Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhận xét: có sự khác biệt về tỷ lệ, phân bố kết quả tốt, xấu giữa các nhóm mức độ sụp mi với p<0,05. Càng sụp mi nặng thì kết quả phẫu thuật càng kém.

Nhận xét: có sự khác biệt về tỷ lệ, phân bố kết quả tốt, xấu giữa các nhóm mức độ sụp mi với p<0,05. Càng sụp mi nặng thì kết quả phẫu thuật càng kém.

Tải bản đầy đủ - 0trang

54



3.4. Mức độ hài lòng của bệnh nhân

Bảng 3.14. Mức độ hài lòng của bệnh nhân

Mức độ



Số mắt



Tỷ lệ %



Rất hài lòng



52



62,7



Hài lòng



26



31,3



Chấp nhận được



5



6,0



Khơng chấp nhận



0



0



Tổng



83



100



Nhận xét: số bệnh nhân rất hài lòng chiếm 62,7% số bệnh nhân hài lòng

chiếm 31,3% và chấp nhận được là 6,0%.

3.5. Biến chứng

3.5.1. Trong khi phẫu thuật

Bảng 3.15. Biến chứng trong khi phẫu thuật

Biến chứng



Số mắt



Tỷ lệ %



Chảy máu



10



12,0



Rách cơ nâng mi



1



1,2



Rách kết mạc



0



0



Tổng số



11



13,2



Nhận xét: bảng 3.18 trên cho thấy bệnh nhân có biến chứng chảy máu chiếm

12,0%, rách cơ nâng mi chiếm 1,2%.

3.5.2. Biến chứng gần sau phẫu thuật

Bảng 3.16.Biến chứng gần sau phẫu thuật

Biến chứng



Số mắt



Tỷ lệ%



55



Chảy máu

Bầm tím

Nhiễm khuẩn

Xuất huyết dưới kết mạc

Sưng nề mi kéo dài



0

10

0

0

25



0

12,0

0

0

30,1



Nhận xét: Trong bảng này số bệnh nhân có biến chứng bầm tím mi chiếm

12,0% và sưng nề mi kéo dài chiếm 30,1%.

3.5.3. Biến chứng muộn sau phẫu thuật

Bảng 3.17. Biến chứng muộn sau phẫu thuật

Biếnchứng

Song thị

Sụp mi thứ phát sau phẫu thuật

Hở mi

Khô mắt

Viêm loét giác mạc, sẹo giác mạc



Số mắt

0

1

0

0

0



Tỷ lệ %

0

1,2

0

0

0



Nhận xét: Trên bảng này thì số bệnh nhân bị sụp mi tái phát chiếm 1,2%

trong nghiên cứu.

3.5.4. Biến chứng khác

Bảng 3.18. Biến chứng khác



Chỉnh non

Chỉnh quá mức

Sụp mi tái phát



Số mắt



Tỷ lệ %



2

0

1



2,4

0

1.2



Nhận xét: trong nghiên cứu của chúng tơi sau phẫu thuật số bệnh nhân có

biến chứng chỉnh non là 2,4% và sụp mi tái phát chiếm 1,2%.



56



3.6. Mức độ hài lòng của bệnh nhân

Bảng 3.19. Mức độ hài lòng của bệnh nhân

Mức độ

Rất hài lòng

Hài lòng

Chấp nhận được

Không chấp nhận



Số mắt

52

26

5



Tỷ lệ %

62.7

31.3

6.0



0



0



Tổng



83



100



Nhận xét: Tỷ lệ hài lòng trong nghiên cứu của chúng tơi là 94 % (trong đó rất

hài lòng có 52 trường hợp chiếm 62,7% và hài lòng có 26 trường hợp chiếm

31,3%) và chấp nhận được là 5 trường hợp chiếm 6%.



57



Chương 4

BÀN LUẬN

Nghiên cứu được tiến hành trên 43 bệnh nhân với 83 mắt với chẩn đoán

sụp mi tuổi già và được phẫu thuật bằng phương pháp đính lại điểm bám cân

cơ nâng mi trên với thời gian theo dõi sau phẫu thuật 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng.

