thống này dựa trên các mốc giải

phẫu tìm thấy trong phẫu thuật, làm cho nó khơng thực sự phù hợp. Gần đây, hệ

thống phân loại được đề xuất dựa trên mơ xung quanh có thể quan sát được thơng

qua chẩn đốn hình ảnh. Hệ thống phân loại, dựa vào phát minh bởi Hiệp hội ung

thư Hoa Kỳ là hệ thống được sử dụng nhiều nhất để phân chia các hạch [10], [11].

Sự phân chia các vùng hạch rất quan trọng đối với ung thư đầu cổ, là cơ

sở cho việc điều trị và nạo vét hạch [8], [10], [12].



7



Hình 1.3. Các nhóm hạch cổ

(Trích trong" Neck dissection classification update"của Robbins K.T,

Clayman G, Levine PA) [10]

Nhóm I. Nhóm hạch dưới cằm, dưới hàm

IA. Nhóm hạch dưới cằm : Các hạch nằm trong vùng giới hạn của bụng

trước cơ nhị thân trên xương móng và đường giữa.

IB. Nhóm dưới hàm : Các hạch nằm trong vùng giữa bụng trước, bụng

sau cơ nhị thân và thân xương hàm dưới.

Nhóm II. Nhóm hạch cảnh cao

Các hạch nằm trong khoảng 1/3 trên của tĩnh mạch cảnh trong, vùng dây

thần kinh gai XI nằm sát cột sống, ngang mức chia đôi động mạch cảnh (mốc

phẫu thuật) hoặc xương móng (mốc giải phẫu lâm sàng) đến nền sọ. Giới hạn

sau là bờ sau của cơ ức đòn chũm, giới hạn trước là bờ trước của cơ ức móng.

Nhóm này được chia ra IIa, IIb, bởi thần kinh XI.

Nhóm III. Nhóm hạch cảnh giữa

Các hạch nằm trong khoảng 1/3 giữa của tĩnh mạch cảnh trong, xuất

phát từ chỗ chia đôi động mạch cảnh, ở trên cơ vai móng (mốc phẫu thuật)

hoặc ở dưới khe nhẫn giáp (khi thăm khám). Giới hạn sau là bờ sau của cơ ức

đòn chũm, giới hạn trước là bờ bên của cơ ức móng.



8



Nhóm IV. Nhóm hạch cảnh dưới

Các hạch nằm trong khoảng 1/3 dưới của tĩnh mạch cảnh trong, xuất

phát từ phía trên cơ vai móng đến phía dưới xương đòn. Giới hạn sau là bờ

sau của cơ ức đòn chũm, giới hạn trước là bờ bên của cơ vai móng. Chia làm

hai nhóm.

Nhóm IVa: Dọc theo tĩnh mạch cảnh trong và sâu dọc đầu ức của cơ ức

đòn chũm.

Nhóm IVb: Dọc theo đầu đòn của cơ ức đòn chũm.

Hạch nhóm II, III, IV gọi là nhóm cảnh gồm các hạch gắn với tĩnh

mạch cảnh trong, mỡ, tổ chức liên kết ở phía trong và phía sau của cơ ức đòn

chũm. Đặc biệt, nhóm II liên quan mật thiết với dây thần kinh XI.

Nhóm V. Nhóm hạch trước tam giác cổ sau( nhóm gai)

Gồm những hạch khư trú dọc theo nửa thấp của thần kinh XI và động

mạch cổ ngang.

Giới hạn trước là bờ sau cơ ức đòn chũm. Phía sau là bờ trước cơ

thang, phía dưới là xương đòn.

Bụng dưới cơ vai móng chia nhóm V thành 2 nhóm.

Nhóm Va: Hạch chạy dọc theo thần kinh XI

Nhóm Vb: Hạch chạy dọc động mạch cổ ngang

Nhóm VI. Nhãm h¹ch cỉ tríc

Gồm các hạch trước và sau khí quản, hạch trước nhẫn (Delphian) và

các hạch quanh giáp, gồm cả các hạch dọc theo dây thần kinh thanh quản

quặt ngược. Giới hạn trên là xương móng, giới hạn dưới là hừm trờn xng

c, gii hn bên là các ng mch cảnh chung và giới hạn sau là các

c©n trước sống.



9



1.2. Mô học, sinh lý học

1.2.1. Mô học

- Lưỡi là một khối cơ vân được bao bọc bởi niêm mạc miệng.

- Niêm mạc lợp mỗi vùng của lưỡi có đặc điểm riêng:

+ Mặt dưới lưỡi: lợp bởi niêm mạc mỏng, nhẵn.

+ Mặt trên lưỡi: cũng lợp bởi niêm mạc nhưng có nhiều nhú cao lồi lên

mặt lưỡi.

- Niêm mạc trên được chia thành 2 phần bởi một đường hình chữ V gọi

là V lưỡi.