Qua kết quả nghiên cứu trên chúng tôi bàn luận về một số vấn đề sau:

4.1. Một số đặc điểm lâm sàng

4.1.1. Tuổi và giới

Theo nghiên cứu của các tác giả Collin (1985) [37], Corowell (1976)

[25], Meth (1985) [36] thì sụp mi tuổi già xuất hiện từ từ và tăng dần theo

tuổi. Trong nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3.1) với 43 bệnh nhân xếp vào 3

nhóm tuổi từ 60-65 có 9 bệnh nhân (20,9%), nhóm từ 66-70 là 10 bệnh nhân

(23,3%) và nhóm >70 có 24 bệnh nhân (55,8%). Như vậy phần lớn bệnh nhân

sụp mi ở lứa tuổi > 66 tuổi. Qua đó thấy rằng nghiên cứu của chúng tôi cũng

phù hợp với nghiên cứu của các tác giả trên.

Bảng 3.2 và biểu đồ 3.2 cho thấy tỷ lệ nam và nữ có sự chênh lệch nam

là 18 nữ là 25.Tuy nhiên chúng tôi không đặt ra vấn đề kiểm định sự khác biệt

giữa hai tỷ lệ này do số lượng bệnh nhân ít, bệnh nhân không được chọn một

cách ngẫu nhiên mà chỉ giới hạn ở những bệnh nhân tự đến viện. Việc xác

định tỷ lệ nam nữ bị sụp mituổi già cần phải được tiếp tục nghiên cứu trên số

lượng bệnh nhân lớn hơn về sau này để xác định sụp mi tuổi già theo giới

tính. Qua bảng 3.2 chúng tơi nhận thấy ngồi mục đích phẫu thuật giải quyết

vấn đề về chức năng thì nhu cầu giải quyết về thẩm mỹ cũng rất lớn.



58



4.1.2. Hình thái sụp mi

Bảng 4.1. So sánh hình thái sụp mi

Hình thái

sụp mi

Tác giả

Mehta (1985) [36]

Tyers (1984) [35]

Trần Đức Nghĩa (2005) [42]

Phan Thị Tám (2017)



Một mắt



Hai mắt



Tổng số



71 (42,3%)

10 (40%)



97 (57,7%)

15 (60%)



168(100%)

25(100%)



11 (44%)

3 (7%)



14 (56%)

40 (93%)



25(100%)

43(100%)



So sánh với các tác giả khác chúng tôi nhận thấy tỷ lệ sụp mi hai mắt

của chúng tôi cao hơn tuy nhiên sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê khi p<

0,05. Theo Tyes (1985) [8] đưa ra cơ chế bệnh sinh của sụp mi tuổi già là do

tổn thương tại các tế bào cân cơ nâng mi, vì thế trên lâm sàng sụp mi thấy

biểu hiện ở cả hai mắt. Trong nghiên cứu của chúng tơi có 40 bệnh nhân sụp

mi cả hai mắt chiếm 93%, chỉ có 3 bệnh nhân sụp mi một mắt chiếm 7%.

4.1.3. Thời gian xuất hiện sụp mi

Trong nghiên cứu 43 người có 6 người xuất hiện sụp mi từ 1-3 năm

năm có 36 người xuất hiện sụp mi trên trong thời gian trên 3-5 năm chiếm

83.7% và có 1 người đã chịu đựng sự ảnh hưởng của sụp mi trong thời gian

trên 5 năm (2.3%). Con số này chứng tỏ quan điểm của người dân Việt Nam

về phẫu thuật sụp mi để cải thiện chức năng và thẩm mỹ còn hạn chế, hoặc do

điều kiện hồn cảnh nên nhiều người khơng thể đến phẫu thuật sớm, chấp

nhận các mức độ ảnh hưởng. Số lượng này trên thực tế còn nhiều và cần được

tư vấn cụ thể hơn nữa để tiếp cận với điều trị nhằm phục hồi cả chức năng và

thẩm mỹ mi trên cho bệnh nhân.

4.1.4. Mức độ sụp mi trước phẫu thuật



59



Khi biên độ cân cơ nâng mi còn tốt, mức độ sụp mi thường là rất nhẹ.

Mức độ sụp mi nặng chỉ xuất hiện ở những bệnh nhân có tổn thương thực thể

ở cân cơ nâng mi.

Theo Werb (1985) [27], đặc điểm của sụp mi tuổi già là mi trên thường

sa xuống 3 – 4 mm và hoạt động của cơ nâng mi là bình thường tức là tương

đương với sụp mi mức độ vừa, chính vì vậy trên lâm sàng sụp mi tuổi già

thường gặp với 2 mức độ là sụp mi nhẹ và vừa. Kết quả chúng tơi nghiên cứu

trên 83 trường hợp thì sụp mi mức độ nhẹ có 20 chiếm 241%, mức độ trung

bình có 60 chiếm 72.3% và sụp mi mức đọ năng có 3 trường hợp chiếm 3.6%

phù hợp với nhận định và kết quả của các tác giả đã nghiên cứu trên thế giới.

4.1.5. Tình trạng thừa da mi

Trong nghiên cứu của mình Theo Tyes (1985) [8], Mehta (1985) [9],

Collin 1985) [37] cũng nhận thấy có tới 100% số bệnh nhân sụp mi tuổi già

có tình trạng thừa da mi.

Tác giả Trần An (2005)[11] nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và phẫu

thuật điều trị sụp mi tuổi già, nhận thấy cõ 100% số bệnh nhân sụp mi tuổi già

có thừa da mi trên.

Trong nghiên cứu của chúng tơi có 83 mắt thì 100% có thừa da mi trên.

Như vậy kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu

của các tác giả khác ở Việt nam và trên thế giới.

4.2. Mối liên quan giữa mức độ sụp mi và chức năng cơ nâng mi trên

Mức độ sụp mi và chức năng cơ nâng mi trên là hai dữ kiện quan trọng

nhất cần phải ghi nhận vì nó quyết định sự thành công của phẫu thuật. Lê

Tuấn Dương (2003), Liu (1993), và Baek (2003) đã có nhiều nghiên cứu về

mối tương quan này [43-45]. Sụp mi nhẹ thường đi kèm chức năng cơ nâng



60



mi còn tốt và ngược lại. Nghiên cứu của chúng tôi cũng thu được các kết quả

tương tự (Bảng 3.7). Tuy nhiên để khảng định mối liên quan này trên bệnh

nhân sụp mi tuổi già chúng tôi cần nghiên cứu với mẫu lớn hơn.

4.2.1. Một số tổn thương khác có thể gặp trên bệnh nhân sụp mi tuổi già

Trong 83 mắt được phẫu thuật ở nghiên cứu của chúng tơi thì có 34

mắt(41%) đến viện vì lý do sụp mi kèm theo nhìn mờ, khi khám phát hiện có

kèm theo đục thủy tinh thể, glơcơm có 4 mắt (4.8%), 2 mắt mộng (2.4%) và 1

mắt có sẹo giác mạc.



A



B



C



Hình 4.1. Kết quả mổ sụp mi tuổi già

A. Trước mổ. B. Sau mổ. C. Sau mổ 3 tháng

Hình 4.1 minh họa bệnh nhân nữ 69 tuổi đến viện khám vì lý do sụp mi

nhìn mờ, qua khám bệnh phát hiện bệnh nhân sụp mi tuổi già độ III, đục thủy

tinh thể gần hòan tồn 2 mắt. Bệnh nhân này nếu khơng được phẫu thuật sụp

mi thì sau mổ thủy tinh thể thị lực không cải thiện được nhiều do sụp mi che

khuất tầm nhìn.Vì vậy các bệnh nhân sụp mi tuổi già nặng, nên phẫu thuật sụp

mi trước khi tiến hành các phẫu thuật khác (trừ phẫu thuật cấp cứu) để làm

tăng hiệu quả của phẫu thuật.