+ Phần trước: từ đầu lưỡi đến V lưỡi gọi là phần phát âm của lưỡi. Phần

này có những nhú gọi là nhú lưỡi hay gai lưỡi có hình dáng khác nhau. Trong

lớp biểu mơ lợp thành bên của một số nhú lưỡi có những nụ vị giác.

+ Phần sau: từ V lưỡi đến cuống lưỡi có đặc điểm là trong lớp đệm có

nhiều nang bạch huyết và những khe biểu mơ. Đó là hạch nhân lưỡi.

Nhú lưỡi (gai lưỡi)

Ở 2/3 trước của lưỡi người ta phân biệt 4 loại nhú.

- Nhú hình sợi: là phần lồi lên của niêm mạc lưỡi, nằm rải rác ở 2/3

trước mặt trên và 2 bên bờ lưỡi.

- Nhú hình nấm: được gọi là nhú hình nấm vì chúng lồi cao lên trên bề

mặt lưỡi.

- Nhú hình đài: bề mặt của nhú thấp hơn bề mặt của niêm mạc lưỡi.

- Nhú hình lá: là những nếp gấp song song của niêm mạc lưỡi, thấy ở 2

bên bờ lưỡi gần cuống lưỡi.

Nụ vị giác

Nụ vị giác là những khối hình bầu dục nằm trong biểu mô lợp thành bên

các nhú lưỡi.

Ở biểu mô nụ vị giác có hai loại tế bào: tế bào chống đỡ và tế bào vị giác.



10



Hạch nhân lưỡi

- Ở phần gốc lưỡi có những điểm tròn nổi gờ lên mặt lưỡi. Đó là những

điểm, những nang bạch huyết và những hạch nhân lưỡi. Những nang bạch

huyết, những hạch nhân lưỡi nằm dưới biểu mơ lợp cuống lưỡi, phía sau V

lưỡi.

- Biểu mô lợp hạch nhân lưỡi là biểu mô lát tầng khơng sừng hóa, có

những chỗ lõm sâu tạo ra những khe sâu gọi là khe hạch nhân, ở những khe

hạch nhân thường có các ống bài xuất của các tuyến mở vào.

1.2.2. Sinh lý

- Lưỡi là một cơ quan dùng để nhai, nuốt, nói và nếm (cơ quan nhận cảm

vị giác)

- Trên lưỡi có các nhú vị giác và xúc giác. Nhú vị giác có hình nấm nằm

ở trước chữ V lưỡi, còn nhú xúc giác có hình dài nằm ở sau chữ V lưỡi.

Cảm giác nếm là một cảm giác hỗn hợp phức tạp, thường phối hợp với

khứu giác. Bốn cảm giác cơ bản là nếm là: mặn, ngọt, chua, đắng. Mặt trên

lưỡi có những vùng nhận cảm riêng với từng cảm giác.

- Cơ chế của vị giác còn chưa được biết rõ, nhưng bản chất cấu trúc phân

tử của vật có lẽ khơng liên quan đến cảm giác vị giác.

1.3. Dịch tễ học và nguyên nhân gây bệnh

1.3.1. Dịch tễ học

Ung thư lưỡi thường gặp ở lứa tuổi từ 50-60, nam gặp nhiều h ơn

nữ, tỷ lệ nam/nữ =3/1 [13]. Theo thống kê của Hiệp hội ung th ư Hoa Kỳ,

trên toàn thế giới hàng năm có khoảng 263.900 ca m ới mắc và khoảng

128.000 trường hợp tử vong [11],[14]. Tại Mỹ, năm 2009 có 10.530

trường hợp ung thư mới mắc, 1900 trường hợp tử vong và tỷ lệ nam/n ữ

=2/1 [14]. Tại Pháp ung thư khoang miệng chiếm t ừ 11-16% ung th ư ở

nam giới, khoảng 75% ung thư khoang miệng gặp ở nam giới và trong đó



11



18% là ung thư lưỡi. Ấn Độ là nước có tỷ lệ mắc UTL cao nhất [15].

- Theo ghi nhân ung thư của Bùi Diệu năm 2010 cho thấy: hàng năm có

khoảng 3500 trường hợp ung thư khoang miệng mới mắc trong đó tỷ lệ mắc

ung thư khoang miệng ở nam: 4,6/100000 dân/năm, ở nữ: 1,7/100000

dân/năm[16].



Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ mắc và tử vong chuẩn của UT khoang miệng tại khu vực

Đông Nam châu Á

1.3.2. Nguyên nhân gây bệnh

Đa số các trường hợp ung thư lưỡi không tìm được ngun nhân bệnh sinh

nhưng người ta thấy có một số yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh bao gồm:

+ Hút thuốc lá: Nghiên cứu của Gehanno cho thấy nếu hút 15 điếu / ngày

kéo dài 20 năm, nguy cơ mắc bệnh ung thư cao gấp 5 lần so với người không

hút thuốc

+ Rượu: Theo Nguyễn Văn Vi và CS thấy nguy cơ mắc UTL do rượu

đứng hàng thứ 3 sau ung thư môi và niêm mạc má, gặp ở nam giới chiếm tỷ lệ



12



74,6% [17].