Quan sát mức thị lực trên bảng 3.10 thì chúng tơi thấy những bệnh nhân

có thị lực kém dưới 20/200 vẫn còn khá cao có 24 mắt chiếm 24,1%, chủ yếu

do đục thủy tinh thể kết hợp với sụp mi mà chưa được phẫu thuật.

4.2.2. Kết quả sau phẫu thuật



61



Trong nghiên cứu của chúng tơi có 83 mắt được nghiên cứu, kết quả đạt

được sau phẫu thuật tốt chiếm 65,1%, khá chiếm 30,1%, trung bình chiếm

4,8%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của các tác

giả trên thế giới và Việt nam.

4.2.3. Cải thiện mức độ sụp mi qua thời gian theo dõi

Tỷ lệ thành công sau mổ 1 tuần trong nghiên cứu của chúng tôi là

97,6%. Có hai trường hợp vẫn còn sụp mi nhẹ với tỷ lệ 2,4%. Trong đó 5 trường

hợp chỉnh non (MRD1 = 2,5 - 3) nhưng người bệnh hài lòng với kết quả phẫu

thuật và khơng có nhu cầu phẫu thuật lại. Còn một trường hợp xuất hiện triệu

chứng sụp mi tái phát sau mổ một tuần. Trường hợp này bị xuất huyết trong mổ

và mi bị sưng nề sau mổ. Bệnh nhân không thực hiện chườm lạnh sau mổ, đó là

lý do cần lưu ý khi phẫu thuật sụp mi. Theo một số tác giả phẫu thuật sụp mi đòi

hỏi phải cầm máu tốt để cho tỷ lệ thành công đạt yêu cầu.

Hiện tượng sụp mi không được điều chỉnh đầy đủ sau phẫu thuật đã

được nhiều tác giả đề cập đến. Chúng tôi thường phẫu thuật lại lần hai sau 6

tuần, khi theo dõi thấy sụp mi không thun giảm. Chúng tơi đánh giá độ sụp

mi trung bình (MRD1) sau mổ 1 tháng vì lúc này mi đã hết hồn tồn phù nề

và thấy có sự cải thiện rõ rệt.

Theo dõi độ sụp mi sau 1 và 3 tháng chúng tôi thấy kết quả vẫn ổn

định.Tỷ lệ thành công về giải phẫu phẫu là 96,4%.

Độ rộng khe mi tăng đi kèm với tình trạng sụp mi giảm và ngược lại,

tuy nhiên ở một số trường hợp sau phẫu thuật có độ rộng khe mi khơng lớn

song vẫn đạt được sự hài lòng của người bệnh khi hai mắt đều bị sụp ở các

mức độ khác nhau mà bệnh nhân chưa có nhu cầu phẫu thuật hoặc chấp nhận

mắt sụp còn lại [46]. Trong nghiên cứu của chúng tơi độ rộng khe mi có sự

cải thiện rõ rệt ở cả ba nhóm biên độ cơ nói lên sự cải thiện về giải phẫu sau



62



mổ. Trong phẫu thuật sụp mi một chỉnh non thường dễ được chấp nhận hơn

các trường hơp chỉnh già [46].

Đặc điểm của bệnh nhân sụp mi tuổi già là có nếp mi cao bất thường 57mm thậm chí cao hơn. Những trường hợp sụp mi và cao nếp mi cả 2 mắt

chúng tơi giải thích với bệnh nhân và điều chỉnh nếp mi về chiều cao bình

thường ở người châu Á từ 2 - 4 mm. Với những bệnh nhân khơng có nếp mi,

nếp mi ẩn (0 mm) hay nếp mi rất thấp 1 mm, chúng tơi khơng khâu tạo hình

nếp mi kết hợp mà chỉ khâu lại từng lớp riêng biệt tái tạo giải phẫu của mi

Theo Berke (1955) chức năng cơ nâng mi ảnh hưởng đến sự nâng lên

và hạ xuống của mi mắt sau mổ, chức năng cơ sau mổ tăng tỉ lệ thuận với

chức năng cơ trước mổ, các trường hợp chức năng cơ yếu sẽ không được cải

thiện sau mổ [47]. Theo Crawford (1987) chỉ có những mắt có chức năng cơ

trước mổ ở mức trung bình trở lên mới có sự cải thiện chức năng cơ sau mổ,

còn những mắt có chức năng cơ trước mổ kém nếu phẫu thuật tác động đến cơ

chỉ có tác dụng tạo nên sự mở của khe mi thích hợp khi mắt nhìn thẳng [48].

4.2.4. Liên quan giữa mức độ sụp mi trước mổ đến kết quả của phẫu thuật

Theo Berke (1958) yếu tố quyết định cuối cùng tới kết quả mổ sụp mi là

chức năng cơ nâng mi trên, khi chức năng cơ nâng mi là 11 mm thì mi sụp bị

điều chỉnh quá mức 0,3 mm nhưng khi chức năng cơ nâng mi trên là 2,5 mm

thì sau mổ mi trên phủ rìa giác mạc 4,5 mm, tác giả cũng khuyến cáo nên đánh

giá tốt chức năng cơ trước mổ có thể hạn chế bất cập trong can thiệp sụp mi

[49]. Berlin (1989) khi can thiệp cho hai nhóm biên độ cơ khác nhau xong có

cùng độ sụp mi cũng nhận thấy kết quả cao hơn ở nhóm biên độ cơ tốt, tác giả

cũng cho rằng biên độ cơ nâng mi trên là yếu tố quyết định đến kết quả điều trị

sụp mi [50]. Kim (2002) khi cắt ngắn cân cơ nâng mi cũng nhận thấy ảnh

hưởng rất rõ rệt của chức năng cơ nâng mi trên đến kết quả phẫu thuật [51].



63



Theo bảng 3.14. thì chúng tơi thấy, chức năng cơ nâng mi có ảnh hưởng

lớn đến kêt quả phẫu thuật. Khi chức năng cơ nâng mi yếu hầu như không có

cải thiện về động tác nâng lên của mi mắt và ngược lại nếu chức năng cơ nâng

tốt thì mi mắt được nâng lên đáng kể. Chức năng cơ nâng mi tốt thì mức độ

sụp mi nhẹ và kết quả phẫu thuật tốt và ngược lại.

Phân tích trên bảng 3.14.chúng tôi nhận thấy sụp mi độ 1 cho kết quả phẫu

thuật tốt có 14 trường hợp chiếm 70%, trung bình có 6 trường hợp chiếm 30%.

Khơng có kết quả kém với mức sụp mi độ 1 sau phẫu thuật. Sụp mi độ 2 cho kết

quả phẫu thuật tốt 40 trường hợp chiếm 66,7%, trung bình có19 chiếm 31,7%,

kém có 1 chiếm 1,65%. Sụp mi độ 3 kết quả phẫu thuật khơng có trường hợp tốt

và trung bình nào mà có 3 trường hợp đạt kết quả kém.