Theo tác giả Brian nếu hút thuốc và uống rượu thì nguy cơ mắc ung thư

đầu cổ tăng lên 10-15 lần [18].

+ Nhai trầu: là yếu tố nguy cơ trong ung thư khoang miệng. Người ăn trầu

có nguy cơ mắc cao gấp 4-35 lần so với người không ăn trầu [19]

- Thành phần chính miếng trầu gồm: lá trầu, cau (tươi hoặc khơ), vôi trắng

hoặc đỏ và thành phần phụ khác như vỏ cây, xỉa thêm thuốc vào miếng trầu.

- Theo các công trình khoa học trên thế giới đã đưa bằng chứng kết luận cau

là chất sinh ung thư: các chiết xuất từ cau như là các Alkaloides như (Arecoline,

Arecaidine) có khả năng gây ung thư và xơ hóa dưới niêm mạc miệng.

- Dùng vơi đỏ có nguy cơ ung thư cao hơn dùng vôi trắng, phù hợp với nhận

định cho rằng trong thành phần vơi đỏ có chứa Anilin là chất sinh ung thư.

- Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Vi và CS cho thấy ung thư lưỡi do

nhai trầu đứng thứ 3 sau ung thư môi và niêm mạc má.

+ Tình trạng vệ sinh răng miệng: vệ sinh răng miệng kém, hàm răng giả

khơng tốt, răng mẻ kích thích lâu ngày đưa đến dị sản và ung thư.

+ Nhiễm vi sinh vật: nhiễm vi rút HPV đặc biệt là type 2, 11, 16 đã được

chứng minh là thấy nhiều trong những bệnh nhân bị ung thư khoang miệng [19].

+ Chế độ dinh dưỡng: chế độ dinh dưỡng thiếu vitamin A, E, D, sắt, hoa

quả cũng là yếu tố nguy cơ của bệnh ung thư khoang miệng [15], [20].

1.4. Các tổn thương tiền ung thư, sự tiến triển tự nhiên của ung thư lưỡi

1.4.1. Các tổn thương tiền ung thư

Một loạt các thay đổi bệnh lý từ tổn thương tiền ung thư đến ung thư có

thể xảy ra, trong số đó các tổn thương tiền ung thư bao gồm : loạn sản, hồng

sản và bạch sản. Các tổn thương này chưa phải là ung thư, song có nguy cơ

chuyển thành ung thư khi có tác nhân sinh ung thư tác động vào.



13



+ Loạn sản : có đặc điểm mơ bệnh học là sự hiện diện của các

phân bào nguyên nhiễm và hạt nhân nổi. Dầy toàn bộ niêm mạc th ường

được gọi là ung thư biểu mô tại chỗ. Loạn sản gắn liền với tiến tri ển

đến ung thư xâm lấn từ 15-30% các trường hợp.

+ Hồng sản : được đặc trưng bởi các mảng màu đỏ trên bề mặt

ranh giới với niêm mạc bình thường. Thường kết hợp với loạn sản bi ểu

mơ và có liên quan với ung thư biểu mô tại chỗ hoặc ung th ư xâm lấn lên

đến 40% các trường hợp.

+ Bạch sản : đặc trưng bởi quá sản sừng, liên quan tăng sản bi ểu

mô. Trong trường hợp khơng có loạn sản tỉ lệ biến đổi ác tính ít ch ỉ

khoảng 5 %

Vậy những người có nguy cơ cao như: trên 45 tuổi, uống rượu, hút

thuốc, ăn trầu, kèm xuất hiện các mảng trắng hoặc đỏ tổn tại trên 2 tuần

sau khi đã điều trị khơng khỏi thì cần đi khám bác sỹ chun khoa xỏc

nh bnh.

Ngy nay tiến bộ y học đã xác định đợc một số gen liên

quan đến ung th lỡi. Ví dụ: tăng biểu hiện quá mức gen sinh

ung th Bcl-2 nằm trên vị trí chuyển đoạn đảo ngợc của

nhiễm sắc thể 18, tăng biểu hiện quá mức của gen chống lại

sự chết theo chơng trình của tế bào Bax, hoặc đột biến

gen ức chế ung th P53 [11], [16].

1.4.2. Sự tiến triển tự nhiên

- Sự tiến triển của ung thư lưỡi có thể theo hai kiểu là lồi ra ngoài hoặc

thâm nhiễm.

Triệu chứng ban đầu là đau, mặc dù có nhiều trường hợp có thể khơng

đau. Sự khó khăn trong khi nói và nuốt thì thường xun xảy ra. Thường có



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ung thư lưỡi giai đoạn I, II tại bệnh viện K từ năm 2010 - 2016.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×