4.2.5. Tình trạng bờ mi

Theo bảng 3.16,chúng tôi nhận thấy tại thời điểm sau phẫu thuật 1 tuần

bờ mi cong đều khơng có trường hợp nào biến dạng tỷ lệ rất tốt 100%, tuy

nhiên vẫn còn hơi nề. Sau thời điểm 1 tháng thì có biến dạng bờ mi 3,6% và

đến 3 tháng tỷ lệ khơng có gì thay đổi. Đây là những trường hợp chảy máu

gây tụ máu sau phẫu thuật làm ảnh hưởng đến sự liền sẹo. Tuy nhiên chúng

tôi đã hướng dẫn bệnh nhân tra thuốc mỡ kháng sinh và massage nhẹ vùng

quanh mi nên sau khám lại đã khơng còn tình trạng biến dạng mi

4.2.6. Tình trạng thị lực sau mổ

Qua phân tích bảng 3.10 chúng tơi nhận thấy thị lực nhỏ hơn 20/20

(1/10) có 20 mắt chiếm 24,1%, thị lực 20/100 - 20/50 (2/10-4/10) có 41 mắt

chiếm 49,4%, thị lực trên 20/40 (5/10) có 22 mắt chiếm 26,5%. So sánh với

số liệu bảng 3.14 cho thấy thị lực trước phẫu thuật và sau phẫu thuật khơng có

sự thay đổi nhiều. Phẫu thuật sụp mi ở tuổi già ngoài vấn đề giải quyết về mặt

thẩm mỹ và chức năng còn là phẫu thuật để chuẩn bị cho một số phẫu thuật

khác đạt hiệu quả cao hơn như: đục thủy tinh thể, mộng …



64



4.2.7. Mức độ hài lòng của bệnh nhân

Đây là những nhận định chủ quan của bệnh nhân, chúng tơi khơng thiết

lập tiêu chuẩn đánh giá, nó bao gồm sự cảm nhận của bệnh nhân về quá trình

thăm khám, tư vấn của bác sĩ và kết quả phẫu thuật mà họ mong đợi.

Mức độ hài lòng hay khơng hài lòng của bệnh nhân cũng là kết quả

thành cơng một phần của phẫu thuật. Tỷ lệ bệnh nhân rất hài lòng và hài lòng

với kết quả phẫu thuật và khơng có nhu cầu phẫu thuật bổ sung, đạt yêu cầu

về thẩm mỹ và chức năng, được theo dõi sau 3 tháng trong nghiên cứu của

chúng tôi là 94 % (trong đó rất hài lòng có 52 trường hợp chiếm 62,7% và hài

lòng có 26 trường hợp chiếm 31,3%) và chấp nhận được là 5 trường hợp chiếm

6%. Điều này cho thấy việc thăm khám và tư vấn cho bệnh nhân trước phẫu

thuật cũng hết sức quan trọng, giúp bệnh nhân hiểu được tình trạng hiện tại của

mắt và khả năng đạt được sau phẫu thuật đạt đến mức độ nào. Tránh xảy ra hiện

tượng chênh lệch giữa kỳ vọng của bệnh nhân và kết quả có thể đạt được sau

phẫu thuật, điều đó có thể ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân.

4.3. Biến chứng của phẫu thuật

4.3.1. Biến chứng trong khi phẫu thuật

Xuất huyết

Theo bảng 3.17, tỷ lệ xuất huyết trong mổ của nghiên cứu là 12,0%.

Nghiên cứu cho thấy: về mặt giải phẫu cung cấp máu cho mi trên là một mạng

lưới mạch máu khá phong phú. Phần lớn mạch máu nuôi dưỡng mi trên được

tách ra từ cung động mạch trên sụn. Cung động mạch này nằm ở khoang giữa bờ

trên sụn mi, mặt trước cơ Müller và mặt sau cân của cơ nâng mi trên ra đến phía

ngồi khe mi. Khi xuất huyết xảy ra, chúng tôi dùng tăm bông chấm adrenalin ép

nhẹ lên bề mặt cân cơ nâng mi và cơ Müller khoảng 5 phút, và sau đó kiểm tra

nếu thấy máu khơng chảy tiếp tục tiến hành phẫu thuật bình thường. Nếu máu

vẫn không ngừng chảy dùng đốt điện với đầu đốt nhỏ để cầm máu. Nhưng biện

pháp này không nên lạm dụng vì nguy cơ gây tổn hại cân cơ nâng mi.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhận xét: có sự khác biệt về tỷ lệ, phân bố kết quả tốt, xấu giữa các nhóm mức độ sụp mi với p<0,05. Càng sụp mi nặng thì kết quả phẫu thuật càng kém.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×